CƠ QUAN CỦA TRUNG ƯƠNG HỘI - TIẾNG NÓI CỦA CỰU CHIẾN BINH VIỆT NAM “Vĩ Thanh” của một bài thơ
Khi bài thơ trên ra đời, nhiều bạn khen bài thơ hay! Tôi xin cảm tạ!
Chị tôi
(Kính tặng chị Lưu Thị Hồng Xa - vợ của liệt sĩ Đỗ Trung Cẩn)
| Anh tôi đi mãi không về Không ai giải được lời thề chị tôi Chị tôi giờ hết duyên rồi Bao năm chỉ thấy gió trời trên cao Bao năm chỉ những ra vào Bao năm sáo chả lần nào sang sông Đợi anh chẳng thấy vân mồng Thôi còn biết gửi tơ lòng vào ai Khi trăng lặn lúc sương mai Một mình một ngõ, lấy ai chuyện trò Vàng xanh như cỏ đầu bờ Cỏ còn đợi nước, chị chờ gì đâu | Sông sâu mà giếng cũng sâu Cau già đã đốn, giàn trầu đã khô Rèm thưa trúc sót đung đưa Trúc rơi từng đốt, người chưa gặp người Chị tôi giờ hết duyên rồi Gốc hồng cũng chẳng được ngồi hái hoa Năm đi qua, tháng đi qua Chị trôi trong ấy như là trong mơ Đời người thế cũng xong ư Đầu xanh mà đã “ba thu một ngày” Nói chi đến chuyện hao gầy Chị tôi đã chết từ ngày anh đi! |
Nhưng thực ra, chưa một bài thơ nào “hay”, “lớn” hoặc “cao” hơn cuộc sống. Chỉ là, cuộc sống không tự nói ra được nên phải “nhờ” các nhà thơ nói giúp một phần thôi!
Để tôi kể nốt chuyện quanh bài thơ của tôi cho các bạn nghe!
Trước khi anh tôi nhập ngũ và đi chiến trường (1965), anh chị tôi đã có một cháu gái. Cháu tên là Hồng Vân - “Mây Hồng”. “Mây Hồng” được sinh ra ở trạm xá xã nhà (Xã Phùng Xá, huyện Mỹ Đức, tỉnh Hà Đông cũ, nay là Hà Nội). Không biết do trời hay do y học thời ấy kém, mà khi đang tắm sơ sinh, cháu tím bầm và bất tỉnh. Gia đình phải đưa gấp cháu qua sông Đáy, sang Bệnh viện Vân Đình (lá cờ đầu của ngành y tế miền Bắc lúc đó), cháu được làm sống lại. Nhưng hỡi ôi! Từ đó, cháu chỉ còn biết cười. Cháu không biết nói, không biết ngồi, không biết đi suốt 21 năm cháu sống ở trên đời! Năm 1982, cháu mất!
21 năm ấy, “Mây Hồng” chưa một ngày được làm người lành lặn! 21 năm ấy, chị tôi chưa được một ngày làm người mẹ hạnh phúc! 21 năm ấy, nước mắt chị tôi đong bằng gì đây? Là út, tôi học đại học rồi cũng nhập ngũ nốt (năm 1972). Trước đó, bốn anh tôi đều đã nhập ngũ, anh cả tôi đi từ thời chống Pháp; anh Cẩn (bố cháu Mây Hồng) thì hy sinh ở Tây Nguyên năm 1971.
Cha mẹ tôi ngày một già yếu. Chị tôi xin phép ra ở riêng cùng cháu “Mây Hồng”. Mọi người giúp chị cất một căn nhà nhỏ, cách căn nhà cũ của chúng tôi chỉ vài ba mảnh vườn - chị vẫn dễ về thăm cha mẹ tôi và ngược lại, cha mẹ tôi cũng dễ qua thăm chị và cháu.
Một lần tôi về phép, nghe làng xóm mách rằng, có một người làng, đã có vợ con, gần đây hay đến nhà chị tôi “nhiều hơn bình thường”. Lại còn mách rõ, tối nay, ông ta sẽ tới nhà chị tôi!
Chập tối hôm ấy, mặc bộ quân phục Tô Châu, đeo gọn chiếc xanh-tuya-rông lính với con dao găm Hung-ga-ry bên người, tôi lặng lẽ ẩn trong vườn dong giềng sau nhà chị tôi. Giận dữ, đau đớn ngập người! May mà tối hôm ấy, ông ta không tới.
Hết phép, tôi lạy cha mẹ, trở về đơn vị. Cha tôi đi cùng tôi ra cổng. Người cầm tay tôi và khẽ khàng:
- Từ nay, đừng làm thế! Có giời, có Phật, có người, con ạ!
Hóa ra cha tôi biết hết! Tôi chỉ còn biết “Vâng!” trong nước mắt và chạy đi.
Rồi một ngày, chị tôi đưa con trai mình lên nhà chúng tôi. Cha tôi ngồi trên sập, trước ban thờ. Mẹ tôi ngồi trên chiếc ghế tựa bên sập. Chị tôi quỳ xuống và thưa trong nước mắt:
- Ông bà ơi! Con thì coi như bỏ đi rồi. Con chỉ xin ông bà cho cháu mang họ Đỗ Trung!
Cả nhà đứng lặng ngắt. Rồi cha tôi cất lời:
- Đứng lên con! Còn ai khổ hơn con nữa! Ừ, cháu nó mang họ ta!
Từ đó, hai nhà lại là một. Cháu Đỗ Trung Quyết của chị tôi lớn lên, hiếu thảo, mạnh mẽ, hiểu lẽ phải. Cháu cùng mẹ luôn hương khói trên ban thờ liệt sĩ Đỗ Trung Cẩn mà cháu coi như cha đẻ. Cháu chăm sóc chị tôi hết sức chu đáo, cho đến khi chị tôi mất. Cháu cũng luôn hương khói và chăm sóc phần mộ cho chị “Mây Hồng” của cháu. Anh chị em tôi cũng đến UBND xã, làm văn bản, đề nghị xã chứng nhận, cháu Đỗ Trung Quyết là con trai của liệt sĩ Đỗ Trung Cẩn, chính danh. Giờ vẫn thế và mãi mãi là thế.
Đọc tiếp
- “Tôi đi rồi giả thử có về được đến nhà thì có vợ có chồng nuôi con, khi tôi không về nữa thì bà cố gắng ở lại...
- Có những lời tri ân không cần cất thành tiếng. Chúng được gửi vào từng nét cọ, từng lớp màu, từng bông hoa nở giữa...
- Sáng 24-7, tại Hà Nội, Quỹ Thúc đẩy hợp tác Nga - Việt “Truyền thống và hữu nghị” phối hợp với Thư viện Quân...
- Không chỉ nhận diện những giá trị làm nên bản sắc văn hóa Huế, các nhà khoa học còn đề xuất nhiều giải pháp xây...
Mới nhất
- Nửa thế kỷ đã trôi qua kể từ ngày ngọn lửa bom napan thiêu cháy chiếc xe trên tuyến đường Trường Sơn, những vết sẹo...
- Hoa Thường là tên thường gọi của CCB Nguyễn Thủ Thường, Giám đốc Công ty TNHH Hoa Thường, có địa chỉ tại tòa nhà 7...
- Xuất phát từ vị trí, vai trò đặc thù của Quân đội, pháp luật Việt Nam từ trước đến nay luôn xác lập một hệ thống...
- CCB, thương binh Dương Ngọc Môn, ở khu phố 3, phường Quảng Trị, tỉnh Quảng Trị từng là lính lái xe Trường Sơn trong...
- Khi còn là chiến sĩ cùng đại đội chúng tôi, anh em thường hay trêu đùa gọi Trần Minh Sung là “Sung con gái”. Bởi anh có...
- Mọi sự giúp đỡ xin gửi về: Ông Phạm Ngọc Ưng, tổ dân phố Sơn Lợi, phường Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Mọi thông tin xin...
- Trong không khí cả nước đang đẩy mạnh các hoạt động tri ân kỷ niệm 79 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ (27.7.1947 -...
- Đoàn công tác Ban Chỉ đạo 515 Quân khu 9 vừa phối hợp với Ban Chuyên trách hai tỉnh Kampong Chhnang và Kandal (Campuchia) bàn giao,...
- Từ những thông tin trên, mong đồng đội, CCB, CQN và nhân dân biết phần mộ Liệt sĩ Hà Văn Binh, xin báo cho ông Hà Văn Xuân, khu...
- Các Cựu chiến binh và nhân dân, ai có thông tin về phần mộ của Liệt sĩ Vũ Phú Kim ở đâu, xin báo tin cho tôi là Vũ Phú Tuyến,...
- Hơn nửa thế kỷ sau ngày đất nước thống nhất, hàng trăm nghìn hài cốt liệt sĩ vẫn còn nằm lại trên khắp các chiến...
- Ký ức về trận đánh căn cứ Động Tòa năm 1968 và sự hy sinh của những đồng đội vẫn luôn đau đáu trong tâm trí CCB Lê...

















