Logo-print CƠ QUAN CỦA TRUNG ƯƠNG HỘI - TIẾNG NÓI CỦA CỰU CHIẾN BINH VIỆT NAM

Những người con Sơn Tây hy sinh tại Thành cổ

QUỐC TOẢN • 14/10/2026 - 07:36

Có một buổi chiều dừng chân nơi miền đất Quảng Trị, đứng trước thành cổ loang lổ dấu đạn bom, bất chợt trong tôi dội lên âm hưởng trầm hùng của một khúc bi ca. Trong số hơn mười ngàn liệt sĩ an nghỉ tại nghĩa trang, có 36 người con Sơn Tây đã ngã xuống tại mảnh đất này - trước, trong và sau “mùa hè đỏ lửa” 1972. Ba mươi sáu phận người, ba mươi sáu ngọn lửa tuổi thanh xuân, hòa vào biển máu cùng đồng đội để giữ cho Tổ quốc một khoảng trời bình yên.

102026-thanh-co-quang-tri-0735
Các chiến sĩ anh dũng tấn công đánh địch ra khỏi thị xã Quảng Trị tháng 8-1972.

Trong hành trình xuyên Việt, tôi đã dừng chân tại Quảng Trị. Bạn học cũ của tôi thời phổ thông - Phan Thị Hải Thanh, nay sống ở Đông Hà (Bố mẹ Thanh đều là người Quảng Trị tập kết ra Bắc năm 1954), đã đưa chúng tôi đi thăm viếng - từ Nghĩa trang liệt sĩ quốc gia Trường Sơn đến Nghĩa trang Đường 9, rồi vào Thành cổ Quảng Trị, ra sông Thạch Hãn... Mỗi bước chân như lạc vào một trang sử thấm đẫm máu xương.

Hải Thanh bảo, Quảng Trị đất không rộng, chỉ hơn một nghìn cây số vuông, mà có đến 72 nghĩa trang liệt sĩ. Đi đâu cũng gặp nghĩa trang, đâu đâu cũng gặp bia mộ. Mỗi lần đến, không ai cầm được nước mắt. Tôi lặng im nghe bạn nói, nhưng trong lòng như nghẹn lại. Thật khó mà không xúc động khi trước mắt là hàng vạn tấm bia mộ, trong đó còn khá nhiều tấm bia chưa rõ tên. Khói hương tỏa ra như mây, hòa cùng tiếng gió, tiếng chuông thảng thốt, gợi cảm giác linh thiêng đến nhói buốt tim người.

Tôi chụp nhiều ảnh, nhưng có một tấm khiến tôi sững lại rất lâu. Đó là tấm bia khắc danh sách 36 liệt sĩ quê Sơn Tây. Bất ngờ làm sao, trong đó có tên anh - liệt sĩ Nguyễn Như Chung - người cùng phố tôi. Mắt tôi nhòa đi. Tôi biết anh từ thuở nhỏ, anh là một chàng trai hiền lành, gia đình anh làm nghề thợ may nổi tiếng ở Sơn Tây. Sau này, tôi nhập ngũ cùng em trai anh - Nguyễn Như Tâm. Vậy mà anh đã ngã xuống nơi Thành cổ này, đúng ngày sinh nhật Bác, 19-5-1972, khi vừa tròn hai mươi tuổi.

Tôi thì thầm, như nói cùng anh: “Anh Chung ơi, hơn bốn mươi lăm năm rồi, hôm nay em mới biết anh nằm ở đây. Anh hãy an nghỉ nhé. Em đặt bàn tay mình lên dòng tên anh và đồng đội, như đặt cả tấm lòng của thế hệ sau lên những mạch máu đã hóa thành bất tử”. Dòng chữ “mãi mãi tuổi hai mươi” khắc vào bia đá như khắc vào tim tôi, khắc vào non sông gấm vóc này.

Nếu ai đó chưa từng hình dung trọn vẹn về hai chữ “Tổ quốc”, hãy một lần đến Quảng Trị. Đứng trước bạt ngàn bia mộ ở Trường Sơn, ở Đường 9, hay trước nấm mộ tập thể khổng lồ trong lòng Thành cổ, ta sẽ thấu suốt. Ở đây, Tổ quốc không phải là khái niệm mơ hồ. Tổ quốc là máu, là xương, là tuổi xuân nằm lại trong lòng đất. Tổ quốc là sự thật hiển hiện qua từng tấm bia bạc màu nắng gió, qua từng nấm mồ chưa biết tên: Đò lên Thạch Hãn ơi... chèo nhẹ/ Đáy sông còn đó bạn tôi nằm/ Có tuổi hai mươi thành sóng nước/ Vỗ yên bờ, mãi mãi ngàn năm.

Lời thơ của chiến sĩ thành cổ Quảng Trị Lê Bá Dương như tiếng gọi từ lòng sông, nhắc nhở những người đang sống hôm nay phải bước đi chậm rãi, cúi đầu thành kính. Bởi mỗi dòng nước kia đều còn ẩn chứa xương máu của hàng ngàn người lính tuổi mười tám đôi mươi.

Tôi cũng là người lính, đã đi qua hai cuộc chiến - chống Mỹ và chống quân bành trướng xâm lược. Tôi may mắn trở về, nhưng không khi nào thôi day dứt. Đằng sau mỗi nấm mộ là một cuộc đời chưa trọn vẹn. Họ từng sống, từng yêu, từng mơ về mái ấm bình dị. Nếu không có chiến tranh, có lẽ giờ họ đã là những người cha, người chồng, là thầy giáo, là kỹ sư, bác sĩ... Nhưng khi Tổ quốc gọi, họ đã gác lại tất cả.

Ngày ấy, thế hệ chúng tôi ra trận trong ánh mắt tiễn đưa nhòa lệ của mẹ già, của những người thân yêu, của người vợ trẻ, của con thơ chưa kịp gọi cha. Biết bao day dứt, nhưng không ai chùn bước. Bởi khát vọng lớn lao duy nhất là đất nước được thống nhất, giang sơn sạch bóng quân thù. Chỉ khát vọng ấy mới khiến con người ta sẵn sàng hiến dâng cả mạng sống mà không bao giờ toan tính.

Hôm nay, đứng trước hàng vạn mộ chí bên Thành cổ, tôi càng thấm thía, sự hy sinh của các anh, đồng đội tôi, lớn lao đến nhường nào. Với lòng kính trọng và tiếc thương những người lính hy sinh vì tổ quốc, đêm ấy tôi đã viết bài thơ “Ở nghĩa trang liệt sĩ” trong đó có đoạn: Tôi trở lại nghĩa trang với một nén hương trầm/ Xin thơm khắp linh hồn đồng đội/ Phút bình yên giữa bạt ngàn tang trắng/ Các anh là nốt lặng... cuộc đời tôi.

“Nốt lặng” - hình ảnh mà tôi lựa chọn chính là khoảng lặng của âm nhạc, nơi mọi thanh âm ngưng lại để làm bật lên giai điệu. Trong bản nhạc đời tôi, các anh đã lặng im, nhưng chính sự lặng im ấy làm cho tất cả phần còn lại vang lên sâu sắc hơn, ngân nga hơn. Các anh lặng im trong đất, để chúng tôi còn được nói, còn được sống, còn được tiếp tục đi về phía trước.

Có lẽ, cả Thành cổ Quảng Trị là một bản "Đại hợp xướng” mà ở đó, hơn mười ngàn nốt lặng đã hợp thành. Mỗi nấm mộ, mỗi linh hồn là một khoảng lặng, để từ đó đất nước bật lên thanh âm hòa bình, độc lập, thống nhất. Và cũng chính “Nốt lặng” ấy lại là lời nhắc nhở những người khoác áo “đầy tớ” phải sống cho ra sống, phải trong sạch, tử tế, để không phản bội sự hy sinh của các anh.

Và trong làn khói hương nghi ngút, tôi như nghe vang vọng đâu đây giai điệu “Cỏ non Thành cổ”: “...Cho tôi hôm nay vào Thành cổ/ Thắp một nén nhang viếng người nằm dưới cỏ/ Cỏ xanh non tơ, cỏ xanh non tơ/ Xin chớ vô tình với người hy sinh/ Trên mảnh đất quê mình...”.

Âm nhạc, cỏ xanh, thành cổ, bia đá - tất cả đã hòa làm một. Cỏ non mọc lên từ lòng đất, xanh đến nhói lòng, như hơi thở của các anh hóa thành và vươn lên, như máu thịt các anh hòa vào đất đai để hồi sinh sự sống. Trên từng thảm cỏ xanh tươi là linh hồn những người lính trẻ, nên càng phải đi thật khẽ, thật chậm, để lắng nghe tiếng vọng từ quá khứ.

Thành cổ Quảng Trị - mùa hè đỏ lửa năm 1972 là bản hùng ca bi tráng của dân tộc. Trong suốt 81 ngày đêm, hàng vạn người con đã ngã xuống, biến từng viên gạch, từng tấc đất nơi này thành chứng tích của máu. Và trong bản hùng ca ấy, có tiếng lòng, có máu xương của 36 người con Sơn Tây. Các anh đã đi xa, nhưng tên tuổi không bao giờ mất. Bởi trên những hàng bia lạnh, có ánh nắng chiều còn rơi xuống. Trong tiếng chuông chùa ngân nga, có linh hồn các anh thảng thốt gọi về. Và trong mỗi bước chân hậu thế, có niềm tri ân âm thầm mà tha thiết.

Cỏ non cứ xanh mãi bên Thành cổ. Mỗi nhành cỏ là một thông điệp từ đất, từ máu, từ những linh hồn tuổi hai mươi bất tử. Xanh để thức tỉnh người đang sống, để nhắc nhở phải sống sao cho trọn nghĩa với Tổ quốc. Và các anh - những người đã chọn cái chết để chúng tôi được sống trong hòa bình - mãi mãi là nốt lặng không bao giờ phai nhòa trong ký ức cuộc đời tôi.

Đọc tiếp

Mới nhất

Những người con Sơn Tây hy sinh tại Thành cổ