Sinh năm 1945 - đúng mùa Thu lịch sử khi Bác Hồ đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh ra Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, cuộc đời của thương binh, CCB, doanh nhân Phạm Thanh Xuân như một khúc hát tiếp nối khí thế Cách mạng.
Tôi có dịp gặp ông tại Hội trường Bộ Quốc phòng, nhân dịp Tổng Bí thư Tô Lâm gặp mặt cán bộ lão thành cách mạng, người có công, gia đình chính sách tiêu biểu nhân kỷ niệm 50 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Dáng người nhỏ nhắn, nhưng ở tuổi 80, ông vẫn nhanh nhẹn đi lại, trò chuyện với đồng đội, ánh mắt sáng ngời, giọng nói dứt khoát, tự tin. Bên lề buổi gặp mặt, tôi đã có dịp được trò truyện cùng ông, nghe ông kể về cuộc đời mình.
Từ cậu bé sinh ra trên đất Hải Dương, thanh xuân của ông lăn lộn chiến đấu khắp các chiến trường Tây Nguyên ác liệt. Những năm tháng ấy, ông đối diện bom đạn và cả chất độc da cam mà kẻ thù gieo rắc nhằm hủy hoại sức khỏe, hủy diệt sự sống của nhân dân ta. Bước qua chiến tranh, ông trở về đời thường mang trên mình thương tật 77%, là thương binh hạng 2/4, nhiễm chất độc da cam 60%. Những tưởng, ông không thể gượng dậy với di chứng da cam hành hạ, nhiều đêm đau đớn đến quặn thắt. Nhưng ông đã “vượt lên chính mình”, trở thành một doanh nhân thành đạt, mang lại “mật ngọt” cho đời, tô thắm thêm phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ trong thời bình.
Thực hiện lời Bác Hồ từng căn dặn: “Thương binh tàn nhưng không phế”, ông Xuân chưa bao giờ cho phép mình buông xuôi. Nỗi đau thân thể không quật ngã được ý chí của người lính Cụ Hồ ấy. Về quê hương, ông cùng gia đình gây dựng kinh tế từ bàn tay trắng. Những ngày đầu gian khổ, nỗi lo “cơm áo, gạo tiền”, lại gánh thêm nỗi lo vết thương hành hạ, ông đã từng phải vật lộn với đủ nghề: trồng lúa, làm ruộng, đào ao thả cá... thế nhưng cuộc chiến chống đói nghèo của gia đình anh thương binh Phạm Thanh Xuân khi đó vẫn rất khốc liệt. Nhiều đêm vắt óc nghĩ kế sinh nhai, để rồi một ngày, người thương binh, người chồng và người cha trách nhiệm Phạm Thanh Xuân đi đến quyết định táo bạo, cùng vợ bồng bế đàn con thơ dại ngược lên vùng núi Lào Cai, tìm cuộc sống mới.
Đầu những năm 1990 của thế kỷ trước, vùng đất Bảo Hà đã cho người dân những vườn cây ăn quả đến mùa trái sai lúc lỉu. Bắt đầu là những vườn vải, vườn nhãn, mơ chua, rồi sâu hơn nữa trên các cánh rừng là hoa mỡ, hoa bồ đề mỗi bận xuân về nở hoa trắng xóa. Ngắm địa hình vườn bãi núi non ấy, tính đi tính lại, người thương binh Phạm Thanh Xuân quyết định khởi nghiệp bằng nghề nuôi ong lấy mật.
Nhưng nghề nuôi ong chẳng hề dễ dàng. Ông Xuân kể: “Khi đó, kinh nghiệm thiếu, việc tiếp cận thông tin không dễ như bây giờ nên 2 năm đầu, 100 đàn ong của gia đình gần như chết sạch. Vốn liếng đầu tư cũng theo bầy ong bay đi”. Không nản chí, gây dựng lại từ đầu, ông tìm đến những người nuôi ong mật có kinh nghiệm ở các địa phương khác học hỏi. Rồi mày mò sách báo tìm hiểu về kỹ thuật chăm sóc đàn ong. Cứ cần mẫn mày mò, năm 1996, đàn ong đã mang về cho gia đình ông Phạm Thanh Xuân những mùa mật ngọt.
Để theo đuổi giấc mơ làm giàu từ đàn ong mật, ông di cư theo đàn ong khắp mọi miền đất nước. Trong những cuộc di cư tìm hoa lấy mật ấy, tiếp xúc với nhiều người nuôi ong mật ở nhiều tỉnh, thành phố, ông Xuân đã quyết định chuyển đổi đàn ong nội của mình sang nuôi ong ngoại (giống ong Italia). Đây là một sự lựa chọn đúng đắn, giúp nghề nuôi ong của gia đình ông có những bước phát triển vượt bậc sau này. Kinh nghiệm nuôi ong được tích lũy dày theo tháng năm. Đàn ong ngoại của gia đình cũng tăng lên theo cấp số nhân. Từ vài chục đàn ong mật ban đầu, nhân lên hàng trăm đàn...
Và sau hơn 30 năm, đến nay, gia đình ông Xuân đã sở hữu gần 1.000 đàn ong mật. Bình quân mỗi năm, gia đình ông thu được từ 25-30 tấn mật ong nguyên chất. Để mật ong đảm bảo tính cạnh tranh, sản phẩm phải có nguồn gốc, thương hiệu rõ ràng, năm 2009, ông quyết định thành lập Công ty Phát triển Ong miền núi Thanh Xuân. Sự đầu tư tâm huyết đã giúp sản phẩm của công ty ông ngày càng nổi tiếng. Mật ong Thanh Xuân đã đạt chuẩn OCOP 4 sao. Những sản phẩm chủ lực của Công ty như: Mật ong nguyên chất; mật ong phấn hoa sữa ong chúa; phấn hoa và sữa ong chúa... liên tiếp được công nhận sản phẩm nông nghiệp chất lượng vàng Việt Nam, được tiêu thụ rộng rãi khắp cả nước. Trở thành tỷ phú nhờ nghề nuôi ong, được những người cùng nghề tôn làm “Vua ong miền núi” người thương binh Phạm Thanh Xuân không khỏi tự hào bởi ông đã lựa chọn đúng hướng phát triển kinh tế, làm giàu của gia đình mình.
Không chỉ nuôi ong, ông Xuân còn thành lập Hợp tác xã Nông nghiệp Thanh Phong, nuôi bò sinh sản, trồng rừng, gieo ươm hàng trăm vạn cây quế giống. Mỗi năm, Hợp tác xã xuất từ 80-100 vạn cây giống phục vụ nhân dân phát triển kinh tế lâm nghiệp. Từ một thương binh nghèo khó, ông vươn lên trở thành giám đốc công ty, chủ nhiệm Hợp tác xã, đưa kinh tế gia đình khấm khá, nhà cửa khang trang. Câu chuyện đời ông như minh chứng sống động cho chân lý “lửa thử vàng, gian nan thử sức”.
Khi cuộc sống không còn bị ràng buộc, quay quắt bởi nỗi lo “cơm áo gạo tiền”, là người lính già, thương binh Phạm Thanh Xuân nghĩ đến việc nhường cơm, sẻ áo cho những đồng đội, thương bệnh binh có cuộc sống khó khăn vất vả hơn mình, giúp họ vươn lên. Nhiều hội viên CCB đã được ông hỗ trợ kỹ thuật, vốn liếng, để cùng nhau lập nghiệp từ nghề ong, thoát nghèo bền vững. Ông quan niệm: “Một cây làm chẳng nên non, ba cây chụm lại nên hòn núi cao” nên luôn coi thành công phải gắn với sự lan tỏa cộng đồng.
Trong phong trào “Đền ơn đáp nghĩa”, ông là người đi đầu. Từ sản phẩm ong, từ lợi nhuận của Hợp tác xã, ông đã trao hàng trăm suất quà cho thương binh, bệnh binh, Bà Mẹ Việt Nam Anh hùng ở Lào Cai, Hải Dương. Ông hỗ trợ hàng chục triệu đồng, tặng hàng vạn cây giống cho bà con nghèo. Đó không chỉ là nghĩa cử tình thương, mà còn là lời tri ân sâu nặng “Uống nước nhớ nguồn” mà ông và gia đình gìn giữ.
Những cống hiến ấy đã được Đảng, Nhà nước ghi nhận, tặng thưởng 3 Huân chương Lao động hạng Nhất, Nhì, Ba; 2 Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ; nhiều Bằng khen của các bộ, ban, ngành, địa phương... Nhưng với ông, phần thưởng cao quý nhất chính là niềm tin của nhân dân, là nụ cười hạnh phúc của đồng đội khi vươn lên từ gian khó.
Ở tuổi 80, vóc dáng nhỏ bé, chỉ còn một cánh tay, nhưng ông vẫn say sưa với đàn ong, vẫn miệt mài gieo cây giống, vẫn trực tiếp điều hành Hợp tác xã. Ông ví mình như con ong thợ “cần cù chịu khó, góp mật ngọt cho đời”. Mỗi giọt mật ong không chỉ là kết tinh từ hoa rừng, mà còn là kết tinh của mồ hôi, ý chí và cả máu xương của người lính già.
Câu chuyện đời ông Phạm Thanh Xuân khẳng định một điều giản dị nhưng sâu sắc: Nghị lực của con người Việt Nam là vô tận. Bom đạn có thể hủy hoại thân thể, chất độc da cam có thể bào mòn sức khỏe nhưng không thể khuất phục được ý chí kiên cường, khát vọng sống đẹp, sống có ích. Từ người thương binh tàn tật, ông trở thành một doanh nhân thành đạt, một “người gieo mật ngọt” giữa đời thường.
Trong Ngày Quốc khánh 2-9, khi cả dân tộc hân hoan kỷ niệm 80 năm độc lập, cũng là khi ông bước vào tuổi 80. Ông như một mảnh ghép của lịch sử, sinh ra cùng thời khắc dân tộc khai sinh độc lập, trưởng thành trong lửa đạn chiến tranh và nay tiếp tục viết nên trang mới bằng lao động và sáng tạo.
Nhìn lại chặng đường, ông Xuân tâm sự: “Tôi luôn tâm niệm, còn sống là còn cống hiến. Đồng đội nhiều người đã ngã xuống, tôi phải sống sao cho xứng đáng. Ong làm mật chẳng bao giờ nghĩ cho mình, chỉ biết dâng mật ngọt cho đời. Người lính cũng vậy, sống là để hiến dâng”.
Và quả thật, “mật ngọt” mà ông mang lại không chỉ là những lít mật ong tinh khiết, mà còn là bài học về nghị lực, ý chí và tấm lòng nhân hậu. Đó là tài sản vô giá mà ông để lại cho con cháu, cho quê hương, cho đất nước.