Logo-print CƠ QUAN CỦA TRUNG ƯƠNG HỘI - TIẾNG NÓI CỦA CỰU CHIẾN BINH VIỆT NAM

GIẢM LÃI SUẤT NGÂN HÀNG: Quan trọng là vốn rẻ phải đến đúng người vay

VÕ HÓA 24/08/2026 - 07:05

Sau chỉ đạo của Thủ tướng tại cuộc làm việc với Ngân hàng Nhà nước và các tổ chức tín dụng ngày 13-8, yêu cầu giảm lãi suất cho vay tiếp tục được đặt ra như một giải pháp hỗ trợ người dân, doanh nghiệp phục hồi và mở rộng sản xuất, kinh doanh. Tuy nhiên, theo các chuyên gia, giảm lãi suất chỉ thực sự có ý nghĩa khi chi phí vốn của người vay giảm một cách thực chất và bền vững. Muốn vậy, ngân hàng phải tiết giảm chi phí, nâng cao hiệu quả phân bổ vốn; đồng thời cơ quan quản lý cần có cơ chế giám sát để chính sách đi đến đúng đối tượng thụ hưởng mà không đánh đổi an toàn hệ thống.

ktxh-1658-1-0701
Agribank tiên phong triển khai chương trình tín dụng ưu đãi 70.000 tỷ đồng hướng đến các động lực tăng trưởng kinh tế.

Không thể giảm lãi suất bằng mọi giá

Trong bối cảnh nền kinh tế tiếp tục đặt mục tiêu tăng trưởng cao, mặt bằng lãi suất cho vay có ý nghĩa đặc biệt đối với khả năng phục hồi và mở rộng sản xuất, kinh doanh. Với doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa, chi phí vốn không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến giá thành sản phẩm mà còn quyết định khả năng mở rộng đầu tư, duy trì việc làm và sức cạnh tranh trên thị trường. Bởi vậy, yêu cầu các tổ chức tín dụng tiếp tục chia sẻ khó khăn với người dân, doanh nghiệp thông qua giảm chi phí vốn được kỳ vọng sẽ tạo thêm động lực cho nền kinh tế. Tuy nhiên, giảm lãi suất không thể được hiểu đơn giản là việc các ngân hàng đồng loạt hạ mức lãi suất niêm yết.

Theo các chuyên gia kinh tế, yêu cầu giảm lãi suất cho vay là chính đáng, song cần nhìn vào toàn bộ cấu trúc chi phí vốn của ngân hàng. Hoạt động tín dụng luôn phải bảo đảm cân bằng giữa ba yếu tố: Chi phí vốn, mức độ rủi ro và khả năng sinh lời. Nếu giảm lãi suất cho vay nhưng chi phí đầu vào không giảm tương ứng, ngân hàng sẽ phải thu hẹp biên lợi nhuận. Trong trường hợp kéo dài, điều này có thể ảnh hưởng tới năng lực tài chính của tổ chức tín dụng và khả năng chống chịu trước những biến động của thị trường.

Do đó, bài toán đặt ra không phải là “giảm bằng mọi giá”, mà là tìm dư địa giảm lãi suất từ việc nâng cao hiệu quả hoạt động và phân bổ nguồn vốn. Thực tế, một số ngân hàng đang tập trung vào quản trị chi phí vốn thay vì chạy đua tăng lãi suất huy động. Mới đây, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam (Agribank) triển khai chương trình tín dụng ưu đãi quy mô 70.000 tỷ đồng hướng đến các động lực tăng trưởng kinh tế và doanh nghiệp nhỏ và vừa, tiếp tục khẳng định vai trò Ngân hàng thương mại Nhà nước trụ cột, tiên phong đồng hành thúc đẩy phát triển nền kinh tế đạt mục tiêu tăng trưởng hai con số.

Theo đó, chương trình được triển khai từ tháng 8-2026 đến năm 2028, lãi suất ưu đãi giảm từ 1,0% - 2,0%/năm so với lãi suất cho vay bình quân cùng kỳ hạn của Agribank, áp dụng với khách hàng doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs), doanh nghiệp và cá nhân kinh doanh thuộc lĩnh vực ưu tiên, các động lực tăng trưởng kinh tế như: nông nghiệp nông thôn, công nghiệp hỗ trợ, doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao, xuất khẩu, kinh tế số, trí tuệ nhân tạo, công nghiệp bán dẫn, chế biến, chế tạo, các dự án thuộc Danh mục phân loại xanh...

Dư địa nằm ở hiệu quả vận hành

Để giảm lãi suất một cách bền vững, các ngân hàng cần chuyển từ tư duy cạnh tranh bằng lãi suất huy động sang cạnh tranh bằng chất lượng dịch vụ, công nghệ và hiệu quả quản trị. Một trong những hướng đi quan trọng là đẩy mạnh số hóa quy trình tín dụng. Khi hồ sơ được chuẩn hóa, dữ liệu được kết nối và các khâu thẩm định, phê duyệt được tự động hóa ở mức phù hợp, ngân hàng có thể giảm đáng kể chi phí xử lý hồ sơ, thời gian giao dịch và chi phí nhân sự.

Cùng với đó, việc phát triển các mô hình chấm điểm tín dụng dựa trên dòng tiền thực tế cũng có thể giúp ngân hàng định giá rủi ro chính xác hơn. Đây là vấn đề đặc biệt quan trọng đối với khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa. Trên thực tế, không ít doanh nghiệp có đơn hàng, dòng tiền và mô hình kinh doanh khả thi nhưng gặp khó khăn khi tiếp cận tín dụng do thiếu tài sản bảo đảm hoặc hệ thống báo cáo tài chính chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu.

Theo các chuyên gia, cần tăng tỷ trọng đánh giá doanh nghiệp dựa trên dòng tiền thực, hóa đơn điện tử, lịch sử thuế, hợp đồng đầu ra và năng lực quản trị. Khi ngân hàng có đủ dữ liệu để đánh giá đúng sức khỏe doanh nghiệp, việc định giá khoản vay sẽ sát với rủi ro thực tế hơn. Khi rủi ro được nhận diện chính xác, ngân hàng có cơ sở để đưa ra mức lãi suất cạnh tranh cho những khách hàng có chất lượng tín dụng tốt, thay vì áp dụng mặt bằng lãi suất cao để bù đắp rủi ro chung. Đây cũng là cách để giảm lãi suất mà không làm suy giảm chuẩn mực an toàn tín dụng.

Một trong những vấn đề được đặt ra sau chỉ đạo giảm lãi suất là làm thế nào để đo lường hiệu quả thực tế của chính sách. PGS. TS. Nguyễn Văn Phương - giảng viên Trường Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội cho rằng điều quan trọng không chỉ nằm ở việc ngân hàng công bố mức lãi suất thấp hơn, mà phải xác định được người dân và doanh nghiệp thực tế được hưởng lợi bao nhiêu.

Theo ông Phương, cơ quan quản lý nên tăng cường cơ chế kiểm chứng kết quả. Có thể công bố định kỳ lãi suất cho vay bình quân theo nhóm khách hàng, kỳ hạn và lĩnh vực ưu tiên; theo dõi tỷ lệ giải ngân thực tế của các chương trình tín dụng ưu đãi; đồng thời tiếp nhận và xử lý phản ánh về các khoản phí, điều kiện tín dụng có thể làm gia tăng chi phí vốn thực tế.

Đây là điểm then chốt. Bởi một chương trình tín dụng có mức lãi suất công bố thấp nhưng hạn mức nhỏ, điều kiện tiếp cận quá chặt hoặc chủ yếu giải ngân cho nhóm khách hàng vốn đã có chất lượng tín dụng tốt thì tác động lan tỏa tới nền kinh tế sẽ hạn chế. Ngược lại, nếu tín dụng được phân bổ đúng vào những doanh nghiệp có phương án sản xuất, kinh doanh khả thi nhưng đang gặp khó khăn về vốn, hiệu quả của việc giảm lãi suất sẽ được nhân lên thông qua đầu tư, sản xuất, việc làm và sức mua. Vì vậy, đánh giá chính sách tín dụng không nên chỉ dựa vào con số lãi suất niêm yết, mà cần nhìn vào chi phí vốn thực tế mà khách hàng phải trả và khả năng tiếp cận vốn của họ.

Ở chiều ngược lại, giảm lãi suất không thể chỉ là câu chuyện của ngân hàng. Doanh nghiệp cũng cần chủ động cải thiện khả năng tiếp cận vốn. Đặc biệt với doanh nghiệp nhỏ và vừa, việc minh bạch hóa báo cáo tài chính, tách bạch dòng tiền cá nhân và dòng tiền doanh nghiệp, chuẩn hóa hóa đơn, chứng từ, xây dựng kế hoạch dòng tiền và chủ động thương lượng cơ cấu khoản vay sẽ giúp giảm đáng kể những rào cản khi tiếp cận tín dụng.

Theo PGS. TS. Nguyễn Văn Phương, giảm lãi suất thực chất không đơn thuần là yêu cầu ngân hàng hy sinh một phần lợi nhuận. Đây là bài toán tổng thể liên quan tới chi phí vốn, thanh khoản, chất lượng tín dụng, hiệu quả vận hành và mức độ minh bạch của thị trường. Trong dài hạn, muốn có mặt bằng lãi suất cho vay hợp lý, nền kinh tế cần một hệ thống ngân hàng có chi phí hoạt động thấp, quản trị rủi ro tốt, khả năng huy động nguồn vốn ổn định và năng lực phân bổ vốn hiệu quả.

Đọc tiếp

Mới nhất

GIẢM LÃI SUẤT NGÂN HÀNG: Quan trọng là vốn rẻ phải đến đúng người vay