Logo-print CƠ QUAN CỦA TRUNG ƯƠNG HỘI - TIẾNG NÓI CỦA CỰU CHIẾN BINH VIỆT NAM

Ung thư vòm họng không còn là “án tử” nhờ tiến bộ y học

Bài và ảnh: Hoàng Hà 17/01/2026 - 17:32

Dấu hiệu sớm của bệnh ung thư vòm họng thường nghèo nàn, dễ bỏ qua vì hay bị nhầm với các triệu chứng của bệnh viêm nhiễm vùng tai mũi họng như ù tai, ngạt mũi, chảy dịch mũi, cũng có thể xuất hiện hạch cổ ngay từ đầu nhưng thường hạch nhỏ, không đau nên dễ bị bỏ sót. Khi bệnh nhân nhận ra bất thường, bệnh đã ở giai đoạn muộn. Để giúp độc giả hiểu rõ hơn về căn bệnh này, phóng viên Báo CCB Việt Nam đã phỏng vấn Thạc sĩ, Bác sĩ Phạm Đình Khanh, Bệnh viện Tai Mũi Họng Trung ương.

thac-si-bac-si-pham-dinh-khanh-kham-tu-van-cho-benh-nhan-ung-thu-vom-hong
Thạc sĩ, Bác sĩ Phạm Đình Khanh khám, tư vấn cho bệnh nhân ung thư vòm họng.

Theo Thạc sĩ, Bác sĩ Phạm Đình Khanh (ThS.BS), ung thư vòm mũi họng (Nasophanryngeal Carcinoma - NPC) là bệnh lý ác tính các tế bào niêm mạc vòm mũi họng. Có 3 nguyên nhân gây ung thư vòm họng: Một là do yếu tố môi trường, nghề nghiệp tiếp xúc với khói bụi, môi trường kém thông khí, hóa chất và nhất là các hydrocacbon thơm. Các nghiên cứu đã nêu lên mối liên quan giữa ăn nhiều cá muối và các loại thức ăn được bảo quản bằng muối như dưa muối, trứng muối, các loại củ muối từ khi còn nhỏ sẽ dẫn tới tăng nguy cơ mắc bệnh. Rượu, thuốc lá cũng được xem là các yếu tố nguy cơ gây mắc bệnh ung thư vòm họng. Thứ hai là yếu tố sinh học, virus Epstein-Barr là một trong những nguyên nhân quan trọng nhất của bệnh đối với người vùng dịch tễ. EBV có thể gặp ở người khỏe mạnh bình thường (> 90% dân số), và chúng xuất hiện chủ yếu trong dịch tiết của niêm mạc vùng khẩu hầu. Nguyên nhân thứ ba là do yếu tố di truyền, một số nghiên cứu về di truyền học gần đây cho thấy tỷ lệ mắc ung thư vòm ở những người mà trong gia đình họ có người mắc bệnh này thì cao hơn bình thường. Nghiên cứu tại vùng có dịch tễ mắc bệnh cao ở Nam Trung Quốc chỉ ra các thành phần HLA-A2, HLA-B46, HLA- B17 và HLA-B18 làm tăng nguy cơ mắc ung thư vòm họng, trong khi HLA-A11, HLA- B13 và HLA-B27 làm giảm nguy cơ mắc bệnh.

Thạc sĩ, Bác sĩ Phạm Đình Khanh cho hay, các dấu hiệu sớm của bệnh ung thư vòm họng thường nghèo nàn, dễ bỏ qua vì hay bị nhầm với các triệu chứng của bệnh viêm nhiễm vùng tai mũi họng như ù tai, ngạt mũi, chảy dịch mũi, cũng có thể xuất hiện hạch cổ ngay từ đầu nhưng thường hạch nhỏ, không đau nên dễ bị bỏ sót. Các triệu chứng lúc đầu thường xuất hiện ở một bên hay một vị trí, sau đó tăng dần theo kiểu vết dầu loang.

Bệnh thường được phát hiện trong những tình huống sau đây: Hạch ở cổ, gặp ở trên 50% trường hợp bệnh, vị trí hay gặp là hạch cổ cao (hạch góc hàm), hoặc xuất hiện nhiều hạch ở một hay hai bên cổ; các triệu chứng ở tai, khoảng 40-60% trường hợp, thường biểu hiện một bên như điếc dẫn truyền phối hợp với một viêm tai giữa thanh dịch do u làm tắc vòi Eustache, ù tai hoặc hiếm gặp hơn là đau tai hay chảy dịch ở tai; các triệu chứng ở mũi như ngạt tắc mũi một hoặc hai bên hoặc chảy nhầy máu mũi dai dẳng điều trị nội khoa không cải thiện; các triệu chứng thần kinh, gặp khoảng 10-15% trường hợp và là bằng chứng của một tổn thương xâm lấn nền sọ, có giá trị định khu, xuất hiện đơn lẻ hoặc tổn thương nhiều dây thần kinh tạo nên các hội chứng thần kinh, theo tần suất xuất hiện có thể gặp như nhìn đôi và lác trong do xâm lấn dây VI (cơ thẳng ngoài), đau nửa mặt hoặc đau họng do xâm lấn dây V hoặc dây IX, đau đầu hoặc đau nửa đầu khi u xâm lấn nội sọ.

Các nhóm đối tượng có nguy cơ cao cần đi tầm soát là những người làm công việc tiếp xúc nhiều với khói bụi, hóa chất, môi trường làm việc kém thông khí. Những người có thói quen hay ăn các đồ ăn chứa nhiều muối như dưa cà muối, cá ướp muối. Những người có người thân trong gia đình từng bị các bệnh ác tính. Những người xét nghiệm trong cơ thể có chứa virus EBV.

Theo ghi nhận, virus EBV (Epstein-Barr Virus) liên quan đến ung thư vòm họng. Virus tồn tại trong máu hoặc dịch tiết của cơ thể. Virus lây truyền qua nước bọt (nụ hôn, dùng chung ly, bàn chải đánh răng), máu (truyền máu, ghép tạng), tinh dịch, đường sinh dục. Hiện tại virus chưa có vaccine và thuốc đặc trị. Cách phòng chống là không dùng chung dụng cụ ăn uống, quan hệ tình dục an toàn, xét nghiệm virus EBV. Ung thư vòm họng được xếp vào nhóm bệnh mạn tính không lây nhiễm, nên không đánh giá là điều trị khỏi. Bệnh được đánh giá sau điều trị theo các tiêu chí đáp ứng điều trị, sống thêm không bệnh, sống thêm toàn bộ.

Hiện nay, phương pháp điều trị chính của ung thư vòm họng là tia xạ vì tế bào u rất nhạy cảm với tia xạ, tỷ lệ đáp ứng hoàn toàn sau điều trị rất cao, khoảng trên 90% đối với giai đoạn sớm, tại chỗ và giảm dần với các giai đoạn muộn hơn. Phương pháp xạ trị là sử dụng các chùm tia gamma của máy Cobalt hay các chùm tia X của máy gia tốc thẳng năng lượng cao. Ngày nay, khoa học công nghệ phát triển nên xạ trị cũng phát triển rất nhanh, các loại máy thế hệ mới với nhiều tính năng trong điều trị giúp nâng cao điều trị tại u và hạn chế được các biến chứng muộn trên cơ quan nguy cấp như: Xạ trị điều biến liều (IMRT); Xạ trị điều biến cung thể tích (VMAT); Xạ trị dưới hướng dẫn hình ảnh (IGRT); Cấy hạt phóng xạ; Xạ trị hạt nặng Proton.

“Khi có các triệu chứng ở tai mũi họng, người bệnh nên đi nội soi càng sớm càng tốt. Nếu là các bệnh lý tai mũi họng thông thường thì sau điều trị 1-2 tuần sẽ khỏi. Nếu phát hiện các tổn thương nghi ngờ trên nội soi thì cần phải sinh thiết để chẩn đoán xác định tổn thương đó là bình thường hay bất thường. Thời gian tầm soát khoảng 3 tháng/lần. Các đối tượng có nguy cơ cao có thể tầm soát 1-2 tháng/lần. Ung thư vòm họng giai đoạn sớm, còn khu trú tại chỗ chỉ cần tia xạ có thể kiểm soát được bệnh. Bệnh nhân đến khám ở giai đoạn muộn sẽ phải phối hợp thêm các phương pháp điều trị khác và tiên lượng sẽ xấu hơn. Bệnh nhân nên kiêng các đồ cay nóng trong quá trình điều trị; ăn các đồ mềm nguội, vệ sinh răng miệng sạch sẽ, uống nhiều nước hàng ngày, sử dụng các sản phẩm làm ẩm và tái tạo da, niêm mạc vùng xạ. Bệnh nhân nên đến viện khám lại theo lịch hẹn giúp phát hiện sớm các biến chứng”, ThS.BS Phạm Đình Khanh cho biết thêm.

Đến khám định kỳ sau điều trị tại Bệnh viện Tai Mũi Họng Trung ương, bệnh nhân Nguyễn Linh Ch. (sinh năm 1999 - Long Biên, Hà Nội) chia sẻ: “Năm 2020 em bị hạch ở cổ, em đi khám thì phát hiện mình bị ung thư vòm họng. Tháng 6-2020, em nhập viện điều trị, em truyền hoá chất dẫn đầu 3 lần, sau đó xạ trị 33 mũi với kỹ thuật điều biến liều (IMRT) kết hợp hoá chất tuần 7 đợt, đến tháng 10-2020 em kết thúc điều trị. Ba lần truyền hoá chất em đều rất khoẻ vẫn đi học bình thường, lần thứ 3 em mới bị rụng tóc, nôn, đau họng không ăn được nhiều, nói khó, mất vị giác. Khó khăn nhất là giai đoạn một tháng sau điều trị em thấy mệt mỏi và đau họng rất nhiều, tuy nhiên tinh thần em vẫn rất tốt, tình yêu của bố mẹ đã giúp em vượt qua giai đoạn khó khăn này. Năm 2024, em lấy chồng và sinh em bé rất khoẻ mạnh, con em được hơn 1 tuổi rồi. Đến nay, đã 5 năm kể từ ngày em phát hiện mình bị ung thư vòm họng, sau điều trị tại viện thành công, hiện sức khoẻ em vẫn rất tốt, em vẫn đi dạy học bình thường. Em khuyên mọi người hãy có lối sống lành mạnh, tập thể dục, ăn uống đủ chất, chăm sóc sức khoẻ nhiều hơn cả về vật chất và tinh thần”.

Theo Thạc sĩ, Bác sĩ Phạm Đình Khanh, vấn đề tâm lý trong và sau điều trị cũng cần được quan tâm, bản thân người bị bệnh ung thư đã làm tâm lý suy sụp, quá trình điều trị càng làm cho thể trạng và tinh thần bệnh nhân giảm sút hơn, người bệnh cần được gia đình quan tâm yêu thương, nên tư vấn khám tâm lý cho bệnh nhân khi có dấu hiệu bất thường.

Đọc tiếp

Mới nhất

Ung thư vòm họng không còn là “án tử” nhờ tiến bộ y học