Logo-print CƠ QUAN CỦA TRUNG ƯƠNG HỘI - TIẾNG NÓI CỦA CỰU CHIẾN BINH VIỆT NAM

Đại tá - AHLLVTND Nguyễn Văn Tàu: “Cuốn lịch sử sống” gửi trao thế hệ mai sau

Thực hiện: Vĩnh Hy - K’ Liệp 30/04/2026 - 15:16

Khi nhắc đến Đại tá, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Nguyễn Văn Tàu (Tư Cang), nhà tình báo chiến lược của Quân đội nhân dân Việt Nam, nhiều người không chỉ nhớ đến một “huyền thoại” thầm lặng, mà còn xem ông như một “cuốn lịch sử sống” – nơi lưu giữ ký ức chân thực về những năm tháng chiến tranh gian khổ mà hào hùng của dân tộc.

Từ người lính tầm vông đến “huyền thoại” tình báo

Trong những ngày tháng Tư lịch sử, chúng tôi có dịp gặp lại vị Cụm trưởng H63 năm xưa, nguyên Chính ủy Lữ đoàn Đặc công Biệt động 316. Trong không khí lắng đọng, ông chậm rãi kể lại hành trình cách mạng của mình – một hành trình gắn với những bước ngoặt lớn lao của dân tộc.

z7777928439474_dd1291622ee6ce5c67444186f91d3842-1353

Đại tá - AHLLVTND Nguyễn Văn Tàu - “huyền thoại” sống của Quân đội nhân dân Việt Nam. Ảnh: Vĩnh Hy.

Ở tuổi gần tròn một thế kỷ, ông vẫn minh mẫn, nhớ rõ từng thời khắc của cuộc kháng chiến trường kỳ, đặc biệt là ngày 30/4/1975 – dấu mốc thiêng liêng của dân tộc. Những ký ức ấy không chỉ là lịch sử, mà còn là minh chứng sống động cho ý chí kiên cường của một thế hệ.

Sinh ra trong bối cảnh đất nước bị xâm lược, từ rất sớm, ông đã mang trong mình lòng yêu nước và ý chí đấu tranh. Năm 1947, tại quê hương Long Phước, người thanh niên Nguyễn Văn Tàu tham gia cách mạng. Nhận thấy phẩm chất kiên trung, mưu trí, tổ chức đã giao cho ông hoạt động tình báo bí mật tại Sài Gòn – một nhiệm vụ đặc biệt nguy hiểm.

z7777928431315_45adb9d713ad1bb76ab2d5b461f15be4-1353

 Đại tá Nguyễn Văn Tàu lúc trẻ, thời điểm tham gia cách mạng. Ảnh: Tư Liệu 

Ông nhớ lại: “17 tuổi, tôi cùng nhân dân cầm tầm vông đứng lên giành chính quyền. 19 tuổi, tôi thoát ly gia đình, theo Việt Minh, để lại người vợ trẻ đang mang thai”. Lời kể giản dị nhưng khắc họa rõ hình ảnh một thế hệ sẵn sàng hy sinh hạnh phúc riêng vì độc lập, tự do của Tổ quốc.

Sau Hiệp định Geneva năm 1954, ông tập kết ra Bắc, rồi được điều vào ngành tình báo. Cuối năm 1961, ông trở lại miền Nam. Tháng 4/1962, tại chiến khu Dương Minh Châu, ông chỉ huy Cụm tình báo H63, trực tiếp phục vụ hoạt động của điệp viên chiến lược Phạm Xuân Ẩn. Trong điều kiện hoạt động bí mật, ông nhiều lần vào nội đô, đối mặt hiểm nguy, luôn sẵn sàng hy sinh.

Sau Tết Mậu Thân 1968, ông đảm nhiệm Phó Chính ủy Phòng Tình báo Miền, rồi Chính ủy Lữ đoàn Biệt động 316, trực tiếp tham gia Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. Mùa Xuân 1975, đơn vị ông được giao nhiệm vụ tiến công các mục tiêu trọng yếu, giữ các cây cầu chiến lược, mở đường cho lực lượng chủ lực tiến vào Sài Gòn.

z7777928429496_06bcd08ece8422eb5a501d4b0f0f77ee-1355

 Ông Tư Cang (hàng trên, thứ 2 từ phải qua) trong buổi mít-tinh mừng ngày toàn thắng 30-4-1975 trước dinh Thống Nhất. Ảnh: Tư Liệu.

Trận giữ cầu Rạch Chiếc là một dấu ấn bi tráng. Dù chịu nhiều tổn thất, 52 cán bộ, chiến sĩ đã anh dũng hy sinh, đơn vị vẫn giữ vững trận địa, bảo đảm cho chiến dịch diễn ra đúng kế hoạch. Đó là ký ức không thể nào quên đối với người chỉ huy.

Ngày đất nước hoàn toàn giải phóng, giữa giờ phút lịch sử, điều ông nghĩ đến đầu tiên là gia đình. Khoảnh khắc ấy khép lại “cuộc đời ẩn” của một chiến sĩ tình báo, đánh dấu sự trở về của người lính sau những năm tháng cống hiến thầm lặng.

Từ chiến trường thầm lặng đến “cuốn lịch sử sống” thời bình

Sau năm 1975, ông tiếp tục chỉ huy Lữ đoàn 316 làm nhiệm vụ quốc tế tại Campuchia. Do thương tích chiến tranh, ông phải rời xa chiến trường với tỷ lệ thương tật 2/4. Dẫu vậy, tinh thần người lính trong ông vẫn vẹn nguyên.

Ở bất cứ cương vị nào, ông cũng hoàn thành tốt nhiệm vụ, giữ trọn phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ. Khi nghỉ hưu, ông tiếp tục đóng góp bằng con đường viết lách. Nhiều tác phẩm như Tình báo kể chuyện, Sài Gòn Mậu Thân 1968, Trái tim người lính, Hoàng hôn trên chiến trường, Bến Dược vùng đất lửa, Nước mắt ngày gặp mặt… đã ra đời, tái hiện chân thực một thời khói lửa.

z7777928402619_0f7ab79683726db0fee76e40fe4fb3b7-1357
Đại tá Nguyễn Văn Tàu trong ngày họp mặt kỷ niệm Phòng Tình Báo Miền. Ảnh: Vĩnh Hy.

Ông chia sẻ: “Viết để kể lại không chỉ cuộc đời mình, mà còn là ký ức của đồng đội, của cả dân tộc; để thế hệ trẻ hiểu hơn giá trị của độc lập, hòa bình – những điều được đánh đổi bằng máu xương”.

Không chỉ viết, ông còn thường xuyên gặp gỡ, nói chuyện với học sinh, sinh viên, kể lại những năm tháng chiến đấu, góp phần bồi đắp lòng yêu nước và trách nhiệm công dân. Đồng thời, ông tích cực tham gia các hoạt động nghĩa tình, giúp đỡ đồng chí, đồng đội gặp khó khăn.

Trải qua gần trọn một thế kỷ, với lòng yêu nước và niềm tin son sắt vào Đảng, ông thấu hiểu sâu sắc giá trị của độc lập, hòa bình. Ở tuổi 98, ký ức về những năm tháng chiến tranh vẫn vẹn nguyên. Với thế hệ trẻ, ông thực sự là một “cuốn lịch sử sống”.

z7777928430112_ff6ac1d95590eea9c5a40e525391097c-1358
Tuổi 98, ông Tư Cang vẫn thường ngồi kể lại những năm tháng lịch sử và dặn dò thế hệ trẻ về lòng yêu nước. Ảnh: Vĩnh Hy.

Ông nhắn nhủ: “Từ khi Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập đến nay, nhiều thế hệ đã hy sinh vì Tổ quốc. Vì vậy, lớp trẻ cần trân trọng, gìn giữ và phát huy thành quả ấy; ra sức học tập, rèn luyện, góp phần xây dựng đất nước”.

Theo ông, lịch sử là nền tảng để mỗi người nuôi dưỡng niềm tự hào dân tộc và vững bước đi tới tương lai. Và hôm nay, hình ảnh người đại tá năm xưa vẫn cần mẫn kể chuyện lịch sử – trong những buổi gặp gỡ, những dịp trọng đại – như một nhịp cầu nối quá khứ với hiện tại, truyền lửa cho thế hệ mai sau.

Dấu ấn máu xương, trách nhiệm hôm nay

Hòa bình không phải là điều tự nhiên mà có. Đó là kết tinh của máu xương, của ý chí và niềm tin qua nhiều thế hệ. Nhớ lịch sử không chỉ để tự hào, mà để sống xứng đáng hơn với những hy sinh đã làm nên Tổ quốc hôm nay.

 

Đọc tiếp

Mới nhất

Đại tá - AHLLVTND Nguyễn Văn Tàu: “Cuốn lịch sử sống” gửi trao thế hệ mai sau