Logo-print CƠ QUAN CỦA TRUNG ƯƠNG HỘI - TIẾNG NÓI CỦA CỰU CHIẾN BINH VIỆT NAM

Những tháng ngày trên đất nước Chăm Pa

LƯU VĨNH XIÊM - QUANG VŨ 15/06/2026 - 15:35

Những ngày nắng nóng cao điểm này, tôi lại bồn chồn nhớ tới nắng tháng 6 nơi miền Tây tỉnh Thanh Hóa 61 năm trước. Nắng nóng mới thật kinh khủng, như thiêu như đốt những người lính trẻ trên đường hành quân sang chiến trường nước bạn Lào. Nay nhớ lại những tháng ngày gian nan mà hào hùng ấy, trong tôi lại dậy lên niềm tự hào, xúc động.

 
ntkq-164849-copy
CCB Lưu Vĩnh Xiêm.
 

Sau chiến thắng Hàm Rồng (3-4-1965), tôi và một số đồng đội được chuyển về Ninh Bình thành lập đơn vị mới để chuẩn bị nhận nhiệm vụ đi chiến trường C. Đơn vị mang phiên hiệu Đại đội 5, Tiểu đoàn 3, Trung đoàn 213 thuộc Quân khu. Cánh lính trẻ chúng tôi rất háo hức vì mới ba tháng tuổi quân mà đã được “xuất ngoại”, dù biết rằng nhiệm vụ bên nước bạn sẽ hết sức gian khổ, hiểm nguy.

Là đơn vị vừa thành lập nên từ cán bộ đến chiến sĩ đều do các đơn vị khác nhau bổ sung về. Trung đội của tôi do anh Dậu - Thiếu úy vừa mới ra trường làm Trung đội trưởng. Năm 1966, anh giữ chức Đại đội phó được ít ngày thì hy sinh ngay tại trận địa bảo vệ cầu Non Nước, Ninh Bình. Khẩu đội trưởng là anh Sỹ - lính tái ngũ tầm 30 tuổi, tính hiền lành nên tôi rất quý. Anh Bạch Đồng Sinh, quê Đồng Văn - Hà Nam (cũ), lính 1964, là pháo thủ số 1. Đảng viên Phạm Văn Khiêu - pháo thủ số 2. Pháo thủ số 3 là Dương Văn Đăng, một chàng trai thấp, đậm. Tôi dong dỏng cao nên được làm pháo thủ số 4, suốt ngày ngẩng mặt lên trời, theo dõi máy bay địch để lấy thước ngắm đường bay, góc bổ nhào. Anh Vượt quê ở Ba Đình, Hà Nội, người thấp nhưng to con, rất khỏe nên đảm nhiệm vị trí số 5, chuyên đưa đạn vào nòng pháo. Em út Nguyễn Đình Thành vừa nhập ngũ quê Hà Nam làm nhiệm vụ số 6 (sau này, Thành cũng hy sinh ở trận địa Ninh Bình).

Xe chở chúng tôi về Động Thiên Tôn (Ninh Bình) nhận vũ khí. Đó là những khẩu 37 ly của Trung Quốc mới tinh, bám đầy dầu mỡ cùng những hòm đạn nặng trĩu. Nhận xong vũ khí, xe kéo pháo và đưa chúng tôi về cầu Gián (Ninh Bình). Tại đây, đơn vị vừa huấn luyện, vừa trực tiếp chiến đấu bảo vệ cầu. Từ chỗ chưa thạo tay tầm, chưa quen tay hướng, chỉ sau ít ngày được hướng dẫn tận tình, cánh lính mới chúng tôi đã thuần thục, vững vàng trên mâm pháo đối mặt với kẻ thù. Ngoài huấn luyện quân sự, chúng tôi còn học chính trị, xác định nhiệm vụ sẵn sàng đi chiến trường C làm nhiệm vụ quốc tế.

Trước ngày lên đường sang đất bạn, chúng tôi được lệnh gói ghém tất cả thư từ, sổ sách có chữ Việt Nam để gửi qua bưu điện về gia đình, không được mang theo bởi lúc này, nhiệm vụ sang Lào còn rất bí mật.

Vào một buổi chiều tháng 6-1965, đơn vị lặng lẽ rời khỏi trận địa Cầu Gián. Xe, pháo đi qua các trọng điểm trên đường 1, qua cầu Hàm Rồng thân quen, rồi qua Thành nhà Hồ, hướng về phía tây đi tiếp... Cứ đêm hành quân, đến sáng dừng lại sửa sang công sự, rồi trực chiến suốt cả ngày. Anh nào chưa đến phiên trực thì chui vào gầm pháo tranh thủ ngủ được chút nào hay chút ấy để lấy sức. Mâm pháo hấp thu ánh nắng mặt trời nóng như chiếc chảo rang khiến gầm pháo cũng hầm hập. Mặc cho nắng nóng, lính ta vừa chui vào gầm pháo một lát đã ngáy vang. Nhưng nào có ngủ được nhiều, bởi máy bay địch thường xuyên quấy phá và đơn vị liên tục vào báo động cấp 1. Mà đã vào cấp 1 thì tất cả các pháo thủ đều phải sẵn sàng chiến đấu trên mâm pháo. Đêm hành quân, ngày trực chiến, được ít hôm thì thằng nào thằng nấy hốc hác, bơ phờ. Mặc cho gian khổ, cánh lính trẻ vẫn bày trò nghịch ngợm, đó là lấy mắm tôm trộn với mỡ pháo (hai thứ này thì khẩu đội nào cũng sẵn) bôi vào mũi khiến những cậu đang say giấc dưới gầm pháo phải chun mũi, nhăn mặt... cánh đang trực thì cười ha hả.

Sau khoảng một tháng hành quân vất vả, đêm ấy chúng tôi đã đến Na Mèo. Nơi đây có nghĩa trang liệt sĩ to lắm, chủ yếu là bộ đội Việt Nam hy sinh ở Sầm Nưa và phía bắc Lào. Lính ta đặt tên cho nghĩa trang là Trung đoàn Na Mèo, rồi đùa nhau: Liệu tới đây, chẳng biết thằng nào vinh hạnh được biên chế về trung đoàn này.

Đến biên giới Việt Lào, cái barie được nâng lên để từng chiếc, từng chiếc xe vượt qua. Ngồi trên xe, chúng tôi không khỏi háo hức và đều rướn cổ lên nhìn về phía trước như đợi chờ một điều gì đó hết sức linh thiêng. Nhưng chỉ thấy toàn rừng núi âm u, không một ánh đèn.

 Sang đất Lào, chúng tôi được lệnh ngồi trên xe nhưng vẫn phải cảnh giác, súng AK lên đạn đề phòng bọn phỉ Vàng Pao phục kích. Nhận lệnh xong, chẳng đứa nào buồn ngủ nữa mà mắt luôn dõi vào đêm tối vẫn mịt mùng...

Đoàn xe nặng nhọc vượt qua đèo Pa Pông, đèo thì cao chót vót. Ánh đèn gầm của những xe đi trước phản chiếu, xe sau nhìn lên cứ ngỡ pháo sáng của máy bay địch thả xuống. Hết lên dốc rồi lại xuống đèo. Với những tay lái cừ khôi của đơn vị, xe của chúng tôi cũng đã vượt qua đèo an toàn, đi một đoạn đường nữa là tới vị trí đóng quân thuộc tỉnh Sầm Nưa, là vùng giải phóng của Lào. Cả đơn vị đưa pháo vào chiếm lĩnh trận địa, các khẩu đội tiến hành sửa sang, ngụy trang công sự làm công tác chuẩn bị chiến đấu.

Công việc tạm xong thì trời cũng vừa hửng sáng. Một ngày mới trên đất bạn Lào cũng bắt đầu. Thời tiết ở đây vào mùa này cũng rất thất thường, trời đang leo lẻo trong xanh, nhưng bỗng nhiên cơn mưa cứ ào ào trút xuống. Rồi mươi phút sau nắng lại bừng lên.

Để đảm bảo bí mật, những ngày đầu sang đây chúng tôi không được dựng lán. Ngày thì trực chiến, học tập ngay bên mâm pháo. Đêm đến ai không phải phiên trực chiến thì trải bạt pháo ra, ngủ ngay bên trong công sự. Sáng tỉnh dậy quần thằng nào cũng đỏ lòm những máu. Còn bên trong tấm bạt là những chú vắt, con thì bẹp nát, con thì no tròn nằm lăn lóc. Gặp đêm trời mưa thì chỉ còn cách trùm áo mưa ngồi chờ trời sáng. Sau này thì được phép làm lán để ngủ, nhưng phải sáu giờ tối mới được dựng, đến bốn rưỡi sáng hôm sau phải dỡ lán để giữ bí mật. Thêm bận mải, vất vả nhưng dù sao vẫn còn hơn phải ngủ ngoài trời.

Sang đây, ngoài quân tư trang, mỗi người chỉ có một ít giấy pơ luya để viết thư về cho gia đình. Mỗi khi viết thư xong phải đưa cho chính trị viên duyệt. Nếu thấy không để lộ bí mật quân sự (là đang ở bên Lào) thì đại đội sẽ gửi lái xe vận tải mang về nước gửi qua bưu điện. Đặc biệt, trong túi áo ngực mỗi người đều mang theo một mảnh tôn bé bằng ba ngón tay được cắt từ vỏ hộp đạn. Trên đó được đục những hàng chữ số do cán bộ đại đội hướng dẫn: Hàng đầu tiên là ngày, tháng, năm sinh; hàng thứ 2 là ngày vào Đoàn, vào Đảng; hàng thứ 3 là phiên hiệu đơn vị hoặc số thứ tự theo danh sách chiến sĩ của đại đội lưu tại trung đoàn ở trong nước... Dãy số trên mảnh tôn ấy sẽ là căn cứ so sánh với giấy tờ lưu lại để xác định danh tính, quê quán nếu chẳng may có hy sinh.

Sang đây nhiệm vụ chính của đơn vị là bảo vệ căn cứ của Đảng và Chính phủ Lào đặt tại khu giải phóng. Máy bay địch quần đảo suốt ngày, chúng bay rất thấp theo triền núi, có lúc lợi dụng ánh mặt trời để bổ nhào cắt bom. Lúc thì đánh thẳng vào trận địa, lúc thì đánh vào mục tiêu. Cùng với bộ đội cao xạ Việt Nam còn có một số đơn vị cao xạ của bộ đội Pha thét Lào hợp đồng tác chiến. Đơn vị tôi tranh thủ mọi lúc chưa có địch thì tăng cường tập luyện, khi máy bay Mỹ đến thì đánh theo các phương án đã luyện tập. Khi máy bay địch vào đến cự ly phù hợp hoặc khi bổ nhào thì mới nổ súng khiến chúng rất sợ ném bom, tên lửa hay rốc két chúng phóng xuống thường không trúng mục tiêu, trận địa.

 Khi ở trong nước, chúng tôi ăn chế độ 7 hào 8; là lính trinh sát thì được ăn thêm 1 hào 2; là lính đo xa thì thêm 2 hào 4. Nhưng sang đây thì như nhau tất, gạo thì không thiếu, thức ăn thì chỉ có mắm tôm, cá khô đã mục, đỗ xanh hột. Thỉnh thoảng lắm mới có xe tiếp tế sang cả đơn vị được thêm vài cân thịt lợn ướp muối mặn chát đã là quý lắm rồi.

Một buổi chiều, tôi vào rừng lấy lá ngụy trang, gần tối mới kéo lá về thì khẩu đội đã cơm nước xong rồi. Tôi thấy lạ vì cơm phần tôi hôm nay sao lại nhiều canh vậy. Nhưng đói nên chẳng nghĩ nhiều, tôi vục đầu chan, rồi húp. Tôi vừa ăn xong, cả khẩu đội cười ầm cả lên bảo: “Hôm nay cho thằng Xiêm ăn canh vắt”. Thì ra, chẳng biết anh nuôi nấu nướng thế nào mà trong canh có nhiều con vắt. Mọi người bỏ không ăn nên mới phần tôi nhiều vậy. Giờ nuốt vào rồi, tôi chỉ biết lầm bầm tí chút rồi cười trừ...

Ăn uống kham khổ mà trận địa thì phải di chuyển liên tục. Nếu trong ngày đã bắn lên, dù chỉ vài loạt đạn thì đêm ấy đơn vị phải lập tức di chuyển sang trận địa khác.

Tôi nhớ mãi đêm hành quân từ trận địa Pa Pông sang trận địa Na Kay, khi xe chuyển bánh thì trời cũng đổ mưa như trút. Ngồi trên xe, mặc áo mưa nhưng thằng nào cũng bị ướt, người rét run cầm cập. Anh em ngồi sát vào để truyền hơi ấm cho nhau. Đường thì trơn, lầy lội lại xóc nữa, Anh Hòa - trung đội phó, không biết do cây rừng gạt hay xe xóc mà bị văng xuống đường, may chỉ bị thương, phải chuyển về nước điều trị. Thỉnh thoảng xe ì ạch không nhúc nhích, thế là lính ta lại phải xuống đẩy cả xe lẫn pháo. Mãi đến 8 giờ sáng, xe pháo mới vào chiếm lĩnh trận địa mới. Cũng may trời đầy mây, vẫn mưa nên từ sáng chưa có máy bay Mỹ dòm ngó. Trận địa mới ở Na Kay đặt trên một thảm rừng đối bằng phẳng. Ở đó chỉ toàn một một loại cây xả mọc tốt um tùm, mùi thơm của xả lan ra toàn trận địa.

Rồi chẳng biết bắt đầu từ đâu, từ ai mà từ đại đội đến trung đội đua nhau cạo trọc đầu. Khi đầu tất cả đã trọc lốc, trắng hếu rồi thì chúng tôi mới thấy mình dại dột. Bởi, nay chẳng còn cái tóc nào thì nắng nó tha hồ rọi vào. Lúc nào cũng sùm sụp cái mũ sắt nên càng thêm nóng. Có lấy khăn mặt dấp nước chùm lên đầu rồi mới chụp mũ sắt lên, nhưng chỉ một lúc là khăn lại khô cong...

 Sau hơn nửa năm làm nhiệm vụ quốc tế, đầu tháng 12-1965 chúng tôi nhận lệnh về nước trong niềm vui vỡ òa. Tạm biệt Pa Pông, tạm biệt Na Kay, tạm biệt những em gái Sầm Nưa xinh đẹp, chúng tôi trở về đất Mẹ Việt Nam. Nơi ấy, những trọng điểm, những nhà ga, những cây cầu trên trục đường 1 đường 5 đang chờ đợi chúng tôi. Sau 11 tháng đeo lon binh nhì, tháng 1-1966 cánh lính mới chúng tôi đều được thăng quân hàm lên binh nhất. Thế là từ đó chúng tôi đã trở thành những anh lính cựu, dạn dày với đạn bom, sẵn sàng vào những trận chiến đấu mới.      

Đọc tiếp

Mới nhất

Những tháng ngày trên đất nước Chăm Pa