Logo-print CƠ QUAN CỦA TRUNG ƯƠNG HỘI - TIẾNG NÓI CỦA CỰU CHIẾN BINH VIỆT NAM

GIỮ VỮNG VỊ TRÍ, VAI TRÒ CƠ QUAN TƯ PHÁP TRONG QUÂN ĐỘI VÌ LỢI ÍCH QUỐC GIA

Bài 3: Kinh nghiệm quốc tế và bài học của Việt Nam

Thượng tướng BẾ XUÂN TRƯỜNG 05/08/2026 - 09:58

Một trong những yêu cầu quan trọng khi hoàn thiện pháp luật về tổ chức cơ quan điều tra hình sự (ĐTHS) là tham khảo có chọn lọc kinh nghiệm quốc tế. Tuy nhiên, việc nghiên cứu pháp luật nước ngoài cần được tiếp cận trên cơ sở đặc điểm chính trị, tổ chức bộ máy nhà nước và mô hình tổ chức quân đội của từng quốc gia; không nên máy móc suy diễn rằng việc thu hẹp thẩm quyền điều tra quân sự là xu hướng phổ biến.

bai-3-thu-truong-truong-0956

Ban Chỉ đạo 1389 Quân khu 4 kiểm tra công tác phổ biến, giáo dục pháp luật và xử lý vi phạm hành chính tại Ban Chỉ huy Bộ đội Biên phòng, Bộ CHQS Hà Tĩnh.

Ảnh: Báo Quân khu 4

Tính đặc thù của hoạt động điều tra đối với quân nhân

Thực tế cho thấy, mặc dù mô hình tổ chức tư pháp quân sự của các nước có nhiều khác biệt, nhưng điểm tương đồng là đều thừa nhận tính đặc thù của hoạt động điều tra đối với quân nhân và đều duy trì cơ chế để cơ quan điều tra thuộc Bộ Quốc phòng giữ vai trò chủ đạo trong những vụ việc thuộc phạm vi quân sự.

Tại Liên bang Nga, theo quy định của Luật Liên bang ngày 28/10/2010 số N403-ФЗ “về Ủy ban điều tra Liên bang Nga” thì trong Ủy ban điều tra Liên bang có Tổng cục điều tra quân sự. Tổng cục trưởng Tổng cục điều tra quân sự là Phó Chủ tịch Ủy ban điều tra Liên bang. Các cơ quan điều tra quân sự thuộc Tổng cục điều tra quân sự có thẩm quyền điều tra các vụ án liên quan đến quân nhân, tương tự như quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam.

Tại Hoa Kỳ, bên cạnh hệ thống tư pháp liên bang và tư pháp bang, Bộ Chiến tranh duy trì hệ thống điều tra hình sự độc lập của từng quân chủng như CID (Army Criminal Investigation Division) của Lục quân, NCIS (Naval Criminal Investigative Service) của Hải quân và AFOSI (Air Force Office of Special Investigations) của Không quân. Khi vụ án liên quan đến quân nhân hoặc hoạt động quân sự, Bộ Tư pháp và Bộ Chiến tranh thực hiện cơ chế phối hợp theo các bản ghi nhớ liên ngành; việc xác định thẩm quyền điều tra được thực hiện trên cơ sở bảo đảm kỷ luật quân đội, hiệu quả điều tra và lợi ích quốc phòng. Chính Bộ Tư pháp Hoa Kỳ cũng xác định Bộ Chiến tranh có trách nhiệm đặc biệt trong việc bảo đảm tính liêm chính của lực lượng vũ trang và duy trì kỷ luật quân đội; vì vậy cơ quan điều tra quân sự luôn giữ vai trò quan trọng trong nhiều vụ án liên quan đến quân nhân.

Tại Pháp, mặc dù hệ thống tư pháp quân sự đã có nhiều thay đổi theo hướng hội nhập với hệ thống tư pháp chung, nhưng Bộ luật Tư pháp quân sự vẫn duy trì chế định “cảnh sát tư pháp quân sự” (police judiciaire militaire) với các sĩ quan cảnh sát tư pháp quân đội thực hiện hoạt động điều tra các vụ việc thuộc thẩm quyền của tòa án quân sự và dưới sự chỉ đạo của cơ quan quân sự có thẩm quyền. Điều đó cho thấy ngay cả trong mô hình có xu hướng dân sự hóa hoạt động tư pháp thì yếu tố điều tra quân sự vẫn được bảo lưu đối với các vụ án thuộc lĩnh vực quốc phòng.

Tại nhiều quốc gia châu Á như Hàn Quốc, Nhật Bản hoặc Singapore, mô hình tổ chức có sự khác nhau, song đều duy trì cơ chế xử lý chuyên biệt đối với những hành vi vi phạm pháp luật gắn với hoạt động quân sự, đặc biệt là các hành vi ảnh hưởng đến kỷ luật quân đội, bí mật quốc phòng và khả năng sẵn sàng chiến đấu.

Ở nhiều quốc gia khác, phạm vi thẩm quyền của tư pháp quân sự có thể rộng hoặc hẹp tùy điều kiện lịch sử, nhưng điểm chung là không phủ nhận nhu cầu tồn tại của một thiết chế điều tra chuyên trách đối với quân nhân. Sự khác biệt chủ yếu nằm ở tiêu chí phân định thẩm quyền, chứ không phải phủ nhận vai trò của cơ quan điều tra quân sự.

Điều đáng lưu ý hơn là, ngay cả trong những quốc gia có xu hướng thu hẹp phạm vi xét xử của TAQS đối với thời bình thì việc thu hẹp đó chủ yếu liên quan đến thẩm quyền xét xử đối với dân thường, chứ không phải phủ nhận nhu cầu điều tra chuyên trách đối với quân nhân hoặc các vụ việc liên quan đến hoạt động quân sự. Nhìn rộng hơn, các quốc gia đều coi mục tiêu cao nhất của tư pháp quân sự là duy trì kỷ luật, bảo đảm khả năng sẵn sàng chiến đấu và bảo vệ hiệu quả hoạt động của lực lượng vũ trang. Chính vì vậy, khi có sự giao thoa giữa thẩm quyền của CQĐT dân sự và CQĐT quân sự, thông lệ phổ biến là thiết lập cơ chế phối hợp linh hoạt, không làm suy giảm vai trò của hệ thống tư pháp quân sự.

Đối chiếu với Việt Nam có thể thấy, mô hình hiện hành giao Cơ quan ĐTHS trong Quân đội điều tra các vụ án liên quan đến Quân đội là phù hợp với đặc điểm tổ chức QĐND Việt Nam và không phải là mô hình cá biệt so với thông lệ quốc tế.

Một số kiến nghị

Từ những phân tích nêu trên có thể thấy, việc sửa đổi Luật Tổ chức cơ quan ĐTHS cần hướng tới mục tiêu nâng cao hiệu quả điều tra nhưng đồng thời phải giữ vững tính ổn định của hệ thống tư pháp quân sự và bảo đảm yêu cầu xây dựng QĐND cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại. Theo đó, chúng tôi đề xuất một số kiến nghị sau:

Một là, giữ nguyên nguyên tắc phân định thẩm quyền điều tra đối với các vụ án có liên quan đến quân nhân như quy định hiện hành. Việc xác định thẩm quyền không nên chỉ căn cứ vào tội danh hoặc khung hình phạt mà cần đặt trong tổng thể yêu cầu bảo vệ kỷ luật quân đội, bí mật quốc phòng và hiệu quả quản lý quân nhân. Trong trường hợp vụ án có người phạm tội hoặc bị hại là quân nhân và thuộc phạm vi thẩm quyền của hệ thống tư pháp quân sự thì nên giao Cơ quan ĐTHS trong Quân đội trực tiếp thụ lý điều tra toàn bộ vụ án; chỉ trong những trường hợp thật đặc biệt mới áp dụng cơ chế phối hợp theo quy định của pháp luật.

Hai là, sửa đổi khoản 2 Điều 7 theo hướng rõ ràng, khả thi và phù hợp với đặc thù của tư pháp quân sự.

Khái niệm “tội phạm chính” chưa được định nghĩa trong pháp luật hiện hành và tiềm ẩn nguy cơ phát sinh cách hiểu khác nhau. Vì vậy, không nên sử dụng tiêu chí này làm căn cứ duy nhất để xác định thẩm quyền điều tra. Có thể nghiên cứu sửa khoản 2 Điều 7 theo hướng: “2. Trường hợp vụ việc, vụ án hình sự có nhiều tội phạm thuộc thẩm quyền điều tra của các cơ quan điều tra khác nhau mà việc tách vụ án để điều tra ảnh hưởng đến việc xác định sự thật khách quan của vụ án thì cơ quan điều tra đang thụ lý phối hợp với Viện kiểm sát có thẩm quyền để thống nhất xác định cơ quan điều tra có điều kiện bảo đảm giải quyết toàn diện, khách quan và hiệu quả nhất. Việc xác định thẩm quyền phải căn cứ vào tính chất của vụ án, chủ thể thực hiện hành vi phạm tội, khách thể bị xâm hại, môi trường xảy ra hành vi phạm tội và yêu cầu bảo đảm tính thống nhất của hoạt động điều tra”.

Nếu vụ án có yếu tố quân sự thì áp dụng Khoản 3 Điều 7 được đề xuất bổ sung dưới đây.

Ba là, bổ sung khoản 3 Điều 7. Một trong những hạn chế của dự thảo Luật là Điều 7 mới quy định nguyên tắc chung về phân định thẩm quyền điều tra nhưng chưa có nguyên tắc riêng đối với các vụ án có yếu tố quân sự. Điều này dẫn đến việc khi xử lý các vụ án có nhiều yếu tố đan xen giữa quân sự và dân sự, cơ quan THTT thiếu một định hướng lập pháp rõ ràng để xác định cơ quan có thẩm quyền.

Để khắc phục khoảng trống này, cần nghiên cứu bổ sung một khoản mới vào Điều 7 theo hướng khẳng định nguyên tắc ưu tiên thẩm quyền của Cơ quan ĐTHS trong Quân đội đối với các vụ án mà việc điều tra có liên quan trực tiếp đến quản lý quân nhân, hoạt động quân sự hoặc lợi ích quốc phòng. Vì vậy, có thể nghiên cứu bổ sung khoản 3 Điều 7 như sau: “3. Đối với vụ việc, vụ án hình sự có liên quan đến quân nhân, người thuộc phạm vi quản lý của Quân đội nhân dân hoặc xảy ra trong quá trình thực hiện nhiệm vụ quân sự mà việc điều tra có ảnh hưởng trực tiếp đến việc bảo vệ kỷ luật Quân đội, bí mật quân sự, hoạt động chỉ huy, quản lý đơn vị hoặc sức mạnh chiến đấu của Quân đội nhân dân thì Cơ quan điều tra trong Quân đội nhân dân có thẩm quyền điều tra theo quy định của Luật này. Việc xác định thẩm quyền phải bảo đảm tính thống nhất của quá trình điều tra và không làm chia cắt hoạt động nhận thức, đánh giá chứng cứ của vụ án.”

Bốn là, sửa đổi đoạn 2 Khoản 2 Điều 17 theo hướng tiếp tục duy trì cơ chế chuyển giao vụ án cho Cơ quan điều tra trong Quân đội.

“Khi phát hiện người phạm tội hoặc bị hại là quân nhân thì Cơ quan CSĐT Công an cấp tỉnh sau khi thực hiện các biện pháp cần thiết để bảo vệ hiện trường, thu thập tài liệu ban đầu và áp dụng các biện pháp tố tụng khẩn cấp theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự phải chuyển ngay vụ án cùng toàn bộ tài liệu, vật chứng cho Cơ quan ĐTHS trong Quân đội nhân dân có thẩm quyền để tiếp tục điều tra”.

Quy định này kế thừa thực tiễn đang được áp dụng ổn định, đồng thời vẫn bảo đảm việc xử lý kịp thời các tình huống khẩn cấp.

Năm là, bổ sung nguyên tắc phối hợp giữa CQĐT trong Công an nhân dân và CQĐT trong Quân đội.

Thay vì cơ chế “ủy thác điều tra” đối với từng tình tiết, nên quy định trách nhiệm phối hợp trong việc bảo vệ hiện trường, trao đổi thông tin, chuyển giao hồ sơ, hỗ trợ điều tra và thực hiện các hoạt động tố tụng theo yêu cầu của cơ quan chủ trì điều tra. Cách tiếp cận này sẽ phát huy được thế mạnh của mỗi hệ thống cơ quan điều tra nhưng vẫn bảo đảm tính thống nhất trong giải quyết vụ án.

Tổ chức và hoạt động của Cơ quan ĐTHS trong Quân đội nhân dân không chỉ là vấn đề kỹ thuật tố tụng mà còn là một bộ phận quan trọng của thiết chế bảo vệ Đảng, Nhà nước, Quân đội và sự nghiệp quốc phòng.

Việc sửa đổi Luật Tổ chức cơ quan ĐTHS cần hướng tới nâng cao hiệu quả điều tra nhưng đồng thời phải giữ vững nguyên tắc bảo vệ kỷ luật Quân đội, bảo vệ sức mạnh chiến đấu và bảo đảm sự vận hành thống nhất của hệ thống tư pháp quân sự. Những giá trị đó đã được khẳng định qua thực tiễn nhiều năm và cũng phù hợp với kinh nghiệm của nhiều quốc gia trên thế giới trong việc tổ chức điều tra các vụ án liên quan đến quân nhân.

 

Phó chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, 
Chủ tịch Hội CCB Việt Nam

Đọc tiếp

Mới nhất

Bài 3: Kinh nghiệm quốc tế và bài học của Việt Nam