Logo-print CƠ QUAN CỦA TRUNG ƯƠNG HỘI - TIẾNG NÓI CỦA CỰU CHIẾN BINH VIỆT NAM

Tháng Bảy về, người lính già lại khép cửa

DOANH CHÍNH 30/07/2026 - 08:48

Mỗi độ tháng Bảy trở về, khi những con đường rợp cờ hoa, tiếng loa truyền thanh vang lên nhắc về Ngày Thương binh - Liệt sĩ và sự tri ân đối với những người đã cống hiến cho Tổ quốc, thì trong một ngôi nhà nhỏ nơi vùng quê xứ Đoài, người lính già ấy lại lặng lẽ khép cánh cửa. Không phải để né tránh những lời tri ân, mà bởi mỗi lời nhắc về “người có công” lại khơi dậy trong ông một nỗi niềm day dứt đã theo suốt mấy chục năm cuối đời.

Ông Vũ Văn Tường năm nay đã ngoài tám mươi tuổi. Mái tóc bạc gần hết, bước chân chậm chạp vì bệnh tật, giọng nói lúc mạnh lúc yếu. Người đảng viên hơn nửa thế kỷ tuổi Đảng ấy vẫn cẩn thận giữ từng tấm huân chương, từng bằng khen, từng trang giấy đã ngả màu thời gian như giữ lại một phần ký ức của cuộc đời mình.

ban-doc-1655-21
Mỗi độ tháng Bảy trở về, CCB Vũ Văn Tường lại lần giở từng tấm huân chương, từng bằng khen, từng trang giấy đã ngả màu thời gian như giữ lại một phần ký ức của cuộc đời mình.

 Tuổi xuân dành trọn cho... tiền tuyến

Năm 1960, khi vừa tròn 20 tuổi, ông Vũ Văn Tường (thôn Yên Thái, xã Đông Yên, huyện Quốc Oai - tỉnh Hà Tây cũ, nay là xã Phú Cát, TP. Hà Nội) lên đường nhập ngũ trong đợt tuyển quân thứ hai của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Sau sáu tháng huấn luyện, ông được cử sang nước bạn Lào làm nhiệm vụ quốc tế, tham gia chiến đấu tại nhiều địa bàn từ Bắc Lào đến Nam Lào, truy quét lực lượng phỉ Vàng Pao và quân của Đại úy Kong Le, góp phần bảo vệ biên giới Tổ quốc và giúp nước bạn giữ vững vùng giải phóng.

Những năm tháng hành quân giữa rừng sâu, núi thẳm đã để lại trên cơ thể người lính trẻ nhiều dấu ấn khắc nghiệt. Ông mắc sốt rét rừng nặng, thân hình chỉ còn da bọc xương, tóc rụng, gương mặt xanh xao vì những cơn sốt triền miên. Ngày nhập ngũ, chàng trai quê xứ Đoài cao 1,64m, nặng 60kg, khỏe mạnh và vạm vỡ; đến ngày hoàn thành nghĩa vụ trở về, sức khỏe đã suy kiệt sau nhiều năm lăn lộn nơi rừng thiêng nước độc.

May mắn thay, nhờ sự chăm sóc của gia đình và những bài thuốc Nam do người cha bốc chữa, bệnh sốt rét dần được đẩy lùi. Chỉ một năm sau, ông lại tiếp tục tham gia lực lượng dân quân tự vệ địa phương, đảm nhiệm công việc tuần tra, trực chiến và canh gác. Từ đó về sau, dù tiếp tục nhiều năm chiến đấu giữa núi rừng miền Trung khắc nghiệt, ông không còn tái phát những cơn sốt rét từng suýt cướp đi tính mạng của mình.

Năm 1963, sau khi phục viên, ông được giao làm Trung đội trưởng dân quân thôn. Từ năm 1964, ông vừa là Trung đội trưởng dân quân, vừa là Khẩu đội trưởng khẩu đội trung liên 14,5mm trực chiến phòng không của xã. Đến năm 1968, khi cuộc kháng chiến chống Mỹ bước vào giai đoạn ác liệt, ông tái ngũ và được điều động thẳng vào chiến trường Khu 5.

Suốt 8 năm 6 tháng chiến đấu trên chiến trường Quảng Nam - Đà Nẵng, ông lần lượt đảm nhiệm nhiều nhiệm vụ: giao liên, hậu cần, công binh rồi trinh sát bộ binh. Ở bất cứ cương vị nào, ông cũng hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, nhiều lần lập thành tích trong chiến đấu.

Những cống hiến ấy được ghi nhận bằng bốn danh hiệu Dũng sĩ Quyết thắng, hai danh hiệu Chiến sĩ thi đua, hai Bằng khen của Quân khu, ba Giấy khen cùng nhiều phần thưởng cao quý khác. Trong số đó có Huân chương Chiến công Giải phóng hạng Ba, Huân chương Kháng chiến, Huân chương Giải phóng và Huân chương Hữu nghị của Chính phủ nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào.

Đối với ông, phần thưởng thiêng liêng nhất không phải những tấm huân chương trên ngực áo, mà là ngày được đứng trong hàng ngũ của Đảng ngay giữa chiến trường năm 1974, sau nhiều lần lập công xuất sắc. Đó là niềm tự hào mà người lính già vẫn luôn gìn giữ như một dấu mốc không thể phai mờ trong cuộc đời binh nghiệp của mình.

Hòa bình tiếp tục cống hiến xây dựng đất nước...

ban-doc-1655-11
Mỗi khi tháng Bảy trở về, ông Vũ Văn Huệ (bìa phải) lại đến bên người anh trai - CCB Vũ Văn Tường. Giữa hai anh em, có những nỗi đau chiến tranh không nói thành lời, chỉ lặng lẽ sẻ chia để lòng nhẹ bớt những khắc khoải còn mang theo đến hôm nay.

Sau ngày đất nước thống nhất, do có nhiều thành tích trong chiến đấu và là đảng viên, đơn vị dự kiến bố trí ông Vũ Văn Tường tiếp tục công tác tại các cơ quan mới tiếp quản ở Quảng Nam hoặc Đà Nẵng. Tuy nhiên, ông xin phục viên để trở về quê chăm sóc người cha đã ngoài 80 tuổi, cùng vợ và năm người con nhỏ. Điều ông mong mỏi nhất lúc ấy chỉ đơn giản là được trở về với gia đình. Khát khao ấy lớn đến mức khi điều trị sau một lần bị bom hất văng khỏi chiến hào, ông cũng không chờ hoàn tất thủ tục nhận giấy chứng thương mà sớm xin xuất viện để về quê.

Tháng 6-1975, ông chuyển về công tác tại Đội Bảo vệ Nông trường Cao Phong (Hòa Bình). Những năm tháng chiến tranh đã để lại nhiều di chứng. Từ một người từng cõng hai quả đạn pháo rocket nặng hàng trăm ki-lô-gam vượt nhiều ki-lô-mét đường rừng, khi trở về ông chỉ còn nặng khoảng 42kg, sức khỏe suy kiệt, thường xuyên đau đầu, đau cột sống, đau thần kinh, suy giảm thính lực và mất khứu giác.

Năm 1988, Hội đồng Giám định y khoa tỉnh Hà Sơn Bình (cũ) kết luận ông suy giảm 62% sức khỏe với nhiều bệnh lý, trong đó có bệnh thần kinh mạn tính, bệnh cột sống, điếc hai tai và mất khứu giác. Năm 1989, ông được giải quyết nghỉ theo chế độ mất sức lao động.

Cuộc sống gia đình cũng trải qua nhiều khó khăn. Sau khi rời quân ngũ, con gái út của ông mắc bệnh ngoài da kéo dài từ khi mới sinh. Gia đình nhiều năm đưa con đi chữa trị ở nhiều nơi. Nhờ kiên trì điều trị bằng thuốc nam, sức khỏe của chị dần ổn định, sau này lập gia đình và có cuộc sống riêng.

Trở về địa phương, ông tích cực tham gia sinh hoạt chi bộ và các hoạt động của thôn. Năm 2001, tại địa phương phát sinh vụ việc khiếu nại liên quan đến việc thực hiện chính sách đối với người hoạt động kháng chiến bị phơi nhiễm chất độc hóa học. Theo ông và gia đình, ông là một trong những CCB ký xác nhận vào đơn kiến nghị tập thể sau khi cho rằng có những trường hợp được hưởng chính sách chưa đúng quy định.

Người thân ông cho biết, sau đó Thanh tra huyện đã ban hành kết luận về vụ việc và một số cán bộ liên quan bị xử lý kỷ luật. Tuy nhiên, ông Tường luôn cho rằng từ thời điểm đó, quá trình lập hồ sơ đề nghị xem xét chế độ của bản thân gặp nhiều khó khăn. Theo phản ánh của gia đình, trong nhiều năm hồ sơ của ông nhiều lần được bổ sung, hoàn thiện nhưng chưa được giới thiệu đi khám, giám định theo mong muốn. Chính điều đó khiến ông luôn mang trong lòng nhiều trăn trở và day dứt trong những năm cuối đời.

Theo hồ sơ gia đình lưu giữ, năm 1988, Hội đồng Giám định y khoa tỉnh Hà Sơn Bình kết luận ông Vũ Văn Tường suy giảm 62% sức khỏe với nhiều bệnh lý, trong đó có bệnh thần kinh mạn tính, bệnh lý cột sống, suy giảm thính lực và mất khứu giác. Những năm sau, trong các đợt điều trị tại Bệnh viện Quân y 105 và Bệnh viện Quân y 103, hồ sơ bệnh án tiếp tục ghi nhận ông mắc bệnh thần kinh ngoại biên cùng nhiều di chứng khác.

Mang theo toàn bộ hồ sơ y tế, ông nhiều lần đề nghị được khám, giám định lại với mong muốn tình trạng sức khỏe được đánh giá đầy đủ và khách quan. Thế nhưng, sau nhiều năm chờ đợi, đến năm 2015 ông mới được giới thiệu đi giám định y khoa. Tuy nhiên, thời điểm này quy định về hồ sơ và điều kiện xem xét người phơi nhiễm chất độc hóa học đã có sự thay đổi. Một số tài liệu y tế mà gia đình cho là rất quan trọng không còn đáp ứng yêu cầu theo quy định hiện hành, khiến nguyện vọng của ông vẫn chưa đạt được kết quả như mong muốn.

Những nỗi khắc khoải của người lính già

Điều day dứt nhất đối với ông Vũ Văn Tường không phải là những cơn đau thể xác, mà là cảm giác những năm tháng chiến đấu của mình vẫn còn điều chưa được lý giải thỏa đáng. Ở tuổi gần 90, bệnh tật ngày một nhiều, bước chân ngày một chậm, ông vẫn mong được khám, giám định lại tại cơ quan chuyên môn có thẩm quyền để có một kết luận khách quan về tình trạng sức khỏe.

Những đêm mất ngủ, ông thường nhớ về chiến trường Quảng Nam, Đức Phổ, nơi đơn vị nhiều lần phải bám trụ giữa những cánh rừng vừa bị máy bay phun chất khai quang. Khi ấy, những người lính chỉ biết tiếp tục nhiệm vụ, chưa ai hình dung lớp bụi trắng phủ kín núi rừng có thể để lại những hệ lụy lâu dài.

Ông luôn trăn trở liệu những căn bệnh mình mang, cùng bệnh tật của con gái, có liên quan đến quãng thời gian chiến đấu ấy hay không. Điều ông mong mỏi không đơn thuần là chế độ trợ cấp, mà trước hết là sự ghi nhận đúng đắn đối với những di chứng và hy sinh mà ông tin mình đã phải mang theo suốt cuộc đời.

Bởi vậy, mỗi dịp 27-7 hay những ngày lễ lớn, khi tiếng loa truyền thanh nhắc đến hoạt động gặp mặt, tri ân người có công, ông lại lặng lẽ ở nhà, mở chiếc hòm gỗ cũ, nâng niu từng tấm huân, huy chương và hồi tưởng về đồng đội. “Tôi chỉ mong có một kết luận rõ ràng để lòng mình được thanh thản”, ông thường nói với người thân.

Cứ dịp 27-7 hằng năm, người em trai Vũ Văn Huệ lại đến thăm. Câu chuyện của hai anh em xoay quanh những ký ức chiến tranh và những điều còn trăn trở. Ông Tường khẽ thở dài: “Có những điều đến giờ tôi vẫn chưa thể nguôi...”.

Khi ra về, ông Huệ ngoảnh lại, thấy hai hàng nước mắt lặng lẽ lăn trên gương mặt người anh - một CCB đã dành tuổi trẻ cho chiến trường, nhưng đến cuối đời vẫn canh cánh mong những băn khoăn của mình được xem xét khách quan, để lòng thanh thản.

Đọc tiếp

Mới nhất

Tháng Bảy về, người lính già lại khép cửa