Logo-print CƠ QUAN CỦA TRUNG ƯƠNG HỘI - TIẾNG NÓI CỦA CỰU CHIẾN BINH VIỆT NAM

VỤ ÁN “TRƯƠNG VUI VÀ CÁC ĐỒNG PHẠM”

Vì sao Upexim vẫn phải gánh hậu quả pháp lý của khoản vay 110 tỷ đồng?

TƯ HOÀNH 30/07/2026 - 08:43

Hai doanh nghiệp vay Agribank Chi nhánh Sài Gòn tổng cộng 110 tỷ đồng, nhưng tài sản bảo đảm lại là nhà đất số 4-6 Hồ Tùng Mậu đứng tên Công ty Upexim. Bản án phúc thẩm số 929 không chấp nhận yêu cầu của Agribank về việc phát mại ngay tài sản, đồng thời xác định quan hệ tín dụng và thế chấp phải được giải quyết trong một vụ án khác. Tuy nhiên, 50% nhà đất thuộc Upexim vẫn tiếp tục bị kê biên. Căn cứ nào để duy trì tình trạng pháp lý này?

dien-dan-ccb-1655-2-0839
Hợp đồng tín dụng của Công ty Toàn Cầu, Công ty Minh Quân và Hợp đồng bảo lãnh thế chấp của Upexim cho khoản vay 110 tỷ của 2 Công ty tại Agribank Chi nhánh Sài Gòn.

Hai khoản vay, hai hợp đồng thế chấp và một tài sản của Upexim

Theo hồ sơ vụ án, Công ty CP Sản xuất thương mại xây dựng dịch vụ Minh Quân (gọi tắt là Công ty Minh Quân) và Công ty TNHH Chế biến thương mại Toàn Cầu (gọi tắt là Công ty Toàn Cầu) là hai pháp nhân trực tiếp vay vốn tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam - Chi nhánh Sài Gòn (viết tắt Agribank Chi nhánh Sài Gòn).

 Ngày 8-5-2012, Agribank Chi nhánh Sài Gòn ký Hợp đồng tín dụng số 1600-LAV-201200334 với Công ty Minh Quân. Ngày 28-5-2012, ngân hàng tiếp tục ký Hợp đồng tín dụng số 1600-LAV-201200408 với Công ty Toàn Cầu. Mỗi doanh nghiệp vay 55 tỷ đồng, tổng cộng 110 tỷ đồng.

Để bảo đảm cho hai khoản vay này, Công ty CP Sản xuất - Xuất nhập khẩu lâm sản và hàng tiểu thủ công nghiệp (gọi tắt là Upexim), đã dùng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất tại số 4-6 Hồ Tùng Mậu, TP. Hồ Chí Minh làm tài sản thế chấp của bên thứ ba.

Hai giao dịch bảo đảm được thể hiện tại Hợp đồng thế chấp số 1600-LCP-201200285 ngày 8-5-2012 và Hợp đồng thế chấp số 1600-LCP-201200354 ngày 28-5-2012. Các hợp đồng được đăng ký tại cơ quan đăng ký đất đai.

Như vậy, quan hệ tín dụng này có ít nhất bốn chủ thể với vị trí pháp lý khác nhau: Agribank Chi nhánh Sài Gòn là bên cho vay; Minh Quân và Toàn Cầu là các bên vay, nhận giải ngân và có nghĩa vụ trả nợ; Upexim là pháp nhân có tài sản được đưa ra bảo đảm; ngoài ra còn có những cá nhân trực tiếp lập, ký và sử dụng hồ sơ vay vốn, hồ sơ thế chấp.

Việc phân định đúng tư cách của từng chủ thể có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Bên vay, bên thế chấp tài sản của người thứ ba và cá nhân thực hiện hành vi sai phạm không thể mặc nhiên được đồng nhất về trách nhiệm.

Theo Thông báo thụ lý vụ án của TAND Khu vực 1 TP. Hồ Chí Minh, Agribank Chi nhánh Sài Gòn yêu cầu Công ty Toàn Cầu trả hơn 69,314 tỷ đồng và Công ty Minh Quân trả hơn 69,329 tỷ đồng, tạm tính đến ngày 25-12-2013, đồng thời tiếp tục chịu lãi cho đến khi thanh toán hết nợ. Trường hợp các bên vay không thực hiện nghĩa vụ, ngân hàng yêu cầu phát mại tài sản thế chấp để thu hồi nợ.

Hai khoản hơn 69 tỷ đồng nói trên bao gồm nợ gốc, lãi và các nghĩa vụ phát sinh tại thời điểm Agribank Chi nhánh Sài Gòn tính toán, không phải số tiền giải ngân ban đầu. Tổng số tiền vay vẫn được xác định là 110 tỷ đồng.

Bản án 929 còn ghi nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an đã giao cho Agribank Chi nhánh Sài Gòn 41,5 tỷ đồng do Công ty Kim Cương Xanh nộp lại. Khoản tiền này cần tiếp tục được đối chiếu, khấu trừ như thế nào khi xác định dư nợ thực tế là vấn đề thuộc phạm vi xem xét của Tòa án dân sự.

Điều đáng lưu ý là người vay tiền không phải Upexim. Upexim chỉ xuất hiện trong quan hệ tín dụng với tư cách pháp nhân có tài sản được dùng bảo đảm. Vì thế, việc xử lý nhà đất số 4-6 Hồ Tùng Mậu không thể chỉ căn cứ vào sự tồn tại của khoản nợ, mà trước hết phải làm rõ hai hợp đồng thế chấp có được xác lập hợp pháp hay không.

Không giải quyết quan hệ tín dụng, vì sao vẫn tiếp tục kê biên?

dien-dan-ccb-1655-1-0841
Bản án 929 không tuyên Upexim phải trả khoản vay 110 tỷ đồng nhưng vẫn tiếp tục kê biên 50% nhà, đất của Upexim.

Tại phần nhận định [7.7.1], Bản án hình sự phúc thẩm số 929 xác định nhà đất số 4-6 Hồ Tùng Mậu là tài sản liên quan trực tiếp đến hành vi phạm tội của bị cáo Trương Vui và là vật chứng của vụ án.

Từ việc công nhận Hợp đồng hợp tác kinh doanh số 002 giữa Upexim và Công ty Tradeco, Hội đồng xét xử xác định Tradeco sở hữu 50% giá trị quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất tại địa chỉ này. Phần 50% còn lại được xác định thuộc Upexim.

Đối với phần tài sản thuộc Upexim, bản án đồng thời nhận định Trương Vui và các cá nhân liên quan không bị xem xét, xử lý về hành vi vay tiền tại Agribank Chi nhánh Sài Gòn. Vì thế, việc thu hồi khoản nợ theo hợp đồng tín dụng chưa được xem xét trong vụ án hình sự và sẽ được giải quyết trong một vụ án khác khi các bên có yêu cầu.

Đây là nhận định phù hợp với nguyên tắc phân định phạm vi giải quyết giữa vụ án hình sự và tranh chấp dân sự. Khi trách nhiệm hình sự liên quan khoản vay chưa được xác định và hiệu lực các hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp chưa được xem xét đầy đủ, Tòa án hình sự không thể thay Tòa án dân sự tuyên nghĩa vụ trả nợ hoặc cho phép xử lý ngay tài sản thế chấp.

 Trên thực tế, Agribank Chi nhánh Sài Gòn đã kháng cáo, đề nghị sửa bản án sơ thẩm và cho phép ngân hàng phát mại nhà đất số 4-6 Hồ Tùng Mậu để thu hồi nợ. Tòa phúc thẩm không chấp nhận yêu cầu này.

Như vậy, Bản án 929 không tuyên Upexim phải trả khoản vay 110 tỷ đồng; cũng không công nhận ngay quyền phát mại tài sản của Agribank Chi nhánh Sài Gòn. Phán quyết dành quyền xem xét hiệu lực giao dịch và nghĩa vụ trả nợ cho một vụ án khác là thận trọng, bởi khi đó quan hệ tín dụng và thế chấp chưa được xét xử toàn diện.

Tuy nhiên, ngay sau khi xác định quan hệ này không được giải quyết trong vụ án hình sự, Hội đồng xét xử lại quyết định tiếp tục kê biên 50% quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất thuộc Upexim để bảo đảm việc giải quyết mối quan hệ thế chấp với Agribank Chi nhánh Sài Gòn.

Điều đó dẫn tới một câu hỏi pháp lý không thể bỏ qua: Khi chính Tòa án xác định quan hệ tín dụng và thế chấp nằm ngoài phạm vi giải quyết của vụ án hình sự, căn cứ cụ thể nào cho phép bản án hình sự tiếp tục duy trì biện pháp kê biên tài sản để bảo đảm cho một vụ án dân sự độc lập?

Kê biên không phải một ghi chú mang tính thủ tục. Đây là biện pháp cưỡng chế làm hạn chế trực tiếp quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản của chủ sở hữu. Bởi vậy, việc tiếp tục duy trì kê biên phải được phân tích rõ về căn cứ pháp luật, phạm vi tài sản, mục đích áp dụng, thời hạn tồn tại và cơ chế hủy bỏ hoặc thay thế.

Trong Bản án 929, Hội đồng xét xử cho rằng cần tiếp tục kê biên để bảo đảm quyền lợi của các bên tham gia tố tụng. Tuy nhiên, phần nhận định chưa chỉ rõ điều luật cụ thể nào cho phép Tòa án hình sự tiếp tục giữ tài sản của Upexim chỉ để chờ kết quả giải quyết một tranh chấp dân sự khác.

Bản án cũng chưa làm rõ lệnh kê biên sẽ chấm dứt tại thời điểm nào; Tòa án dân sự có phải tiếp tục áp dụng một biện pháp khẩn cấp tạm thời khác hay không; và chủ thể nào có quyền yêu cầu hủy bỏ kê biên nếu giao dịch thế chấp bị tuyên vô hiệu.

Một vấn đề khác cần được phân định là tư cách pháp lý của nhà đất số 4-6 Hồ Tùng Mậu.

Bản án xác định toàn bộ nhà đất là vật chứng của vụ án. Nhưng sau khi chia tài sản thành hai phần, 50% thuộc Tradeco được coi là chứng cứ chứng minh hành vi lừa đảo của Trương Vui, còn 50% thuộc Upexim lại được giữ để bảo đảm giải quyết quan hệ thế chấp Agribank Chi nhánh Sài Gòn.

Nếu phần tài sản thuộc Upexim không được xử lý với tư cách vật chứng của hành vi phạm tội, mà được duy trì kê biên chủ yếu để phục vụ một tranh chấp dân sự khác, thì bản án cần phân tích rõ căn cứ chuyển đổi mục đích của biện pháp kê biên.

Việc vừa coi tài sản là vật chứng của vụ án hình sự, vừa coi phần tài sản đó là đối tượng bảo đảm cho quan hệ tín dụng chưa được xét xử tạo ra sự đan xen giữa hai phạm vi tố tụng. Trong khi đó, quyền tài sản của Upexim bị hạn chế trong thời gian kéo dài, dù Upexim không phải là bên đứng tên vay 110 tỷ đồng.

Một chi tiết khác cũng cần được xem xét. Phần quyết định của Bản án 929 ghi tiếp tục kê biên 50% tài sản thuộc Upexim để bảo đảm giải quyết “Hợp đồng tín dụng số 1600-LCP-201200354 ngày 28-5-2012”.

Tuy nhiên, theo Thông báo thụ lý, văn bản mang ký hiệu LCP là hợp đồng thế chấp tài sản của bên thứ ba, không phải hợp đồng tín dụng. Hợp đồng tín dụng của Công ty Toàn Cầu mang ký hiệu LAV.

Bên cạnh đó, khoản vay 110 tỷ đồng được bảo đảm bằng hai hợp đồng thế chấp: Một hợp đồng ngày 8-5-2012 và một hợp đồng ngày 28-5-2012. Nhưng phần quyết định của Bản án 929 chỉ nhắc tới hợp đồng số 1600-LCP-201200354 ngày 28-5-2012, không đề cập hợp đồng thế chấp số 1600-LCP-201200285 ngày 8-5-2012.

Sai khác về tên gọi văn bản và việc chỉ dẫn một trong hai hợp đồng đặt ra câu hỏi: Phần kê biên 50% tài sản nhằm bảo đảm giải quyết một hay cả hai quan hệ thế chấp? Nếu nhằm bảo đảm cho toàn bộ khoản vay 110 tỷ đồng, tại sao phần quyết định chỉ ghi nhận một hợp đồng?

Đây có thể là sai sót kỹ thuật, nhưng liên quan trực tiếp đến phạm vi tài sản bị hạn chế và đối tượng tranh chấp được bảo đảm, nên cần được cơ quan có thẩm quyền giải thích rõ. Bởi lẽ, nếu hiệu lực của hai hợp đồng thế chấp chưa được Tòa án dân sự xem xét thì việc xử lý tài sản của Upexim sẽ được xác định trên những căn cứ pháp lý nào? Đây cũng là nội dung đang được đặt ra trong vụ án kinh doanh thương mại mà TAND Khu vực 1, TP. Hồ Chí Minh sẽ xem xét theo yêu cầu độc lập của Upexim.

(còn nữa)

Đọc tiếp

Mới nhất

Vì sao Upexim vẫn phải gánh hậu quả pháp lý của khoản vay 110 tỷ đồng?