Logo-print CƠ QUAN CỦA TRUNG ƯƠNG HỘI - TIẾNG NÓI CỦA CỰU CHIẾN BINH VIỆT NAM

Ký ức Xuân Mậu Thân 1968 của một vị tướng

Nguyễn Quốc Hoàn 26/02/2026 - 22:46

Tôi có may mắn được gần gũi và làm việc trên 10 năm với Thiếu tướng Nguyễn Thanh Tùng - Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân và nghe ông kể nhiều về trận mạc thời kỳ khốc liệt của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước mà mình là người trong cuộc. Đặc biệt là ký ức về Xuân Mậu Thân 1968 như một dấu ấn khó phai mờ.

thieu-tuong-anh-hung-luc-luong-vu-trang-nhan-dan-nguyen-thanh-tung
Thiếu tướng, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Nguyễn Thanh Tùng.

Như một thước phim quay chậm, Thiếu tướng Nguyễn Thanh Tùng hồi tưởng:

Kết thúc chiến dịch Lộc Ninh, mình được lệnh tổ chức hai đại đội về Phòng 2 (phòng Quân báo Miền) nhận nhiệm vụ mới. Yêu cầu hết sức khẩn trương, nhưng hai đại đội này còn đang phục vụ chiến dịch chưa về đủ. Đại đội 1 còn một trung đội chuẩn bị lại ở Chi khu Lộc Ninh; Đại đội 3 còn một tiểu đội đang đi bám Phước Bình (Phước Long) và một trung đội bám sân bay Tếch Ních.

Căn cứ vào yêu cầu nhiệm vụ, thời gian, tình hình địch và địa hình trên trục đường hành quân, Ban chỉ huy tiểu đoàn bàn kế hoạch tổ chức hành quân như sau: Tổ chức thành ba đoàn, lực lượng rất gọn nhẹ, được trang bị đầy đủ điện đài, có chỉ huy đi cùng. Mỗi đoàn đi cách nhau 3 ngày.

Tổ chức xong, Đoàn 1 xuất phát. Lúc bấy giờ mình đau nặng, quân y nghi lao phổi, nhiều lần cho đi điều trị nhưng do yêu cầu công tác phải đi liên tục nên sức khỏe ngày càng suy kiệt. Đợt hành quân này gặp khó khăn, cố gắng lắm một ngày chỉ đi được 4-5 tiếng là phải nghỉ. Để khắc phục đi cho kịp bộ đội và có mặt đúng hạn để nhận nhiệm vụ, mình cùng một số người biết đường đi trước, do đó đã bảo đảm được thời gian quy định của trên.

Về đến Phòng, sau khi báo cáo tình hình và nhận nhiệm vụ: Cử 1 trung đội bám và chống càn Bố Túc, Kà Tum, đồng thời phải triển khai đợt một. Trong hoàn cảnh đơn vị chưa về đủ, chưa gặp chính trị viên tiểu đoàn và ban chỉ huy tiểu đoàn; về nhiệm vụ bám, đánh địch ở Bố Túc, Kà Tum do Phòng trực tiếp chỉ đạo, còn các nhiệm vụ khác chỉ giao khái quát, nên căn cứ vào ý định của trên mà triển khai.

Ngày 12-12-1967: Nhận lệnh lúc 21 giờ. Họp Ban chỉ huy quán triệt nhiệm vụ đồng thời phân công sử dụng lực lượng, thành lập đoàn công tác và bàn giao công tác cho những người ở nhà. Làm công tác lãnh đạo tư tưởng cho đơn vị hành quân và động viên quyết tâm: Trước mắt đảm bảo thời gian, an toàn, bí mật hành quân, đồng thời chuẩn bị cá nhân để sáng hôm sau hành quân. Làm xong các bước công tác thì trời vừa sáng.

Ngày 13-12-1967: Từ 6 giờ sáng, tôi cùng 37 trinh sát xuất phát hành quân xuống Long Nguyên làm nhiệm vụ.

Chiều 14-12-1967, tôi có mặt tại vị trí quy định, nhận nhiệm vụ chọn vị trí đặt Sở chỉ huy cơ bản của Bộ chỉ huy tiền phương Miền. Chúng tôi gồm anh Năm Kiệt - cán bộ Phòng Quân báo, anh Tư Xuân - Phòng Tác chiến và tôi tiến hành nghiên cứu địa hình, phân chia khu vực, dự kiến bố trí các đơn vị; đồng thời nghiên cứu các chốt trinh sát nắm địch và cắt đường cần thiết.

Lúc bấy giờ, gạo là vấn đề nan giải nhất. Đoàn vừa mới xuống, chưa móc được đoàn hậu cần khu vực. Mặt khác, địch vừa đổ chụp càn Long Nguyên, Thanh An, An Điền, Phú An/Bến Cát và các vùng thuộc Dầu Tiếng, do đó phải tự lực mua gạo về ăn để vừa công tác vừa chiến đấu. Sau ba ngày, chúng tôi hoàn thành nhiệm vụ.

Ngày hôm sau, anh Trần Đình Xu (Ba Đình) trực tiếp giao nhiệm vụ xuống chuẩn bị khu vực 2 (Sở chỉ huy tiền phương). Đoàn gồm có anh Tư Xuân (phòng Tác chiến), anh Đoàn Thanh Long (phòng Thông tin) và tôi, do anh Tư Xuân phụ trách chung. Chúng tôi đi nghiên cứu địa hình các xã Bưng Còng, Rạch Bắp và ba xã nam Bến Cát; trên quy định đến ngày 20-12 phải xong và có báo cáo. Khi đến Bưng Còng cũng là lúc địch kết thúc cuộc càn và ủi phá 3 xã nam Bến Cát với quy mô 70 xe tăng và xe ủi đất. Chúng ủi sạch 3 xã nói trên, không còn biết đâu là làng xã, đâu là căn cứ của ta, địa đạo cũng không còn. Cả một khu rừng 10 mẫu thành bình địa, đứng đầu này nhìn thấy đầu kia. Địa phương cũng không còn ở đó. Tôi và một đồng chí địa phương đi nghiên cứu địa hình suốt 2 đêm 1 ngày là xong 3 xã và chọn được một số khu vực cho Sở chỉ huy tiền phương. Về báo cáo, được anh Ba Đình biểu dương.

Ngày 22-1-1968: 18 giờ anh Trần Văn Trà (Tư Chi) - Tư lệnh Mặt trận giao trực tiếp nhiệm vụ đi chuẩn bị một vị trí Sở chỉ huy ở Trung An. Khi giao nhiệm vụ có anh Ba Đình và anh Trần Văn Danh (Ba Trần) cùng dự tại Long Nguyên.

Sau khi nhận nhiệm vụ, tôi xin 6 ngày hoàn thành công việc và về báo cáo. Anh Tư đồng ý và dặn cố gắng có mặt vào ngày 28-1-1968, chỉ được sớm hơn. Lúc bấy giờ, địch đang chốt Bến Chùa và càn Trung An. Những nơi phải đi qua đều có địch, đường dây Gò Môn bị tắc. Gặp anh Bảy Quốc không giải quyết được, phải viết thư cho anh Bảy Hùng cho người hướng dẫn đi Trung An. Thời gian hết sức khẩn trương, phải vượt sông Sài Gòn gấp nên ngày 24-1 đã vượt sông để gặp anh Bảy Hùng xin người hướng dẫn đi Trung An. Nhưng ngày 24-1 anh Bảy Hùng cũng đã vượt sông về bên này nên tìm không gặp. Rất khó khăn vì không có người giới thiệu xuống địa phương mà địa hình lại rất mới lạ. Lúc này chỉ còn cách bám vào cán bộ địa phương để nhờ họ hướng dẫn địa hình. Đến tối 24-1 thì gặp được anh Tám Lê Thanh, được anh giới thiệu với địa phương và bộ đội ở khu vực Trung An.

Sau 2 ngày (25 và 26-1) đã đi hết các khu vực cần chuẩn bị, có khi phải hóa trang thành dân để đi. Đến chiều thì hoàn thành nhiệm vụ trên giao, chuẩn bị xong vị trí và nắm được tình hình địch sẵn sàng báo cáo cho Bộ chỉ huy. Lúc đi mất 2 ngày, nay về hạ quyết tâm chỉ đi 1 đêm.

Sáng 27-1-1968 chúng tôi đã có mặt tại nhà (sớm hơn được 1 ngày) thì phát hiện địch đổ quân chốt chặn tại các khu vực đường hành lang. Mình tổ chức lực lượng bám nắm địch ngay. Sẵn sàng đánh càn để bảo vệ Sở chỉ huy Miền; mặt khác tổng hợp tình hình địch ở xung quanh: Chốt Cầu Trệt, Bầu Khai và một số nơi khác và báo cáo ngay lên cấp trên.

Ngày 28-1: Lúc 1 giờ, báo cáo tình hình kết quả chuẩn bị Trung An cho Bộ chỉ huy, được anh Tư Chi biểu dương là hoàn thành tốt nhiệm vụ. Sau đó anh Tư giao nhiệm vụ tổ chức chốt bảo đảm đường cho 3 cơ quan Miền đi đến Sở chỉ huy Bưng Còng rồi mình cùng một bộ phận trinh sát đi với Sở chỉ huy tiền phương Miền.

Ngày 31-1-1968, sau khi đưa Sở chỉ huy cơ bản đến nơi, chúng tôi tiếp tục hành quân. 2 giờ tổ chức vượt sông Sài Gòn để qua Trung An. Do tình hình động phải dừng lại Phú An - lúc này cũng là thời điểm nổ súng Tổng công kích - Tổng khởi nghĩa Xuân 1968.

Đến 17 giờ ngày 1-2 chúng tôi hành quân ngược lại Sở chỉ huy cơ bản. Ngày 2-2-1968 nhận nhiệm vụ đi móc liên lạc với Công trường 7 (Sư đoàn 7), Phân khu 5, Trung đoàn 3 và Trung đoàn Đồng Nai. 17 giờ ngày 3-2 đến xã Mỹ Phước, tôi vào ấp chiến lược gặp Huyện ủy Bến Cát nhờ cử người giúp đưa đường ra Thới Hòa.

Ngày 4-2, lúc 4 giờ gặp Bí thư xã Thới Hòa; trong ngày gặp Bí thư Huyện ủy Châu Thành/Bình Dương, sau đó lần lượt đi gặp đồng chí Hai Ngươn (Phân khu 5), Ba Quân (Trung đoàn Đồng Nai, Trung đoàn 3) và Sáu Thanh (Công trường 7). Như vậy là đến 4-2-1968, tôi đã liên lạc được với hết các đầu mối trên giao. Được đồng chí Hồ Tâm (Sư đoàn trưởng Sư đoàn 7) biểu dương. Chúng tôi chốt ở đây để hàng ngày nắm tình hình các đơn vị báo cáo về Bộ chỉ huy Miền và truyền đạt các mệnh lệnh của Bộ chỉ huy cho các đơn vị nói trên.

Tuy quân số ít, kể cả tôi và 2 thông tin phụ trách máy K63 là 4 người, nhưng vẫn bảo đảm thông tin thông suốt và trục đường dây liên lạc từ Thới Hòa về Phú An; phải qua lại đường 13 và sông Thị Tính (thời gian mất từ 4-5 giờ) trong hoàn cảnh địch ngăn chặn, lùng sục và bắn phá ác liệt bằng phi pháo, cơ giới. Liên lạc giữa cấp trên và các đơn vị đảm bảo thông suốt trong mọi tình huống.

Đêm 8-2, tôi được Bộ chỉ huy Miền điều về chịu trách nhiệm đưa một đồng chí trong Bộ chỉ huy Phân khu 5, một đồng chí trong Ban chỉ huy Trung đoàn Đồng Nai và đồng chí Chín Mây về gặp Bộ chỉ huy tiền phương Miền. Đến 6 giờ tôi đã đưa các đồng chí trên về đến Bộ chỉ huy an toàn.

Anh Lê Đức Anh (Sáu Nam) cho tôi nghỉ một ngày để lại sức vì suốt từ 19-12-1967 đến 9-2-1968 phải công tác liên tục, nhiều đêm không ngủ, sức khỏe rất yếu. Hết một đợt hoạt động, tôi nắm lại đơn vị và triển khai công tác mới.

Như con thoi “dệt tình yêu quê hương, đất nước” bất chấp hiểm nguy. Nhiều lúc cái chết cận kề. Nhưng người Tiểu đoàn trưởng trinh sát Miền (D46) lúc bấy giờ - đồng chí Nguyễn Thanh Tùng đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Sau này, đồng chí được đề bạt cán bộ Trung đoàn, Sư đoàn và Mặt trận, chỉ huy nhiều trận đánh vào các căn cứ, hậu cứ của Mỹ - Ngụy đạt hiệu suất chiến đấu đặc biệt cao. Và được tuyên dương danh hiệu cao quý: Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.

Anh Chín Tùng ơi, Tết Bính Ngọ - 2026 đã về, những vùng đất năm nào anh và đồng đội từng đi qua bị chiến tranh tàn phá nặng nề, nay nở hoa rực rỡ, đang bừng lên sức sống mới. Những lúc này, bạn bè cùng trang lứa hầu hết đã thưa vắng theo quy luật của thời gian. Nhưng thế hệ sau vẫn luôn bâng khuâng nhớ về anh - một người lính dạn dày trận mạc mà chiến công như phép nhiệm màu khắc vào lịch sử quân đội, truyền thống vẻ vang của Binh chủng Đặc công 2 lần anh hùng. Bài viết này thay nén hương thơm, gửi tới anh nơi chín suối.

Đồng Nai, Xuân Bính Ngọ 2026.

Đọc tiếp

Mới nhất

Ký ức Xuân Mậu Thân 1968 của một vị tướng