Logo-print CƠ QUAN CỦA TRUNG ƯƠNG HỘI - TIẾNG NÓI CỦA CỰU CHIẾN BINH VIỆT NAM

Công bằng chính sách với người có công

Trung tướng TRẦN BÁ THIỀU • 26/10/2026 - 12:46

Tri ân người có công là nguyên tắc không thể tranh luận. Nhưng tri ân không đồng nghĩa với cào bằng. Đây là vấn đề cần được nhìn thẳng.

Cả nước hiện có khoảng 9,2 triệu người có công với cách mạng, trong đó khoảng 1,2 triệu người đang hưởng trợ cấp hằng tháng; hơn 1,2 triệu liệt sĩ, khoảng 140.000 Bà mẹ Việt Nam anh hùng và khoảng 600.000 thương binh, bệnh binh. Trong khối lượng ấy, có những nhóm trực tiếp tham gia kháng chiến, chiến tranh bảo vệ Tổ quốc và làm nhiệm vụ quốc tế đang hưởng chính sách theo những quyết định khác nhau của Nhà nước ở những thời kỳ khác nhau. Nhiều người trong số họ nay đã tuổi cao, sức khỏe giảm sút, đời sống còn khó khăn, có những ý kiến đề nghị tiếp tục hoàn thiện chính sách. Đó là những nguyện vọng có cơ sở về tình cảm và đạo lý.

Thế nhưng, công bằng chính sách không phải là chia đều quyền lợi, mà là bảo đảm sự tương xứng giữa công lao, mức độ hy sinh, thời gian cống hiến, hậu quả do chiến tranh để lại và hoàn cảnh chính đáng của từng nhóm - trên những tiêu chí minh bạch, thống nhất và có thể kiểm chứng.

Nếu mở rộng chính sách mà không xác định rõ tiêu chí, chúng ta có thể tạo ra một nghịch lý: Giải quyết được bất cập của nhóm này nhưng lại làm phát sinh cảm giác bất công ở nhóm khác. Ngược lại, nếu quá thận trọng vì sợ mở rộng đối tượng, chúng ta có thể bỏ sót những người thực sự xứng đáng. Yêu cầu đặt ra vì thế không phải là “mở rộng càng nhiều càng tốt”, mà là “ghi nhận đúng, đủ, công bằng và có căn cứ”. Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạng mới được sửa đổi đã đi theo hướng đó. Việc bỏ điều kiện hành động phải “đặc biệt dũng cảm” khi xem xét công nhận liệt sĩ là một ví dụ: Tiêu chí cũ vốn định tính, khó chứng minh sau nhiều thập niên, và trên thực tế đã trở thành rào cản đối với chính những trường hợp xứng đáng. Việc cho phép xem xét công nhận khi hồ sơ không đầy đủ nhưng có căn cứ thực tiễn và lịch sử rõ ràng cũng vậy - đó là cách pháp luật thừa nhận rằng chiến tranh không để lại giấy tờ ngay ngắn.

Nhưng chính ở đây, sự cởi mở đặt ra một yêu cầu ngược lại: Càng nới điều kiện hồ sơ thì càng phải siết chặt kỷ luật thẩm định. Thực tế nhiều năm qua cho thấy đã từng có hiện tượng khai man, làm giả hồ sơ để trục lợi chính sách người có công. Mỗi hồ sơ giả được duyệt không chỉ làm thất thoát ngân sách; nó xúc phạm trực tiếp những người thật sự đã đổ máu. Vì vậy, đi cùng với việc mở rộng phải là cơ chế thẩm định nhiều lớp, công khai danh sách tại cộng đồng dân cư, đó là nơi hiểu rõ nhất ai đã đi, ai đã ở lại và xử lý nghiêm những trường hợp lợi dụng. Kiểm tra, giám sát ở đây không phải là sự nghi ngờ đối với người có công, đó là cách bảo vệ danh dự của chính họ.

Từ đó, tôi cho rằng cần tiếp tục rà soát toàn bộ hệ thống chính sách để phát hiện, phân loại và giải quyết những trường hợp còn tồn đọng qua các thời kỳ - nhất là những trường hợp chưa được ghi nhận hoặc chưa được giải quyết đầy đủ do điều kiện lịch sử, do hồ sơ và do quy định pháp luật của từng giai đoạn. Đó mới là cách tri ân có trách nhiệm.

 Việc chăm lo người có công không chỉ là đạo lý, nó còn là một mặt trận tư tưởng. Trong khi cả nước tri ân, vẫn có những tiếng nói tìm cách xuyên tạc lịch sử, phủ nhận giá trị và tính chính nghĩa của các cuộc kháng chiến, hoặc lợi dụng những vướng mắc trong giải quyết chế độ để kích động so bì, chia rẽ giữa các nhóm đối tượng. Cách bác bỏ hiệu quả nhất không phải là tranh luận, mà là làm cho chính sách chạy đúng: Người xứng đáng được ghi nhận kịp thời, người khó khăn được chăm lo thực chất. Một chính sách được thực hiện tử tế là lập luận vững nhất.

Người có công của mỗi thời kỳ rồi sẽ ít dần theo quy luật của thời gian. Nhưng điều đó không có nghĩa chính sách người có công sẽ trở thành một chính sách chỉ dành cho quá khứ. Bởi đất nước còn tồn tại thì sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc còn tiếp diễn; còn sự nghiệp ấy thì vẫn có những con người cống hiến, hy sinh đặc biệt cần được ghi nhận. Chính Pháp lệnh mới đã thừa nhận thực tế đó khi bổ sung diện được xem xét đối với những người bị thương, hy sinh trong đấu tranh phòng, chống tội phạm ngay trong thời bình.

Vì vậy, điều cần xây dựng không chỉ là một hệ thống chính sách chăm lo tốt cho người có công hôm nay, mà là một thiết chế tri ân có tính kế thừa giữa các thế hệ. Đối tượng cụ thể của chính sách có thể thay đổi theo từng thời kỳ, nhưng nguyên tắc tri ân phải được duy trì ổn định. Chính sách người có công phải được thiết kế như một thiết chế lâu dài của Nhà nước, chứ không phải một chương trình nhằm “giải quyết nốt” một thế hệ.

Một chính sách tốt trên văn bản chưa phải là một chính sách tốt trong đời sống. Khoảng cách giữa quyền được hưởng và khả năng tiếp cận quyền đó chính là thách thức lớn nhất của giai đoạn tới.

Người có công tuổi cao không thể phải đi lại nhiều lần chỉ để hoàn thiện một thủ tục. Một gia đình chính sách không nên phải tự mình đi tìm hiểu xem mình được hưởng chế độ nào. Một hồ sơ lịch sử phức tạp không thể chỉ được nhìn như một tập giấy tờ thiếu vài chứng nhận, mà phải được đặt trong tổng thể dữ liệu, nhân chứng và hoàn cảnh lịch sử.

 Điều còn lại lâu nhất không phải là hồ sơ, quyết định trợ cấp hay những tấm bằng ghi công. Điều còn lại là ký ức về sự hy sinh ấy có tiếp tục sống trong tâm thức xã hội hay không, và những người đang gánh vác nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc hôm nay có tin rằng sự cống hiến của họ sẽ được đất nước ghi nhận hay không.

Một đất nước phát triển không chỉ được đo bằng tốc độ tăng trưởng hay mức sống, mà còn bằng cách đất nước ấy đối xử với những người đã hy sinh để làm nên độc lập, hòa bình và sự phát triển.

Đọc tiếp

Mới nhất

Công bằng chính sách với người có công