Không chỉ là bệnh của tuổi già, suy tim đang ngày càng xuất hiện ở nhiều độ tuổi, âm thầm đe dọa sức khỏe cộng đồng. Trong cuộc trò chuyện với phóng viên Báo CCB Việt Nam, Tiến sĩ Vũ Quỳnh Nga - Phó giám đốc Bệnh viện Tim Hà Nội đã chia sẻ những kiến thức chuyên môn, giúp người đọc nhận diện sớm và kiểm soát hiệu quả căn bệnh nguy hiểm này.
PV: Thưa bác sĩ bệnh suy tim là gì và tại sao căn bệnh này lại nguy hiểm?
TS. Vũ Quỳnh Nga: Nhiệm vụ của quả tim trong hệ tuần hoàn hoạt động như một cái bơm để bơm máu đi đến hệ thống các động mạch trong cơ thể, giúp nuôi toàn bộ các cơ quan. Suy tim là khi chức năng bơm của tim bị suy giảm, và thường là giai đoạn cuối của tất cả các bệnh lý tim mạch. Suy tim có thể do khả năng bóp của cơ tim kém còn gọi là suy bơm, hoặc do khả năng giãn ra của tim để hút máu về.
Khi bệnh nhân bị suy tim sẽ làm giảm cung cấp máu đến các cơ quan trong cơ thể, không đảm bảo đủ cung lượng máu cho tim trong hoạt động bình thường hoặc trong hoạt động gắng sức. Do đó, nó sẽ gây các biểu hiện như ứ dịch hoặc giảm tưới máu mô. Các biểu hiện của ứ dịch có thể là phù hoặc khó thở ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của người bệnh. Giảm tưới máu mô gây tình trạng lú lẫn, mệt mỏi kéo dài. Đặc biệt, căn bệnh này dẫn đến suy tim giai đoạn cuối và giảm kỳ vọng sống của con người, nghiêm trọng hơn bệnh nhân suy tim còn có nguy cơ bị đột tử dẫn đến tử vong bất thình lình.
PV: Nguyên nhân chính gây ra bệnh suy tim là gì và người bệnh suy tim phải đối mặt với những biến chứng nguy hiểm nào thưa bác sĩ?
TS. Vũ Quỳnh Nga: Suy tim là giai đoạn cuối của tất cả các bệnh lý tim mạch, do đó tất cả các bệnh lý về hệ tuần hoàn hoặc là tim đều có thể dẫn đến suy tim. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến suy tim. Tăng huyết áp làm ảnh hưởng đến chức năng cực của cơ tim, dẫn đến suy tim. Ngoài ra, tăng huyết áp cũng có thể dẫn đến bệnh lý tim mạch do xơ vữa, bệnh lý mạch vành hoặc nhồi máu cơ tim cũng có thể dẫn đến suy tim.
Nguyên nhân thường gặp nhất hiện nay của suy tim là bệnh lý mạch vành. Tại Việt Nam cũng như trên thế giới, tỷ lệ bệnh mạch vành ngày càng gia tăng. Đi kèm với hậu quả của nó là nếu bệnh nhân bị nhồi máu cơ tim hoặc những tổn thương mãn tính của bệnh mạch vành gây giảm tưới máu cơ tim cũng dẫn đến tình trạng giảm co bóp của cơ tim. Hoặc các bệnh lý của van tim hậu thấp hoặc thoái hóa như hẹp hoặc hở van hai lá, hẹp hoặc hở van động chủ, cũng có thể dẫn đến suy tim. Một số bệnh lý chuyển hóa như đái tháo đường, rối loạn lipid máu cũng có thể dẫn đến các bệnh lý xơ vữa động mạch, bệnh lý mạch vành và suy tim.
Bên cạnh đó, viêm cơ tim, có thể do virus hoặc có thể do nhiễm trùng, nhiễm độc cũng có thể dẫn đến tình trạng suy tim. Trường hợp rối loạn nhịp kéo dài, rối loạn nhịp nhĩ, nhịp thất nhanh hoặc nhịp chậm do bloc nhĩ thất cũng có thể dẫn đến tình trạng suy tim. Bệnh lý của bên tim phải như bệnh lý của phổi, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính dẫn đến tình trạng tâm phế mãn cũng là nguyên nhân dẫn đến suy tim.
Những biến chứng nghiêm trọng của suy tim là tình trạng giảm tưới máu cho cơ thể, gây lên những triệu chứng như khó thở, phù, giảm khả năng gắng sức và nặng nhất là dẫn đến tình trạng bệnh nhân bị suy tim giai đoạn cuối, có thể tử vong hoặc bị tình trạng rối loạn nhịp như rung nhĩ, nhanh thất hoặc rung thất, bệnh nhân có thể bị ngừng tim hoặc đột tử.
PV: Thưa bác sĩ, hiện nay tỷ lệ mắc bệnh suy tim tại Việt Nam có xu hướng ra sao?
TS. Vũ Quỳnh Nga: Tỷ lệ mắc suy tim ở Việt Nam cũng như trên thế giới hiện nay có xu hướng gia tăng. Ở Việt Nam chưa có con số cụ thể nhưng ở nước ngoài có khoảng 1-2% dân số bị suy tim. Trước đây người dân bị bệnh lý tim mạch thì hầu như tử vong nhưng hiện nay mình có nhiều phương pháp điều trị hiện đại giúp người bệnh sống được nhưng hậu quả là tình trạng suy tim. Tại Việt Nam, nếu ước tính tỷ lệ 1-2% có từ 80 triệu - 160 triệu người bị mắc suy tim.
PV: Những nhóm đối tượng nào có nguy cơ cao nhất mắc bệnh suy tim thưa bác sĩ?
TS. Vũ Quỳnh Nga: Hiện nay, tỷ lệ bệnh nhân mắc bệnh mạch vành dẫn đến suy tim rất cao. Theo Hội Tim mạch Hoa Kỳ, có 4 giai đoạn là A, B, C, D. Trong đó, A là tiền suy tim, là khi người bệnh có các yếu tố nguy cơ của suy tim, bao gồm tuổi cao, có bệnh lý mắc kèm như tiểu đường, tăng huyết áp, thừa cân béo phì, hút thuốc lá, rối loạn lipid máu... đều dẫn đến bệnh lý tim mạch do xơ vữa. Nó dẫn đến tổn thương xơ vữa của mạch vành, dẫn đến nhồi máu cơ tim và bệnh mạch vành mãn tính nếu không điều trị kịp thời sẽ dẫn đến tình trạng suy tim. Bên cạnh đó, còn có tình trạng thấp tim, gây tổn thương các van tim như van hai lá, van động mạch chủ cũng có thể dẫn đến tình trạng suy tim. Để phòng được bệnh suy tim thì phải phát hiện sớm và điều trị tất cả những nguy cơ tim mạch nói trên.
PV: Bác sĩ có thể chia sẻ các dấu hiệu sớm giúp người dân nhận biết bệnh suy tim?
TS. Vũ Quỳnh Nga: Người bị suy tim sẽ có hai biểu hiện, một là ứ dịch ở ngoại vi do tim không đưa máu đi ra được, có thể ứ dịch ở phổi gây tình trạng khó thở, có thể khó thở tăng dần hoặc cơn khó thở cấp, những cơn khó thở kịch phát về đêm (bệnh nhân đang nằm khó thở dữ dội phải ngồi dậy mới thở được), một số cơn phù phổi cấp hoặc hen tim, hoặc ứ dịch ở mạch hệ thống gây lên tình trạng phù, có thể là phù chân, phù mặt, cổ chướng, gan to.
Dấu hiệu thứ hai của suy tim là dấu hiệu của giảm tưới máu mô, giảm tưới máu mô khiến bệnh nhân giảm trí tuệ, mệt mỏi kéo dài, huyết áp thấp. Tất cả các dấu hiệu này có thể giao thoa với các bệnh lý khác, đây chỉ là những dấu hiệu báo hiệu nghi ngờ, khi có những dấu hiệu trên người dân nên đi khám ở các bệnh viện chuyên khoa để bác sĩ có thêm các xét nghiệm để thăm dò xem bệnh nhân có bị suy tim hay không, suy tim ở mức độ nào để có phác đồ điều trị phù hợp.
PV: Thưa bác sĩ, người dân nên đi khám khi nào để phát hiện kịp thời bệnh suy tim. Hiện nay có những phương pháp điều trị suy tim nào thưa bác sĩ?
TS. Vũ Quỳnh Nga: Nếu hoàn toàn khỏe mạnh mà trên 40 tuổi thì người dân nên đi khám định kỳ để có thể phát hiện sớm các rối loạn về chuyển hóa như tăng huyết áp, đái tháo đường, rối loạn cholesterol máu hay không để điều trị các yếu tố nguy cơ. Nếu bệnh nhân có các bệnh lý nguy cơ của suy tim như tăng huyết áp, tiểu đường, hút thuốc lá, thừa cân, béo phì hoặc trong gia đình có người mắc bệnh tim mạch sớm thì nên đi khám sớm hơn. Nên bỏ tất cả các thói quen xấu có hại như hút thuốc lá, thừa cân béo phì... để ngăn cản tiến triển giai đoạn nặng hơn của bệnh là suy tim.
Nếu chưa có bệnh thì người dân nên đi khám định kỳ để tầm soát, nếu có bệnh rồi thì bệnh nhân phải tuân thủ lịch hẹn tái khám của bác sĩ, không tự ý bỏ thuốc vì bỏ thuốc sẽ dẫn đến biến chứng rất nguy hiểm.
Về phương pháp điều trị suy tim, có hai phương pháp là phương pháp không dùng thuốc và các thuốc điều trị suy tim cùng các kỹ thuật thủ thuật hoặc phẫu thuật để điều trị suy tim. Phương pháp không dùng thuốc ít tốn kém như ăn ít để giảm béo phì, chế độ ăn nhạt nếu bệnh nhân tăng huyết áp, giảm cholesterol, tăng cường vận động phù hợp với sức khỏe, hạn chế uống rượu...
Với phương pháp dùng thuốc điều trị suy tim, có 4 nhóm chính để điều trị suy tim là nhóm kháng Renin - Angiotensin - Aldosterone System (RAAS); Chẹn Beta; Kháng Aldosteron; Ức chế SGLT2. Ngoài ra, có một số thuốc để điều trị bệnh lý mắc kèm như bệnh cao huyết áp sẽ dùng một số loại để khống chế cao huyết áp hoặc rối loạn lipid máu, bệnh lý mạch vành, bệnh xơ vữa, bệnh tiểu đường... phải điều trị để khống chế các bệnh lý mắc kèm để có kết quả điều trị tốt nhất.
Bên cạnh đó, còn có các thủ thuật điều trị suy tim. Ví dụ, nếu bệnh nhân mất đồng bộ cơ tim sẽ có những cái máy tạo nhịp để tái đồng bộ cơ tim hoặc bệnh nhân bị rối loạn nhịp sẽ được đốt bằng sóng radio cao tần để điều trị các rối loạn nhịp nhanh hoặc đặt máy tạo nhịp để xử lý loạn nhịp chậm nếu có chỉ định. Các phương pháp can thiệp cũng được chỉ định, như nong và đạt stent động mạch vành, van tim hoặc thay van qua da khi có chỉ định. Và các phương pháp điều trị phẫu thuật như thay van tim nếu như bệnh nhân có các bệnh lý nguyên nhân do hẹp hở van tim nặng, van tổn thương nặng không thể bảo tồn, hoặc mổ để bắc cầu mạch vành. Cuối cùng nếu bệnh nhân suy tim rất nặng thì có thể sẽ được chỉ định ghép tim.
Bệnh nhân suy tim phải vận động đều hàng ngày trong khả năng sức khỏe của mình, ăn nhạt. Người bệnh có thể sử dụng thêm các gia vị như rau thơm, mùi, gừng để tăng vị giác khi chế độ ăn nhạt gây mất vị giác. Cần kiểm tra định kỳ để điều chỉnh thuốc cho phù hợp với từng giai đoạn bệnh. Cũng cần chú ý là nên định kỳ tái khám và xét nghiệm theo chỉ định của bác sĩ để đánh giá tiến triển của bệnh cũng như các tác dụng phụ không mong muốn của các thuốc điều trị.
PV: Xin trân trọng cảm ơn bác sĩ!