Logo-print CƠ QUAN CỦA TRUNG ƯƠNG HỘI - TIẾNG NÓI CỦA CỰU CHIẾN BINH VIỆT NAM

BẢO TÀNG CHỨNG TÍCH CHIẾN TRANH ẨN CHỨA KHÁT VỌNG HÒA BÌNH

Bài 3: Từ vỏ bom chiến tranh thành quả chuông hòa bình

CỰU CHIẾN BINH LÊ BÍCH HẰNG 11/05/2026 - 02:20

Tại khuôn viên Bảo tàng Chứng tích Chiến tranh, ngay cạnh những cỗ xe tăng lừng lững, có một hiện vật khiêm nhường nhưng đầy sức sống: Chiếc chuông hòa bình được đúc từ vỏ bom. Từ một mảnh khí giới mang mầm mống hủy diệt, qua bàn tay con người, chất thép tàn khốc ấy đã hóa thân thành pháp khí của hòa bình.

bai-bao-tang-so-3-1643-1
Hình ảnh anh Norman Morrison và bài báo viết về việc anh tự thiêu phản đối chiến tranh.

Thế giới ủng hộ Việt Nam kháng chiến

Tại không gian trưng bày tầng 1 của Bảo tàng Chứng tích Chiến tranh, chuyên đề “Thế giới ủng hộ Việt Nam kháng chiến” là một trong những khu vực giàu giá trị nhân văn và lịch sử nhất.

Người xem có thể tiếp cận các bản gốc hoặc bản phục dựng của các áp phích đến từ nhiều quốc gia như Pháp, Mỹ, Nhật Bản, Thụy Điển, Cuba... Các hình ảnh chim bồ câu hòa bình cùng khẩu hiệu yêu cầu rút quân khỏi Việt Nam như “Out Now!”, “Peace in Vietnam” đã thể hiện sự lan tỏa mạnh mẽ của làn sóng phản đối chiến tranh trên toàn cầu.

Các văn bản, biểu ngữ và ký hiệu phản chiến cũng khá nhiều. Hệ thống này bao gồm các bản kiến nghị, thư ngỏ lưu trữ tuyên bố của các tổ chức quốc tế, các nhóm trí thức và nghệ sĩ trên thế giới ký tên phản đối cuộc chiến tranh phi nghĩa. Bên cạnh đó là những lá cờ của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam từng được người dân các nước mang xuống đường trong các cuộc biểu tình tại Washington, Paris hay Tokyo.

Phần trưng bày các kỷ vật của các tổ chức và cá nhân quốc tế gây xúc động mạnh với các hiện vật từ cựu binh Mỹ, bao gồm huân chương, huy chương hoặc quân phục mà họ đã đem trả lại hoặc tặng cho Việt Nam để bày tỏ sự hối hận và mong muốn hòa giải. Ngoài ra còn có những kỷ vật, biểu trưng, phù hiệu của các hội đoàn hòa bình thế giới tặng cho nhân dân Việt Nam trong giai đoạn 1954 - 1975.

Những bức ảnh ghi lại các cuộc tuần hành khổng lồ của hàng vạn người tại Mỹ và các nước châu Âu cùng tư liệu về việc nhân dân thế giới quyên góp thuốc men, thực phẩm, tài chính để gửi sang giúp đỡ nhân dân Việt Nam đã minh chứng cho sức mạnh kết nối của lòng nhân ái.

 Khu vực này còn lưu giữ tài liệu về các hành động quả cảm vì hòa bình của những người như Norman Morrison (người Mỹ tự thiêu để phản chiến) hoặc những bức thư của các nhà hoạt động nổi tiếng gửi cho Chủ tịch Hồ Chí Minh...

Sự thức tỉnh của lương tri và trào lưu tiến bộ

Cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân Việt Nam không chỉ là một cuộc đụng độ quân sự mà còn là một tâm điểm thức tỉnh lương tri nhân loại. Thế giới nhận diện rõ đây là cuộc chiến đấu vì độc lập, tự do và thống nhất đất nước của một dân tộc nhỏ bé chống lại sự can thiệp của một siêu cường. Theo luật pháp quốc tế và Hiệp định Genève, Việt Nam có quyền tự quyết, việc Mỹ đưa quân đội và vũ khí vào miền Nam bị coi là hành động xâm lược, vi phạm chủ quyền quốc gia. Hình ảnh người dân Việt Nam kiên cường, bền bỉ đã chạm đến trái tim của những người yêu chuộng công lý.

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Việt Nam đã triển khai một mặt trận ngoại giao nhân dân khéo léo, “đánh vào lòng người”. Các phái đoàn Việt Nam đi khắp thế giới để đối thoại, giải thích về truyền thống văn hóa và khát vọng hòa bình. Sự giản dị, khiêm nhường nhưng kiên định của các đại diện Việt Nam đã thuyết phục được cả những người vốn còn nghi ngại về ý thức hệ.

Thập niên 60-70 của thế kỷ trước là giai đoạn bùng nổ của các phong trào đòi quyền dân sự ở nhiều nơi trên thế giới. Thanh niên Mỹ phản đối việc làm bia đỡ đạn cho một cuộc chiến tàn bạo. Ở nước Anh, nơi có chính quyền thân Mỹ, phong trào phản đối cuộc chiến Mỹ gây ra ở Việt Nam cũng bùng nổ quyết liệt. Nhà triết học, nhà hoạt động vì hoà bình Bertrand Russell cùng nhà hoạt động chính trị Ralph Schoenman đã thành lập Toà án tội phạm chiến tranh quốc tế. Trong hai năm 1966-1967 các phiên toà chính thức diễn ra ở London - thủ đô Anh; Stockholm - thủ đô Thuỵ Điển; Copenhagen - thủ đô Đan Mạch - đã lên án tội ác chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam với những nhân chứng, minh chứng cụ thể.

bai-bao-tang-so-3-1643-2-0220
Quả chuông hòa bình được đúc từ mảnh bom trong khuôn viên bảo tàng.

Những hình ảnh chân thực từ chiến trường đã lột trần sự tàn bạo của vũ khí hủy diệt như chất độc da cam/dioxin, bom napalm và bom B-52. Những sự kiện như vụ thảm sát Mỹ Lai đã làm rúng động dư luận, khiến người dân thế giới nhận ra sự phi lý và tội ác của cuộc chiến này.

Điển hình là câu chuyện về anh Norman Morrison, một công dân Mỹ đã trở thành biểu tượng bất tử của sự phản đối chiến tranh: Sau nhiều lần biểu tình và viết thư phản chiến, chiều ngày 2-11-1965, anh bế theo con gái nhỏ Emily mới 18 tháng tuổi, đặt con ở lại, anh đến ngay dưới cửa sổ phòng làm việc của Bộ trưởng Quốc phòng Robert McNamara tại Lầu Năm Góc, anh Morrison đã tự biến mình thành một ngọn đuốc sống để phản đối cuộc chiến xâm lược Việt Nam. Người vợ của anh chia sẻ: Anh Morison chọn tự thiêu là hình thức phản kháng cao nhất và cái chết bằng cách tự thiêu là anh muốn đồng nhất với nỗi đau của những nạn nhân bị bom napalm thiêu đốt. Hình ảnh đó không phải là sự cuồng tín, mà là một lời cảnh tỉnh chấn động tâm can nước Mỹ. Anh sẵn sàng hy sinh mạng sống để đòi quyền được sống trong hòa bình cho dân tộc Việt Nam.

Sự hy sinh của anh đã chạm đến trái tim nhân dân Việt Nam, sâu sắc đến mức nhà thơ Tố Hữu đã xúc động viết nên bài thơ “Emily, con...” như nhập thân vào linh hồn anh trước giờ phút hóa thân vào ngọn lửa: “Emily, con ơi!/ Trời sắp tối rồi.../Cha không bế con về được nữa!/ Khi đã sáng bùng lên ngọn lửa/ Đêm nay mẹ đến tìm con/ Con sẽ ôm lấy mẹ mà hôn/ Cho cha nhé./ Và con sẽ nói giùm với mẹ:/ Cha đi vui, xin mẹ đừng buồn!/ Oa-sinh-tơn/ Buổi hoàng hôn/ Ôi những linh hồn/ Còn mất?/ Đã đến phút lòng ta sáng nhất!/ Ta đốt thân ta/ Cho ngọn lửa chói loà/ Sự thật”.

Tại bảo tàng, những bức ảnh và dòng tư liệu về Morrison không chỉ là bằng chứng về phong trào phản chiến, mà còn là lời khẳng định: Khi một cuộc chiến tranh phi nghĩa, nó sẽ bị chính nhân dân của quốc gia đi xâm lược chối từ. Ngọn lửa của anh đã thắp lên hàng vạn ngọn lửa nhiệt huyết phản chiến khác trên khắp thế giới.

Ba mươi tư năm sau, Emily cùng mẹ đã đến thăm Việt Nam và có những cuộc gặp gỡ đầy xúc động khi Việt Nam đã hoà bình thống nhất và đang phát triển.

Sức mạnh của niềm tin và chính nghĩa

Sự ủng hộ của thế giới lúc bấy giờ đã tạo thành một “mặt trận thứ hai”, vây khốn chính quyền Mỹ ngay trong lòng nước Mỹ và trên các diễn đàn quốc tế. Đó là minh chứng cho sức mạnh của niềm tin có thể kết nối những con người khác biệt về màu da, ngôn ngữ đứng về phía hòa bình. Họ ủng hộ một dân tộc đang bảo vệ chủ quyền bằng trí tuệ và phẩm giá. Sự ủng hộ đó chính là phán quyết xác đáng của trí tuệ và lương tri nhân loại tiến bộ về bản chất cuộc chiến.

Những kẻ muốn “lật sử” bất chấp sự thật, gọi cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước là “nội chiến” - đó là sự trắng trợn, không chỉ phản bội xương máu cha ông, mà còn phản bội lại niềm tin của nhân loại yêu chuộng hòa bình.

Ngày nay, dù không còn những phiên tòa như thời Russell, nhưng “tòa án công luận” vẫn đang hiện hữu trên không gian mạng. Những tư liệu lịch sử, những chứng tích chiến tranh trên khắp đất nước và những hiện vật tại Bảo tàng chính là hồ sơ gốc để thế hệ trẻ hôm nay dùng làm vũ khí đối thoại, đập tan những luận điệu ‘lật sử” lạc lõng.

Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta đã đi đến thắng lợi cuối cùng vào ngày 30-4-1975. Giành được hoà bình và thống nhất non sông là chiến thắng chính nghĩa của dân tộc Việt Nam được cả thế giới công nhận. Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước là kết quả tổng hợp của nhiều nhân tố, trong đó quan trọng nhất là sự lãnh đạo tài tình của Đảng với đường lối chính trị, quân sự độc lập, tự chủ và đúng đắn. Tinh thần yêu nước nồng nàn và ý chí “không có gì quý hơn độc lập, tự do” đã kết nối nhân dân hai miền Nam - Bắc thành một khối thống nhất, tạo nên sức mạnh vô địch của chiến tranh nhân dân. Bên cạnh đó là sự giúp đỡ của các nước anh em và nhân dân yêu chuộng hoà bình trên toàn thế giới.

Tại khuôn viên Bảo tàng có một hiện vật khiêm nhường nhưng đầy sức sống, đó là chiếc chuông hòa bình được đúc từ vỏ bom trong chiến tranh. Mỗi nhịp chuông vang lên là một lời hóa giải hận thù, biến tiếng nổ của đạn bom năm xưa thành tiếng vọng của lòng nhân ái. Tiếng chuông ấy rung ngân, kết nối quá khứ với hiện tại, nhắc nhở nhân loại rằng vũ khí có thể tàn phá, nhưng chỉ có tình thương và chính nghĩa mới có sức mạnh vang vọng mãi đến muôn đời.

Bạn có muốn tự tay mình một lần rung lên tiếng chuông ấy không?

Đọc tiếp

Mới nhất

Bài 3: Từ vỏ bom chiến tranh thành quả chuông hòa bình