Logo-print CƠ QUAN CỦA TRUNG ƯƠNG HỘI - TIẾNG NÓI CỦA CỰU CHIẾN BINH VIỆT NAM

Tôi tin ông, Đại sứ Marc E. Knapper!

VỮNG NGUYỄN 18/01/2026 - 17:00

Những ngày cuối nhiệm kỳ của Đại sứ Hoa Kỳ Marc E. Knapper tại Việt Nam gợi một cảm giác đặc biệt, không ồn ào, không phô trương, nhưng đủ để người ta nhận ra một “lời chào” được gửi đi bằng hành động.

Chuyến thăm Đài tưởng niệm Bắc Sơn và Cơ quan Tìm kiếm Tù binh và Người mất tích (DPAA) tại Hà Nội của Đại sứ Marc E. Knapper được phía Đại sứ quán Hoa Kỳ tại Việt Nam thông tin như những hoạt động chính thức cuối cùng không chỉ là nghi thức ngoại giao. Đó là lựa chọn giàu biểu tượng đi từ ký ức chiến tranh đến trách nhiệm nhân đạo, từ quá khứ nhiều vết thương đến tương lai cần thêm niềm tin.

Ở nghĩa đó, tôi tin ông Knapper không phải bằng cảm tính cá nhân, mà bằng những dấu mốc và việc làm cụ thể mà nhiệm kỳ của ông đã để lại.

Niềm tin được tạo bởi cách ứng xử với lịch sử

dai-su-hoa-ky-marc-e-knapper-10-1552
“Tôi rất vinh dự được đến chào tạm biệt Tổng Bí thư Tô Lâm. Tôi xin bày tỏ sự trân trọng sâu sắc đối với vai trò lãnh đạo của ngài, cũng như những bước tiến mà chúng ta đã cùng nhau đạt được trong việc củng cố quan hệ đối tác Hoa Kỳ–Việt Nam. Khi rời Việt Nam, tôi mang theo niềm tin vững chắc rằng Quan hệ Đối tác Chiến lược Toàn diện của chúng ta sẽ tiếp tục phát triển, góp phần mang lại hòa bình và thịnh vượng lớn hơn cho cả hai quốc gia.” - Đại sứ Knapper viết trên trang U.S. Embassy in Hanoi (Đại sứ quán Hoa Kỳ tại Hà Nội).

Trong nhiều năm qua, hợp tác khắc phục hậu quả chiến tranh là một “trụ cột đặc biệt” của quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ vừa nhân đạo, vừa chính trị, vừa là thước đo thiện chí.

Năm 2025, hai bên tiếp tục làm dày trụ cột ấy bằng các khuôn khổ hợp tác mới, trong đó có bản ghi nhớ tăng cường phối hợp ở nhiều lĩnh vực như: Rà phá bom mìn; hỗ trợ người khuyết tật và nạn nhân chất độc da cam/dioxin; xử lý dioxin tại các “điểm nóng”; hỗ trợ tìm kiếm, quy tập, định danh hài cốt liệt sĩ Việt Nam và hợp tác tìm kiếm quân nhân Hoa Kỳ mất tích.

Những con số đi kèm cho thấy hợp tác không dừng ở khẩu hiệu. Theo thông tin được VietnamPlus dẫn lại, Hoa Kỳ đã hỗ trợ cải thiện chất lượng sống cho hơn 30.000 nạn nhân chất độc da cam/dioxin và người khuyết tật tại 6 tỉnh bị phun rải nặng; đồng thời hoạt động tìm kiếm đã góp phần trao trả hơn 990 bộ hài cốt quân nhân Hoa Kỳ mất tích trong chiến tranh.

Những con số này không phải để “kể công”, mà để nhận diện một điều, khi hai bên cùng đặt sinh mệnh con người và nghĩa cử nhân đạo lên trước, lòng tin sẽ được bồi đắp một cách lặng lẽ nhưng chắc chắn.

Ở chiều ngược lại, nỗ lực rà phá bom mìn, trong đó Quân đội ta giữ vai trò nòng cốt cũng là nền tảng tạo lập môi trường sống an toàn, phục vụ phát triển.

Một bài viết trên Cổng Thông tin điện tử Bộ Quốc phòng nêu kết quả rà phá trên phạm vi toàn quốc với hàng chục nghìn héc-ta, trong đó lực lượng Quân đội thực hiện phần lớn khối lượng.

Đó là công việc dài hơi, cần nguồn lực bền bỉ và hợp tác quốc tế thực chất, một lĩnh vực mà trong nhiệm kỳ của Đại sứ Knapper, hai bên tiếp tục thúc đẩy theo hướng bài bản hơn.

Ngoại giao của sự tôn trọng và trách nhiệm

dai-su-hoa-ky-marc-e-knapper-3-1553
Sáng 18-1, trang U.S. Embassy in Hanoi (Đại sứ quán Hoa Kỳ tại Hà Nội) đưa tin: Trước khi kết thúc nhiệm kỳ, Đại sứ Knapper đã có những hoạt động chính thức cuối cùng bao gồm chuyến thăm tới Đài tưởng niệm Bắc Sơn và Cơ quan Tìm kiếm Tù binh và Người mất tích (DPAA) tại Hà Nội. Tôn vinh lịch sử chung giữa Hoa Kỳ và Việt Nam cũng như cam kết chung đối với hòa bình và ổn định trong khu vực nhấn mạnh sự tôn trọng lẫn nhau bền chặt, đồng thời mở ra cơ hội tiếp tục củng cố quan hệ Hoa Kỳ - Việt Nam trong tương lai. 

Điều đáng nói là ông Knapper không chỉ xuất hiện ở các cuộc gặp cấp cao hay những sự kiện nghi lễ. Trong không ít dịp, ông chọn cách tiếp cận “đi tới tận nơi, nhìn tận mắt” từ các hoạt động nhân đạo đến các chương trình hợp tác phát triển.

Điều này tạo nên một phong cách ngoại giao gần gũi nhưng thận trọng, mềm mỏng nhưng rõ mục tiêu, đúng với yêu cầu của một giai đoạn quan hệ đang chuyển từ “bình thường hóa” sang “hợp tác sâu”.

Việc hai nước nâng cấp quan hệ lên Đối tác Chiến lược Toàn diện (năm 2023) đặt ra đòi hỏi cao hơn về niềm tin chính trị và hiệu quả hợp tác.

Ở những thời điểm mang tính biểu tượng, ông Knapper cũng dành sự tôn trọng cần thiết cho ký ức và hy sinh của Việt Nam.

Chuyến viếng Đài tưởng niệm Bắc Sơn (gắn với tri ân các anh hùng liệt sĩ) từng được truyền thông trong nước phản ánh như một hoạt động có ý nghĩa, thể hiện thái độ trân trọng lịch sử và tinh thần hòa giải. Đến khi nhiệm kỳ khép lại, việc ông tiếp tục chọn Bắc Sơn và DPAA như những điểm dừng chân cuối cùng càng làm rõ một thông điệp hợp tác tương lai muốn bền thì quá khứ phải được ứng xử bằng trách nhiệm.

Bởi vậy, “tôi tin” ở đây không phải là tin vào những lời mỹ miều, mà tin vào một cách làm là, đặt lòng tin trên nền tảng hành động; đặt quan hệ song phương trên nền tảng tôn trọng lẫn nhau; và đặt lợi ích lâu dài trên nền tảng hòa bình, ổn định của khu vực.

Dấu ấn nhiệm kỳ - khi quan hệ đi vào chiều sâu thực chất

dai-su-hoa-ky-marc-e-knapper-6-1551

Ngày 13-1, tại Hà Nội, thừa ủy quyền của Chủ tịch nước Lương Cường, Bí thư Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Lê Hoài Trung đã trao tặng Huân chương Hữu nghị cho Đại sứ đặc mệnh toàn quyền Hợp chúng quốc Hoa Kỳ tại Việt Nam Marc Evans Knapper. Huân chương Hữu nghị là phần thưởng cao quý của Nhà nước Việt Nam dành cho cá nhân và tập thể nước ngoài có những đóng góp to lớn, tích cực trong việc xây dựng, củng cố và phát triển tình hữu nghị, đoàn kết và hợp tác giữa Việt Nam với các nước trên thế giới.

Nhìn lại nhiệm kỳ Đại sứ Knapper, có thể thấy ông hiện diện ở nhiều “mạch” hợp tác từ khắc phục hậu quả chiến tranh, giáo dục, giao lưu nhân dân, đến kinh tế, môi trường.

Truyền thông Việt Nam thời gian gần đây cũng điểm lại những dấu ấn hợp tác trong các lĩnh vực nông nghiệp - môi trường, cho thấy bức tranh quan hệ không chỉ nằm ở “chính trị cấp cao”, mà lan tỏa xuống những hợp tác cụ thể gắn với sinh kế, phát triển bền vững.

Ở phương diện đối ngoại Nhà nước, việc lãnh đạo cấp cao Việt Nam tiếp Đại sứ Hoa Kỳ đến chào từ biệt và đánh giá cao đóng góp của ông cho quan hệ song phương cũng là một chỉ dấu quan trọng về mức độ tin cậy chính trị.

Cùng với đó, việc Đại sứ Knapper được trao tặng Huân chương Hữu nghị là sự ghi nhận chính thức cho những đóng góp trong nhiệm kỳ, đồng thời phát đi tín hiệu tích cực về triển vọng tiếp nối.

Những cuộc gặp, những phần thưởng, những phát biểu chia tay… dĩ nhiên là “ngoại giao”. Nhưng ngoại giao chỉ có sức nặng khi phản ánh đúng thực tiễn. Và thực tiễn ở đây là, sau ba thập niên bình thường hóa quan hệ (1995-2025), hai nước đã vượt qua nhiều khác biệt để mở ra hợp tác ngày càng đa tầng, đa lĩnh vực, trong đó phần “khó nhất”, “nhạy cảm nhất” là hậu quả chiến tranh lại đang được thúc đẩy theo hướng thực chất hơn.

Một lời hẹn tiếp tục tin vào tương lai hợp tác vì hòa bình

dai-su-hoa-ky-marc-e-knapper-11-1604
Sau khi đến chào Đại tướng Phan Văn Giang, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng nhân dịp kết thúc nhiệm kỳ công tác tại Việt Nam, Đạisứ Knapper viết trên U.S. Embassy in Hanoi (Đại sứ quán Hoa Kỳ tại Hà Nội): “Trong buổi gặp chào từ biệt với Bộ trưởng Quốc phòng, Đại tướng Phan Văn Giang, chúng tôi đã trao đổi về bốn năm hợp tác chặt chẽ nhằm hỗ trợ chủ quyền và công cuộc hiện đại hóa của Việt Nam. Hai bên đã cùng phối hợp giải quyết nhiều vấn đề từ khắc phục những vấn đề còn tồn lại sau chiến tranh đến hiện đại hóa các hệ thống không quân và hải quân, và quan hệ song phương của chúng ta đang tiếp tục phát triển thông qua Quan hệ Đối tác Chiến lược Toàn diện”.

Trong bối cảnh môi trường khu vực và thế giới biến động nhanh, điều mà Việt Nam cần nhất cho đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ là một mạng lưới quan hệ tin cậy, cân bằng, vì hòa bình và phát triển.

Quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ muốn bền vững thì phải đi đúng “đường ray” ấy, là tôn trọng thể chế chính trị của nhau, tôn trọng lợi ích cốt lõi của nhau, tăng hợp tác thực chất, giảm tối đa nghi kỵ, và không để bất cứ ai kéo quan hệ vào những tính toán đối đầu.

Vì vậy, khi Đại sứ Knapper khép lại nhiệm kỳ bằng những điểm đến như Bắc Sơn và DPAA, tôi xem đó là một lời nhắc rằng, lịch sử không thể bị lãng quên, nhưng lịch sử cũng không nên là bức tường. Nó có thể trở thành cây cầu, nếu hai bên đủ thiện chí và đủ kiên trì.

Với bạn đọc Báo Cựu Chiến binh Việt Nam, những biểu tượng ấy càng dễ chạm. Bởi hòa giải và hợp tác bền vững không thể bắt đầu từ chỗ “quên đi” lịch sử, mà phải khởi đi từ việc nhìn thẳng vào lịch sử, tôn trọng hy sinh, và kiên trì xử lý những hệ lụy còn lại.

Tôi tin ông, Đại sứ Knapper - vì những việc ông chọn làm vào lúc kết thúc nhiệm kỳ.

Niềm tin ấy cũng là niềm tin vào một hướng đi Việt Nam và Hoa Kỳ có thể tiếp tục củng cố quan hệ trên nền tảng tôn trọng lẫn nhau, trách nhiệm với quá khứ, và cùng vun đắp hòa bình, ổn định, hợp tác cùng có lợi trong tương lai.

Đọc tiếp

Mới nhất

Tôi tin ông, Đại sứ Marc E. Knapper!