Logo-print CƠ QUAN CỦA TRUNG ƯƠNG HỘI - TIẾNG NÓI CỦA CỰU CHIẾN BINH VIỆT NAM

Lấy hạnh phúc của người dân làm thước đo

ĐỖ PHÚ THỌ 30/07/2026 - 08:54

Một trong những sự kiện thu hút sự quan tâm đặc biệt của CCB và Nhân dân cả nước tuần qua là Hội nghị lần thứ 3, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV. Phát biểu tại Hội nghị, đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh: “Phải lấy con người làm trung tâm, văn hóa làm nền tảng, pháp luật và kỷ cương làm trụ cột; kết hợp pháp trị với đức trị, quyền với trách nhiệm. Thước đo cuối cùng là chất lượng sống, cơ hội phát triển và hạnh phúc của Nhân dân”.

Giá trị và sức sống của các quyết sách phải được đo bằng kết quả thực tế: điểm nghẽn được tháo gỡ, năng lực mới được tạo lập, bộ máy vận hành thông suốt, nguồn lực được khơi thông, năng suất và sức cạnh tranh được nâng cao, đất nước an toàn hơn, Nhân dân được thụ hưởng thiết thực hơn.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước TÔ LÂM

1785234659024_6775362074049862869_6775362074049862869_6c1460e91e219ab51c2f09d1f1ae5cbf-0852

Thành phố Hồ Chí Minh - trung tâm kinh tế lớn nhất cả nước là địa phương luôn chăm lo đến hạnh phúc của người dân.

Ảnh: Hoàng Mến

Tháo gỡ điểm nghẽn, khơi thông nguồn lực

Đại hội XIV của Đảng đã xác định rõ đường lối, mục tiêu và những định hướng chiến lược lớn trong toàn nhiệm kỳ. Hội nghị Trung ương 2 đặt nền tảng tổ chức và quy tắc vận hành cho cả nhiệm kỳ.

Hội nghị Trung ương 3 được xác định là phải chuyển những định hướng đó thành quyết sách tháo gỡ điểm nghẽn, khơi thông nguồn lực và tạo năng lực phát triển mới. Phát biểu khai mạc Hội nghị, đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm khẳng định: “13 nội dung thảo luận tại Hội nghị thuộc nhiều lĩnh vực nhưng cùng hướng tới mục tiêu cao hơn: tạo lập năng lực lãnh đạo, cầm quyền, quản trị, hành động, phát triển và bảo vệ đất nước trong giai đoạn mới. Vì vậy, các quyết sách được Trung ương thông qua phải tạo ra 4 bước chuyển chiến lược: Thứ nhất: nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền và chất lượng vận hành của Đảng và bộ máy Nhà nước; Thứ hai: quản trị thống nhất không gian phát triển, phát huy hiệu quả nguồn lực quốc gia; Thứ ba: xác lập mô hình phát triển dựa vào năng suất, tri thức, công nghệ và con người; Thứ tư: chủ động phòng ngừa, nâng cao sức chống chịu, khả năng thích ứng và bảo vệ vững chắc đất nước. Đây là những mục tiêu mà Hội nghị phải đạt được”.

Sau thời gian làm việc khẩn trương, nghiêm túc, dân chủ, thẳng thắn và trách nhiệm, Hội nghị lần thứ 3 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV đã hoàn thành chương trình đề ra. Trung ương đã thảo luận kỹ các nội dung; thống nhất cao nhiều chủ trương, quyết sách lớn về xây dựng Đảng, hệ thống chính trị, phát triển và bảo vệ đất nước. Bộ Chính trị đã nghiêm túc tiếp thu, giải trình, hoàn thiện các dự thảo, văn bản.

Thông báo của Hội nghị nêu rõ: “Ban Chấp hành Trung ương thống nhất đánh giá, qua 40 năm đổi mới, 35 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, dưới sự lãnh đạo của Đảng, đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử; quy mô, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế không ngừng được nâng cao; trở thành nước có thu nhập trung bình cao; đời sống Nhân dân được cải thiện rõ rệt. Tuy nhiên, quá trình đổi mới mô hình phát triển đất nước còn chậm. Trong khi đó, thế giới đang trải qua những thay đổi mang tính thời đại, tạo ra nhiều thuận lợi, thời cơ, thách thức lớn đan xen. Ở trong nước, Đảng ta đã ban hành nhiều chủ trương, quyết sách chiến lược, mang tính cách mạng; đặt ra nhiều vấn đề và yêu cầu mới rất cao, nhất là mục tiêu phấn đấu tăng trưởng hai con số trong giai đoạn 2026-2030; từ đó, đòi hỏi phải có bước đột phá về đổi mới mô hình phát triển đất nước”.

Để hiện thực hóa khát vọng đưa Việt Nam trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao vào năm 2045, xác lập nền tảng cho tầm nhìn 100 năm phát triển tiếp theo của đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng (2030-2130), Ban Chấp hành Trung ương thống nhất cần phải đổi mới mô hình phát triển đất nước với các mục tiêu cụ thể theo các mốc đến năm 2030/2035/2045 và định hướng tầm nhìn đến năm 2130, Việt Nam trở thành quốc gia xã hội chủ nghĩa phát triển trình độ cao, văn minh, hiện đại, bản sắc, có năng lực sáng tạo và sức sống trường tồn; là một trong những nền kinh tế xanh, sáng tạo, trung tâm sản xuất thông minh hàng đầu của châu Á; có vị thế quan trọng trong trật tự toàn cầu về tri thức, công nghệ, kinh tế, quốc phòng, an ninh; xã hội văn minh, thịnh vượng, công bằng, bao trùm, hạnh phúc; văn hóa bản sắc, con người phát triển toàn diện; đủ năng lực thích ứng với mọi thay đổi của thời đại và có đóng góp xứng đáng cho nhân loại.

Xây dựng xã hội kỷ cương, an toàn, văn minh, hài hòa, phát triển

Một trong những Nghị quyết quan trọng được Hội nghị lần thứ 3 của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV thông qua là Nghị quyết về xây dựng xã hội kỷ cương, an toàn, văn minh, hài hoà, phát triển.

Thực tiễn đã khẳng định xây dựng xã hội kỷ cương, an toàn, văn minh, hài hòa, phát triển là nền tảng và mục tiêu của mô hình phát triển. Phát triển phải làm cho quy mô nền kinh tế lớn hơn, xã hội tốt đẹp hơn, con người phát triển toàn diện hơn, cộng đồng gắn kết và niềm tin được củng cố. Không để giàu lên về vật chất nhưng nghèo đi về văn hóa, đạo đức, tình người; không để tăng trưởng làm gia tăng bất bình đẳng hoặc đẩy người yếu thế ra bên lề. Phải lấy con người làm trung tâm, văn hóa làm nền tảng, pháp luật và kỷ cương làm trụ cột; kết hợp pháp trị với đức trị, quyền với trách nhiệm. Thước đo cuối cùng là chất lượng sống, cơ hội phát triển và hạnh phúc của Nhân dân.

Trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước, dân tộc Việt Nam sớm hình thành và hun đúc tư tưởng “dân là gốc”. Từ triết lý trị quốc của cha ông với lời cảnh tỉnh “chở thuyền cũng là dân, lật thuyền cũng là dân”, “khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc” đến tư tưởng Hồ Chí Minh - Người khẳng định: “Trong bầu trời không gì quý bằng Nhân dân. Trong thế giới, không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của Nhân dân” - tất cả đều thống nhất ở một điểm cốt lõi: Nhân dân là trung tâm, là chủ thể và là nguồn sức mạnh quyết định của mọi sự nghiệp lớn lao.

Đối với cách mạng Việt Nam, chân lý đó càng được khẳng định rõ ràng và sâu sắc hơn. Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời từ phong trào yêu nước của Nhân dân, trưởng thành trong lòng Nhân dân và lãnh đạo cách mạng bằng cách dựa vào Nhân dân.

Nhân dân vừa là người làm nên những thắng lợi lịch sử, vừa là nguồn sức mạnh vô tận làm những kỳ tích lớn lao. Khi đường lối, chủ trương xuất phát từ lợi ích của quốc gia, dân tộc, lợi ích và nguyện vọng chính đáng của Nhân dân, được Nhân dân đồng tình, ủng hộ thì mọi khó khăn, thử thách đều có thể vượt qua. Nghị quyết Hội nghị Trung ương 3 đã lấy hạnh phúc của người dân làm thước đo, là phương châm cốt lõi trong quản trị và phát triển đất nước.

Cụ thể hóa phạm trù “hạnh phúc”

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng đã đề ra chủ đề: “Dưới lá cờ vẻ vang của Đảng, chung sức, đồng lòng thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển đất nước đến năm 2030; tự chủ chiến lược, tự cường, tự tin, tiến mạnh trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, vì hoà bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội”.

Đây là sự kế thừa, phát triển sáng tạo các chủ đề đại hội trước, đồng thời phản ánh bước phát triển mới trong tư duy chiến lược của Đảng trước những biến đổi sâu sắc của tình hình trong nước và thế giới hiện nay. Đặc biệt, việc nhấn mạnh “hạnh phúc” cho thấy sự phát triển sâu sắc trong tư duy của Đảng, coi chất lượng cuộc sống và hạnh phúc con người; coi con người là trung tâm, là thước đo cao nhất; là mục tiêu và là động lực của phát triển.

Mục tiêu “dân giàu, nước mạnh” luôn được Đảng ta xác định là đích đến xuyên suốt của sự nghiệp cách mạng. Tuy nhiên, khái niệm “dân giàu” cần được hiểu một cách đầy đủ, toàn diện và thực chất hơn. Dân giàu không chỉ là thu nhập tăng lên, mà còn là đời sống vật chất và tinh thần được bảo đảm, cơ hội phát triển được mở rộng, quyền và lợi ích hợp pháp của Nhân dân được tôn trọng và bảo vệ.

Một nền kinh tế tăng trưởng nhanh nhưng không tạo ra việc làm bền vững, không bảo đảm an sinh xã hội, không thu hẹp được khoảng cách giàu nghèo thì không thể coi là sự phát triển lành mạnh. Một xã hội hiện đại nhưng người dân còn lo lắng về y tế, giáo dục, môi trường sống hay sự công bằng thì không thể nói là đã đạt tới mục tiêu “dân giàu” theo đúng nghĩa mà Đảng ta hướng tới.

Thực tiễn cho thấy, chỉ khi Nhân dân thực sự được thụ hưởng thành quả phát triển, khi đời sống Nhân dân ngày càng được cải thiện, thì sức mạnh quốc gia mới được củng cố một cách bền vững. Kinh tế mạnh phải dựa trên nguồn lực con người được giải phóng và phát huy đầy đủ; quốc phòng, an ninh chỉ vững chắc khi có sự đồng thuận xã hội cao; vị thế quốc tế của đất nước chỉ được nâng cao khi trong nước ổn định và lòng dân vững vàng. Đây chính là nội dung quan trọng được Trung ương Đảng thảo luận và đưa ra lời giải đáp trong Hội nghị Trung ương 3 vừa qua. Báo cáo sơ kết 1 năm vận hành mô hình tổ chức tổng thể của hệ thống chính trị và mô hình chính quyền địa phương 2 cấp và Báo cáo về công tác xây dựng Đảng, hệ thống chính trị 6 tháng đầu năm và phương hướng, nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2026 đã giúp Trung ương đánh giá thực chất chất lượng vận hành của hệ thống chính trị sau sắp xếp. Bởi lẽ bộ máy có thông suốt, thẩm quyền và trách nhiệm có rõ, quyết định có nhanh, đúng, người dân và doanh nghiệp mới được phục vụ tốt. Thước đo không chỉ là số đầu mối giảm mà là hiệu lực lãnh đạo, quản lý và chất lượng phục vụ Nhân dân.

Điểm mới quan trọng của hội nghị Trung ương 3 như khẳng định của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm là “thể hiện ở từng quyết sách và ở phương pháp lãnh đạo: nhìn thẳng vào nguyên nhân gốc, tổ chức nguồn lực theo mục tiêu chung, gắn quyết định với thực thi và đặt lợi ích lâu dài của đất nước, cuộc sống của Nhân dân ở vị trí cao nhất”.

Đọc tiếp

Mới nhất

Lấy hạnh phúc của người dân làm thước đo