Logo-print CƠ QUAN CỦA TRUNG ƯƠNG HỘI - TIẾNG NÓI CỦA CỰU CHIẾN BINH VIỆT NAM

Đi qua hai mùa chiến thắng

Ghi chép của Nguyễn Cúc theo lời kể của CCB Nguyễn Ngọc Quang • 26/10/2026 - 12:23

Từ cậu bé 10 tuổi đón đoàn quân giải phóng năm 1954 đến người lính Quân chủng Phòng không - Không quân hạ gục “pháo đài bay” B-52 năm 1972, góp phần làm nên chiến thắng vĩ đại “Hà Nội - Điện Biên Phủ trên không” chấn động địa cầu. Đó là cựu chiến binh (CCB) Nguyễn Ngọc Quang - nhân chứng lịch sử của hai thời khắc vĩ đại nhất của Thủ đô...

ntkq-1667-2

Hà Nội tưng bừng đón chào Đoàn quân chiến thắng trở về.

Ảnh: TL

Từ ánh mắt trẻ thơ đón đoàn quân chiến thắng...

CCB Nguyễn Ngọc Quang bồi hồi xúc động lật mở từng trang ký ức: Khi ấy, tôi mới chỉ là một cậu bé mười tuổi. Đầu óc non nớt của một đứa trẻ chưa thể định nghĩa nổi những khái niệm lớn lao, nhưng tôi cảm nhận rất rõ bước đi của lịch sử qua bầu không khí lạ kỳ của Hà Nội. Những ngày trước đó, phố phường im lìm, có chút căng thẳng và bảng lảng sương thu, giống như một chiếc lò xo đang nén chặt, hồi hộp chờ đợi một điều gì hệ trọng sắp sửa diễn ra. Và rồi, ngày 10-10-1954 lịch sử cũng đến. Ngày mà cả Hà Nội vỡ òa trong niềm hân hoan đón chào đoàn quân chiến thắng trở về.

Từ sáng sớm, bầu trời thu Hà Nội trong vắt, gió heo may se lạnh tràn về trên những mái ngói rêu phong. Cả thành phố như bừng tỉnh sau một giấc ngủ dài, người dân đổ ra đường đông như trẩy hội. Ai nấy đều chọn cho mình bộ quần áo tươm tất, đẹp đẽ nhất. Trên tay mỗi người là những lá cờ đỏ sao vàng tự may bí mật trong đêm, nhưng sắc đỏ thì rực rỡ đến nao lòng.

Khi tiếng loa phóng thanh vang lên, cũng là lúc Đoàn quân chiến thắng từ khắp năm cửa ô trùng trùng, điệp điệp tiến vào. Trong đôi mắt trẻ thơ của tôi ngày ấy, hình ảnh các chú bộ đội đội mũ nan phủ lưới, vai đeo súng, nước da sạm đen vì sương gió chiến trường nhưng nụ cười rạng rỡ, sáng ngời ánh thép, chính là biểu tượng kiêu hùng nhất.

Tôi chen chúc giữa biển người cuồn cuộn, cố kiễng đôi bàn chân nhỏ bé, rướn người lên rồi reo hò đến khản cả cổ. Cái cảm giác phấn khích đến tột cùng của đứa trẻ mười tuổi khiến tôi quên cả sợ hãi, cứ thế chạy bộ lao theo những chiếc xe bọc thép, vẫy tay chào đón các chú bộ đội trong tiếng hoan hô vang dội cả góc trời. Những bước chân rầm rập và hình ảnh kiêu hùng của đoàn quân ngày ấy đã gieo vào tâm hồn tôi một đốm lửa, một ước mơ cháy bỏng: Lớn lên sẽ trở thành một người lính để bảo vệ cuộc sống yên bình này. Rồi, không thể ngờ rằng, đúng mười tám năm sau, chính mình lại là người trực tiếp cầm súng, canh giữ và bảo vệ bầu trời Thủ đô trước mưa bom bão đạn của kẻ thù...

...Đến người lính canh trời Hà Nội

Sau ngày giải phóng Thủ đô (10-10-1954), lịch sử lại đặt tôi trước một thử thách mới. Tôi đã khoác lên mình bộ quân phục màu xanh kiêu hãnh của người lính phòng không, mang trên vai trọng trách thiêng liêng: Bảo vệ bầu trời Thủ đô yêu dấu.

Mùa đông năm 1972, Nhà Trắng điên cuồng vạch chiến dịch Linebacker II, dùng “pháo đài bay” B-52 - thứ vũ khí hủy diệt tối tân nhất bấy giờ hòng san phẳng Hà Nội. Tháng Chạp năm ấy, cả Hà Nội không có đêm. Những tốp B-52 liên tiếp trút bom xuống Khâm Thiên, Bệnh viện Bạch Mai, Yên Viên... Đất trời rung chuyển dữ dội. Không gian liên tục bị xé toạc bởi tiếng còi báo động rít lên liên hồi...

Trong những ngày đêm rực lửa ấy, trận địa phòng không của chúng tôi luôn đặt trong trạng thái sẵn sàng chiến đấu cao độ. Trên mâm pháo, khói súng khét lẹt, sương đêm lạnh buốt thấu xương nhưng không một ai rời vị trí. Mỗi khi khẩu lệnh “Nhằm thẳng quân thù mà bắn!” vang lên đanh thép giữa trận địa, tiếng pháo cao xạ của chúng tôi cùng tên lửa ta dồn dập nhả đạn, đan thành những lưới lửa “thiên la địa võng” quyết liệt đánh trả. Chúng tôi siết cò không chỉ bằng vũ khí, mà bằng cả ý chí và một niềm tin son sắt: Hà Nội nhất định không bao giờ khuất phục!

Và cái đêm định mệnh 18-12-1972 ấy đã găm vào tâm khảm tôi như một dấu son chói lọi. Đó là đêm mở màn chiến dịch, cả Hà Nội nín thở chứng kiến tận mắt “siêu pháo đài bay” B-52 đầu tiên bị tên lửa của ta bắn hạ. Giữa nền trời đêm đậm đặc khói súng, con quái vật kiêu ngạo của không lực Hoa Kỳ bùng cháy ngùn ngụt như một cây đuốc khổng lồ rồi kéo theo đuôi lửa rực trời, đâm sầm xuống cánh đồng Chuôm thuộc xã Phù Lỗ (nay là xã Sóc Sơn, Hà Nội). Khoảnh khắc nhìn “thần sấm B-52” tan xác, trận địa chúng tôi và cả Hà Nội như nổ tung trong niềm sung sướng vỡ òa. Mười tám năm trước, tôi đón vinh quang bằng ánh mắt trẻ thơ; mười tám năm sau, tôi trực tiếp cầm súng góp phần bắt kẻ thù phải đền tội ngay trên mảnh đất quê hương.

Máu đồng đội nhuộm đỏ vành mũ và sự bình yên trên hố bom xưa...

ntkq-1667-1

Lưới lửa phòng không bảo vệ bầu trời Hà Nội.

Ảnh: TL

Chiến tranh khốc liệt và tàn nhẫn đến tột cùng, nó không phải là những con số thống kê khô khan mà là những vết cắt rướm máu trong lòng người ở lại. Trên trận địa rực lửa năm ấy, ranh giới giữa sự sống và cái chết chỉ mỏng manh như làn gió nhẹ. Có những người đồng đội vừa mới ban chiều còn ngồi chia nhau hớp nước, tếu táo kể cho nhau nghe về những dự định tương lai trước giờ trực chiến. Vậy mà chỉ ít giờ sau, khi loạt bom rải thảm của kẻ thù trút xuống, họ đã mãi mãi nằm lại bên mâm pháo. Có người nằm xuống khi tuổi đời mới mười chín, đôi mươi, chưa một lần kịp về thăm lại người mẹ nơi quê nhà. Có người mang theo cả mối tình đầu dang dở và những ước mơ thanh xuân gửi vào lòng đất mẹ.

Nhưng đau thương đâu chỉ gói gọn nơi trận tuyến chống quân thù. Các thế hệ người Việt Nam nói chung và nhân dân Thủ đô Hà Nội nói riêng mãi mãi sẽ không bao giờ quên những tội ác man rợ, tột cùng mà đế quốc Mỹ đã gây ra cho mảnh đất này. Chỉ tính riêng ở Hà Nội, bom từ máy bay B-52 trút xuống hàng loạt đã xới tung khu dân cư từ phố Khâm Thiên, Bệnh viện Bạch Mai, đến Gia Lâm, Yên Viên, Uy Nỗ...

Thảm kịch ấy đã cướp đi sinh mạng của 2.368 người dân, làm 1.355 người khác bị thương và đánh sập hoàn toàn 5.480 ngôi nhà. Đặc biệt, khu phố Khâm Thiên, vệt bom rải thảm kéo dài hàng ki-lô-mét đã san phẳng 2.265 ngôi nhà, cướp đi mạng sống của 287 con người và làm hàng trăm người mang thương tật suốt đời. Ngay tại mảnh đất Kim Anh - Đa Phúc (ngoại thành Hà Nội), kẻ thù đã trút xuống một khối lượng chất nổ khổng lồ: 5.542 quả bom tấn, 78 thùng bom bi với hơn 30.000 quả bom cam, cùng 600 quả bom xuyên và hàng chục quả tên lửa. Đòn thù ấy đã tàn sát 374 người dân vô tội, mà đỉnh điểm đau thương là thôn Ninh Kiều, xã Tân Dân (nay là xã Kim Anh, Hà Nội) khi hơn 300 nếp nhà bị thổi bay trong chớp mắt, hàng trăm sinh mạng người dân vô tội phải nằm sâu dưới đất lạnh. Nhưng bom đạn có thể nghiền nát gạch đá, chứ không thể khuất phục nổi ý chí của những con người mang dòng máu Lạc Hồng.

Tiếp lửa truyền thống cho thế hệ mai sau

Hơn nửa thế kỷ đã lùi xa, thời gian chữa lành những vết thương trên thịt da, Hà Nội hôm nay đã thay đổi mạnh mẽ. Những hố bom rỉ máu năm nào nay đã được san phẳng, nhường chỗ cho những đại lộ rộng mở thênh thang, những khu đô thị hiện đại ngập tràn sắc xanh và những cây cầu sừng sững vươn mình qua sông Hồng lộng gió.

Đất nước hòa bình nhưng nỗi nhớ chẳng thể nguôi. Mỗi lần qua những góc phố từng xơ xác vì bom đạn, nhìn trẻ thơ ríu rít đến trường, tôi lại nghẹn ngào nhớ về đồng đội cũ. Thấp thoáng trong sắc nắng Thủ đô, họ như vẫn ở đó - những người đã gửi lại tuổi xuân để đổi lấy màu xanh độc lập. Sự bình yên đó chính là tượng đài bất tử được dựng lên từ máu xương của những người con ngã xuống vì Hà Nội hôm nay.

Một ngày cuối tuần, tôi đưa cháu nội nhỏ tuổi đến thăm Bảo tàng Chiến thắng B-52 nằm trên phố Đội Cấn. Đứng trước khối xác thép khổng lồ của chiếc máy bay B-52 đang phơi mình dưới nắng thu, cháu ngước đôi mắt tròn xoe, thơ ngây nhìn ông rồi hỏi: “Ông ơi, đây là chiếc máy bay thật à?”

Tôi khẽ gật đầu, bàn tay già nua đầy vết chai sần vô thức đặt lên lớp vỏ kim loại sẫm màu đã hoen gỉ theo năm tháng. Chạm vào xác máy bay giặc mà cứ ngỡ như đang chạm vào lồng ngực của ký ức. Tôi chậm rãi kể cho cháu nghe về mười hai ngày đêm khói lửa của tháng Chạp năm 1972 năm ấy. Kể về những đêm đông khuya khoắt, khi tiếng còi báo động vừa rít lên xé rách màn sương, cả Hà Nội chìm trong vầng lửa đạn bom. Lúc ấy, ông và những người đồng đội chỉ kịp lao nhanh vào trận địa, ôm lấy mâm pháo với một niềm tin duy nhất: Phải giữ bằng được bầu trời Thủ đô yêu dấu, quyết không thể gục ngã. Đứa cháu nội của tôi im lặng lắng nghe, đôi bàn tay nhỏ bé của nó bỗng nắm chặt lấy tay ông, thỏ thẻ: “Thế lúc đó ông có sợ không ạ?”

Tôi mỉm cười nhìn cháu, lòng trào dâng một niềm bao dung: “Có chứ cháu. Trước cái chết và bom đạn hủy diệt, ai mà không sợ. Nhưng ngay trước mắt ông lúc đó là Hà Nội, là gia đình, là Nhân dân và Tổ quốc mình. Vì thế, ông và đồng đội của ông không ai được phép lùi bước, dù chỉ một ly!”

Lúc rời bảo tàng, đứa cháu nhỏ bất ngờ quay đầu lại nhìn khối xác máy bay thêm một lần nữa, rồi thì thầm vào tai ông nội như đang tự hứa với chính mình: “Bây giờ cháu mới hiểu vì sao ông luôn dặn chúng cháu phải yêu đất nước mình”.

Nghe câu nói ấy của đứa trẻ, tôi hiểu ra rằng, những câu chuyện chiến tranh khốc liệt sẽ không bao giờ là những trang sách cũ đóng bụi, nó sẽ luôn sống mãi và lay động lòng người khi được truyền lại bằng ký ức chân thật của những người đã đi qua giông bão. Có lẽ, đó cũng chính là cách mà những CCB chúng tôi chọn để tiếp tục cống hiến trong thời bình bằng việc trao truyền ngọn lửa yêu nước cho thế hệ mai sau.

Đọc tiếp

Mới nhất

Đi qua hai mùa chiến thắng