Logo-print CƠ QUAN CỦA TRUNG ƯƠNG HỘI - TIẾNG NÓI CỦA CỰU CHIẾN BINH VIỆT NAM

Khi hạt gạo mang thêm “sứ mệnh xanh”

MAI PHƯƠNG • 26/10/2026 - 12:05

Đề án “Phát triển bền vững 1 triệu héc-ta chuyên canh lúa chất lượng cao, phát thải thấp gắn với tăng trưởng xanh vùng Đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2030” (sau đây gọi tắt là Đề án) là bước chuyển trong tư duy phát triển nông nghiệp, thể hiện quyết tâm của Đảng, Nhà nước đưa tăng trưởng xanh, khoa học - công nghệ và lợi ích của người nông dân trở thành những trụ cột của nền nông nghiệp hiện đại. Những kết quả bước đầu trên đồng ruộng đang mở ra cơ hội nâng tầm hạt gạo Việt Nam, đồng thời đặt ra yêu cầu biến chủ trương đúng thành hiệu quả thực chất, lâu dài.

1667-cs

Hiệu quả từ chuyên canh lúa, phát thải thấp

Một nền nông nghiệp mạnh cần phải trả lời được những câu hỏi căn bản: Người nông dân có thu nhập tốt hơn hay không? Tài nguyên đất, nước được sử dụng hiệu quả đến đâu? Phát thải có thực sự giảm? Sản phẩm có đáp ứng yêu cầu thị trường và tạo dựng được thương hiệu có giá trị hay không?

Từ yêu cầu đó, Đề án “Phát triển bền vững 1 triệu héc-ta chuyên canh lúa chất lượng cao và phát thải thấp gắn với tăng trưởng xanh vùng Đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2030” cụ thể hóa định hướng cơ cấu lại ngành nông nghiệp, phát triển kinh tế xanh và thích ứng với biến đổi khí hậu; đồng thời gắn phát triển kinh tế với bảo vệ môi trường, nâng cao đời sống nhân dân. Đây cũng là bước triển khai thiết thực các định hướng phát triển bền vững vùng Đồng bằng sông Cửu Long được xác lập trong Nghị quyết số 13-NQ/TW của Bộ Chính trị.

Theo thông tin được công bố tại Hội nghị Ngày Lương thực thế giới năm 2026 và tăng cường hợp tác triển khai Đề án, tổ chức ngày 15-10-2026 tại TP. Hồ Chí Minh, đã có hơn 175.000 hộ dân đăng ký tham gia; 420.813ha được áp dụng toàn bộ hoặc một phần quy trình canh tác bền vững. Đáng chú ý, số mô hình liên kết tăng từ 7 mô hình với 302ha áp dụng đầy đủ quy trình vào năm 2024 lên hơn 376 mô hình với 67.784ha vào năm 2026.

Tại các mô hình được triển khai theo quy trình của Đề án, lượng giống gieo sạ giảm khoảng 30-50%; lượng phân bón hóa học giảm 20-30%; số lần phun thuốc bảo vệ thực vật giảm 2-3 lần mỗi vụ; lượng nước tưới giảm 20-40%. Năng suất được ghi nhận giữ ổn định hoặc tăng 5-12%, trong khi lợi nhuận tăng từ 1,5 đến 9,3 triệu đồng/héc-ta/vụ. Mức giảm phát thải khí nhà kính được báo cáo ở các mô hình này đạt khoảng 3-4 tấn CO2/héc-ta/vụ.

Giảm lượng giống gieo sạ không chỉ tiết kiệm chi phí mà còn góp phần tạo điều kiện cho cây lúa sinh trưởng hợp lý. Sử dụng phân bón hiệu quả giúp hạn chế lãng phí đầu vào. Quản lý nước tưới theo quy trình phù hợp góp phần tiết kiệm tài nguyên và giảm điều kiện phát sinh khí mê-tan từ ruộng lúa ngập nước. Thu gom, xử lý rơm rạ đúng cách còn mở ra khả năng phát triển kinh tế tuần hoàn, thay vì đốt phụ phẩm gây ô nhiễm.

Từ góc độ chính sách, đây chính là điểm quan trọng nhất: Chuyển đổi xanh phải tạo ra lợi ích kinh tế đủ rõ để người dân tự nguyện tham gia, doanh nghiệp chủ động đầu tư và địa phương có động lực nhân rộng.

Từ đổi mới kỹ thuật đến đổi mới phương thức phát triển

Giá trị của Đề án 1 triệu héc-ta không chỉ nằm ở việc tiết kiệm giống, phân bón hay nước tưới. Giá trị căn bản là tạo động lực tổ chức lại ngành hàng lúa gạo theo hướng hiện đại, có trách nhiệm và có khả năng cạnh tranh dài hạn.

Trong phương thức sản xuất truyền thống, nhiều hộ nông dân canh tác trên diện tích nhỏ, mua vật tư riêng lẻ, thiếu thông tin thị trường và gặp khó khăn khi tiếp cận công nghệ mới. Sự phân tán ấy làm tăng chi phí giao dịch, hạn chế khả năng kiểm soát chất lượng và khiến nông dân dễ chịu bất lợi trong quan hệ mua bán.

Đề án đặt ra yêu cầu khắc phục những hạn chế đó thông qua phát triển hợp tác xã, liên kết với doanh nghiệp, ứng dụng cơ giới hóa và chuẩn hóa quy trình sản xuất. Khi được tổ chức tốt, vùng nguyên liệu không chỉ là nơi cung cấp lúa hàng hóa mà còn trở thành một hệ thống sản xuất có quy chuẩn, dữ liệu, truy xuất nguồn gốc và cơ chế phân chia lợi ích rõ ràng.

Trong hệ thống ấy, hợp tác xã phải thực sự trở thành tổ chức kinh tế của nông dân, có năng lực cung cấp dịch vụ đầu vào, hướng dẫn kỹ thuật, quản lý chất lượng và kết nối tiêu thụ. Doanh nghiệp cần tham gia từ khâu xây dựng vùng nguyên liệu đến chế biến, xây dựng thương hiệu và phát triển thị trường, thay vì chỉ thu mua sản phẩm sau thu hoạch. Cơ quan khoa học có trách nhiệm chuyển giao công nghệ phù hợp với điều kiện từng vùng sinh thái, còn Nhà nước giữ vai trò kiến tạo thể chế, đầu tư hạ tầng và bảo đảm môi trường hợp tác minh bạch.

Theo thông tin được công bố tại Hội nghị, đã có 552,4 tấn gạo mang định hướng “Gạo Việt xanh, phát thải thấp” được xuất khẩu sang Nhật Bản, Australia, Singapore và Malaysia. Dù quy mô này còn khiêm tốn so với toàn ngành lúa gạo, đây là dấu hiệu đáng chú ý cho thấy sản xuất xanh đang từng bước kết nối với thị trường thực tế.

Đáng chú ý, yêu cầu tiếp tục triển khai Đề án 1 triệu héc-ta lúa chất lượng cao, phát thải thấp còn được đặt trong tổng thể nhiệm vụ phát triển đất nước giai đoạn mới. Tại Kỳ họp thứ Hai, Quốc hội khóa XVI, trong báo cáo về tình hình và nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm năm 2027, Chính phủ nhấn mạnh yêu cầu tạo chuyển biến căn bản trong quản lý, khai thác, sử dụng tài nguyên, bảo vệ môi trường, phòng, chống thiên tai và thích ứng với biến đổi khí hậu; trong đó, đề xuất tích cực triển khai Đề án phát triển bền vững 1 triệu héc-ta chuyên canh lúa chất lượng cao, phát thải thấp gắn với tăng trưởng xanh vùng Đồng bằng sông Cửu Long.

Thực tiễn triển khai Đề án 1 triệu héc-ta cho thấy một vấn đề có ý nghĩa rộng hơn đối với công cuộc phát triển đất nước: Chủ trương đúng phải được cụ thể hóa bằng cơ chế phù hợp, nguồn lực đầy đủ, tổ chức thực hiện quyết liệt và hệ thống đánh giá khách quan.

Từ những cánh đồng ở Đồng bằng sông Cửu Long, một hướng phát triển mới đang được mở ra: Nông nghiệp không chỉ tạo ra lương thực mà còn tạo ra giá trị từ tri thức, công nghệ, hiệu quả tài nguyên và trách nhiệm với môi trường. Đó là bước chuyển cần thiết để nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành lúa gạo Việt Nam trong bối cảnh mới.

Từ chủ trương đến cánh đồng, từ cánh đồng đến thị trường, con đường phát triển bền vững của hạt gạo Việt Nam cần được xây dựng bằng quyết tâm chính trị, năng lực tổ chức thực hiện và những kết quả thực chất. Đó không chỉ là yêu cầu của hôm nay, mà còn là trách nhiệm đối với tương lai của nền nông nghiệp, sinh kế của người dân Đồng bằng sông Cửu Long và vị thế Việt Nam trong bảo đảm an ninh lương thực toàn cầu.

Đọc tiếp

Mới nhất

Khi hạt gạo mang thêm “sứ mệnh xanh”