CƠ QUAN CỦA TRUNG ƯƠNG HỘI - TIẾNG NÓI CỦA CỰU CHIẾN BINH VIỆT NAM TƯ DUY “ĐƯỜNG MÒN LỐI CŨ” - RÀO CẢN BƯỚC VÀO KỶ NGUYÊN VƯƠN MÌNH CỦA DÂN TỘC
Nhận diện và quyết liệt loại bỏ tư duy “đường mòn lối cũ” - biểu hiện của sự trì trệ trong nhận thức và hành động là yêu cầu tất yếu để dân tộc vững bước vào “Kỷ nguyên vươn mình”. Nội dung bài viết tập trung vạch trần các luận điệu xuyên tạc của thế lực thù địch lợi dụng những “điểm nghẽn” thể chế để công kích nền tảng tư tưởng Đảng. Đồng thời, quán triệt quan điểm Đại hội XIV của Đảng và chỉ đạo chiến lược của Tổng Bí thư Tô Lâm, tác giả khẳng định, đột phá tư duy, trọng tâm là đột phá thể chế và bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm, chính là mệnh lệnh hành động để khơi thông mọi nguồn lực nội sinh, đưa đất nước phát triển hùng cường.
1. Đặt vấn đề
Lịch sử dân tộc đang đứng trước vận hội mới đầy xán lạn. Sau bốn thập kỷ Đổi mới, Việt Nam đã tích lũy đủ thế và lực để hiện thực hóa khát vọng hùng cường. Thông điệp về “Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc” do Tổng Bí thư Tô Lâm khởi xướng chính là sự đúc kết tầm nhìn chiến lược, xác lập giai đoạn phát triển mới về chất của cách mạng Việt Nam. Tuy nhiên, quy luật biện chứng của sự phát triển luôn là cuộc đấu tranh quyết liệt giữa cái mới tiến bộ và sức ì của cái cũ lạc hậu. Trong đó, tư duy “đường mòn lối cũ” - trạng thái tâm lý ngại thay đổi, bám víu vào những cơ chế lỗi thời, đã trở thành “điểm nghẽn của mọi điểm nghẽn”, kìm hãm các sức sản xuất mới. Nguy hại hơn, sự trì trệ này đang bị các thế lực thù địch lợi dụng để xuyên tạc bản chất chế độ, rêu rao rằng Đảng “bế tắc về lý luận” hay “Chủ nghĩa Mác - Lênin không tương thích với kinh tế số”. Vì vậy, nhận diện tư duy lối mòn và vạch trần các luận điệu phản động không chỉ là yêu cầu phát triển kinh tế, mà còn là nhiệm vụ chính trị cấp bách để bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng. Kỷ nguyên mới đòi hỏi một tinh thần “Đổi mới lần thứ hai” quyết liệt như năm 1986, nhằm phá bỏ xiềng xích của sự thủ cựu, giải phóng năng lực sáng tạo để đưa đất nước vững vàng tiến tới phồn vinh, hạnh phúc.
2. Nội dung nghiên cứu
2.1. Nhận diện tư duy “đường mòn lối cũ” và thủ đoạn xuyên tạc của các thế lực thù địch
Trong dòng chảy không ngừng của thực tiễn, tư duy “đường mòn lối cũ” không còn đơn thuần là những biểu hiện thô sơ, trực quan của thời kỳ cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp. Hiện nay, nó đã biến tướng, ẩn mình dưới những hình thái tinh vi và nguy hiểm hơn, trở thành một loại “virus trì trệ” ngay trong lòng bộ máy. Đó là sự xơ cứng, máy móc trong áp dụng quy định pháp luật; là thói quen thực thi công vụ theo kiểu “điền vào biểu mẫu” mà phớt lờ những chuyển động sống động, đa dạng của hơi thở thực tiễn. Nguy hại hơn, nó biểu hiện qua căn bệnh “sợ sai, sợ trách nhiệm”, tư duy “chờ hướng dẫn” của một bộ phận cán bộ, đảng viên. Đây thực chất là sự thoái thác trách nhiệm trước Đảng, trước nhân dân, nơi mà sự an toàn của cá nhân được đặt lên trên lợi ích quốc gia - dân tộc và khát vọng vươn mình của cả một thế hệ.
Thực trạng này chính là mảnh đất màu mỡ để các thế lực thù địch, phản động thực hiện mưu đồ “mượn gió bẻ măng”. Trên các diễn đàn mạng xã hội và các kênh truyền thông hải ngoại, chúng ráo riết tung ra các luận điệu dẫn dắt dư luận theo hướng cực kỳ cực đoan. Chúng lập luận rằng: “Sự trì trệ của bộ máy là hệ quả tất yếu của chế độ độc đảng” hay “Đảng Cộng sản Việt Nam đang lâm vào bế tắc về lý luận, nên phải chắp vá, vay mượn các khái niệm phương Tây như kinh tế thị trường hay kỷ nguyên số để che đậy bản chất lỗi thời”. Thâm độc hơn, chúng cố tình đánh tráo khái niệm, đồng nhất những khuyết điểm cụ thể trong quản trị của một bộ phận cán bộ với bản chất hệ tư tưởng, nhằm gieo rắc sự hoài nghi vào nền tảng tư tưởng của Đảng.
Cần phải khẳng định đanh thép rằng, những luận điệu trên là hoàn toàn phi khoa học và mang dụng ý chính trị đen tối. Chúng cố tình tước bỏ tính biện chứng - linh hồn của học thuyết Mác - Lênin. Chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh không bao giờ là một hệ thống lý luận khép kín, xơ cứng. Theo Hồ Chí Minh, lý luận không phải là thứ để học thuộc lòng hay “tụng niệm” như kinh thánh, mà phải được vận dụng sáng tạo để giải quyết các vấn đề thực tiễn đề ra. Người từng căn dặn: “Lý luận cốt để áp dụng vào công việc thực tế. Lý luận mà không áp dụng vào thực tế là lý luận suông”[1]. Do đó, việc Đảng ta liên tục đổi mới tư duy, cập nhật những tri thức tinh hoa của nhân loại về kinh tế số, quản trị hiện đại chính là minh chứng cho sức sống mãnh liệt và khả năng tự làm mới của một đảng cách mạng chân chính, chứ tuyệt nhiên không phải là sự “bế tắc” hay “vay mượn” như các thế lực thù địch xuyên tạc.
Hệ lụy của tư duy lối mòn là vô cùng nghiêm trọng, nó tạo ra những “điểm nghẽn” cản trở sự phát triển bền vững. Đại hội XIV của Đảng đã chỉ rõ một trong những hạn chế là: “Việc thể chế hoámột số chủ trương, nghị quyết của Đảng thành phápluật của Nhà nước chưa đầy đủ, kịp thời; việc chỉ đạovà tổ chức thực hiện nghị quyết vẫn là khâu yếu,chậm được khắc phục”[2]. Nếu không dũng cảm phá vỡ lối mòn, chúng ta sẽ tự đóng khung mình trong những định kiến cũ, bỏ lỡ cơ hội vàng từ cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Cuộc đấu tranh chống lại tư duy “đường mòn lối cũ” thực chất là cuộc đấu tranh giữa cái tiến bộ và cái lạc hậu ngay trong mỗi con người, mỗi tổ chức. Đó là nhiệm vụ sống còn để bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng Đảng, giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa và tạo đà cho dân tộc vươn mình mạnh mẽ trong kỷ nguyên mới.
2.2. Khơi thông “điểm nghẽn” thể chế: Từ rào cản tư duy cũ đến bản lĩnh quản trị kiến tạo
Trong cấu trúc vận hành của một quốc gia, thể chế được ví như “hệ thần kinh” điều tiết mọi nguồn lực xã hội. Đảng ta đã sáng suốt xác định đột phá thể chế là một trong ba đột phá chiến lược để đưa đất nước phát triển nhanh và bền vững. Tuy nhiên, trên thực tiễn, đây vẫn là một “điểm nghẽn” lớn, mà căn nguyên sâu xa chính là sự tồn dư của lối tư duy cũ kỹ. Tư duy “đường mòn” trong xây dựng pháp luật thường biểu hiện qua cách tiếp cận “quản không được thì cấm” hoặc “quản lý đến đâu, mở đường đến đó”. Đây là lối tư duy thụ động, mang tính phòng vệ, nặng về kiểm soát hơn là kiến tạo phát triển. Nó tạo ra những quy định chồng chéo, mâu thuẫn, làm nản lòng các nhà đầu tư và kìm hãm sự sáng tạo của người dân. Sự thiếu hụt một tầm nhìn dài hạn, mang tính dự báo trong xây dựng chính sách đã khiến thể chế đôi khi trở thành “chiếc áo quá chật” đối với một nền kinh tế đang khát khao vươn mình.
Lợi dụng những khó khăn trong quá trình hoàn thiện thể chế, các đối tượng cơ hội chính trị và thế lực thù địch đã nhanh chóng tung ra các luận điệu xuyên tạc nhằm tấn công vào hệ thống pháp luật và vai trò lãnh đạo của Đảng. Chúng rêu rao rằng: “Chỉ có đa nguyên, đa đảng theo mô hình phương Tây mới giải quyết được mâu thuẫn thể chế và xóa bỏ tham nhũng tại Việt Nam”. Chúng cố tình gieo rắc tư tưởng cho rằng mô hình độc đảng cầm quyền tất yếu dẫn đến sự trì trệ về thể chế. Đây là một luận điệu phản động, thiếu căn cứ khoa học và thực tiễn. Thực tế lịch sử đương đại cho thấy, không ít quốc gia đa đảng vẫn rơi vào tình trạng “vũng lầy thể chế”, chính sách bị tê liệt do sự đấu đá giữa các phe phái, dẫn đến bất ổn chính trị và suy thoái kinh tế kéo dài.
Vấn đề cốt lõi của phát triển không nằm ở số lượng đảng phái, mà nằm ở bản lĩnh, năng lực kiến tạo của bộ máy quản trị và sự quyết tâm tự đổi mới của Đảng cầm quyền. Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Đảng ta không ngừng hoàn thiện lý luận về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Đại hội XIV của Đảng đã khẳng định rõ mục tiêu: “Tiếp tục đẩy mạnh xây dựng và hoàn thiệnNhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam củaNhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân, dưới sự lãnh đạocủa Ðảng Cộng sản Việt Nam, đặt trong tổng thể côngtác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trịtrong sạch, vững mạnh toàn diện; xây dựng nền quản trịquốc gia hiện đại, hiệu lực, hiệu quả; có hệ thống pháp luật hoàn chỉnh, được thực hiện nghiêm minh; bảo đảmvà bảo vệ công lý, quyền con người, quyền công dân”[3]. Đây chính là lời giải đanh thép cho bài toán thể chế, khẳng định rằng Đảng ta hoàn toàn có đủ năng lực và ý chí để tự bứt phá khỏi những lối mòn tư duy cũ.Hiện nay, việc đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia và cải cách tư pháp chính là những “nhát búa” mạnh mẽ phá vỡ những rào cản định kiến. Chuyển đổi số không đơn thuần là thay đổi về công nghệ, mà là một cuộc cách mạng về tư duy quản trị, buộc bộ máy phải công khai, minh bạch và tối ưu hóa quy trình. Điều này giúp loại bỏ cơ chế “xin - cho” - vốn là mảnh đất của tư duy lối mòn và tiêu cực. Như Tổng Bí thư Tô Lâm đã từng chỉ rõ, thể chế phải thực sự là động lực, phải tháo gỡ cho được các “nút thắt” để giải phóng nguồn lực. Việc xác lập “sự hài lòng của người dân và doanh nghiệp làm thước đo hiệu quả hành chính” là một bước chuyển tư duy vĩ đại, từ Nhà nước quản lý sang Nhà nước phục vụ và kiến tạo.
Như vậy, việc khơi thông điểm nghẽn thể chế phải bắt đầu từ việc xóa bỏ “đường mòn” trong nhận thức của đội ngũ cán bộ làm chính sách. Cuộc đấu tranh chống lại các luận điệu xuyên tạc về thể chế không chỉ nằm ở việc phản bác trên mặt báo, mà quan trọng hơn là minh chứng bằng một hệ thống pháp luật minh bạch, hiệu quả, thực sự vì dân. Khi thể chế được khơi thông, mọi nguồn lực nội sinh sẽ được giải phóng, tạo thành sức mạnh tổng hợp đưa dân tộc vững vàng bước vào kỷ nguyên vươn mình.
2.3. Cuộc đấu tranh giữa “sức ì” bảo thủ và khát vọng bứt phá trong kỷ nguyên mới
Bước vào “Kỷ nguyên vươn mình”, dân tộc Việt Nam đang đứng trước yêu cầu cấp bách về tốc độ và chất lượng phát triển. Đây không chỉ là một mục tiêu chính trị mà là một cuộc đua tranh khốc liệt để khẳng định vị thế quốc gia trên bản đồ thế giới. Tuy nhiên, muốn bay cao và vươn xa, chúng ta buộc phải trút bỏ những “bao tải cát” đang kéo ghì sức sáng tạo của cả hệ thống. Đó chính là “sức ì” của tư duy lối mòn, một dạng lực cản vô hình nhưng vô cùng cộng hưởng.
Sức ì này biểu hiện rõ nhất qua căn bệnh “cục bộ địa phương” và “tư duy nhiệm kỳ”. Một bộ phận cán bộ hiện nay vẫn duy trì lối suy nghĩ “vun vén cho lợi ích đơn vị, địa phương mình” mà quên đi tổng thể lợi ích quốc gia. Tư duy nhiệm kỳ dẫn đến tình trạng chỉ chú trọng vào những dự án “bề nổi”, có kết quả ngay để lấy số liệu báo cáo, trong khi né tránh các dự án chiến lược dài hơi, những bài toán khó đòi hỏi sự hy sinh lợi ích ngắn hạn. Đảng ta đã thẳng thắn nhìn nhận: “Đổi mớitư duy về phát triển xã hội, giải quyết các vấn đề xã hộicòn chậm, nhất là cơ chế phối hợp giữa Nhà nước, thịtrường và xã hội cùng tham gia giải quyết các vấn đề xãhội, chưa phát huy tốt hiệu quả trong sử dụng cácnguồn lực và theo kịp yêu cầu phát triển xã hội.”[4]. Chính sự e dè, ngại bắt tay vào những việc rủi ro và đầy thử thách đã tạo ra một khoảng lặng nguy hiểm, làm lỡ nhịp bước đi của dân tộc trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang diễn ra như vũ bão.
Lợi dụng những biểu hiện này, các thế lực thù địch và phần tử cơ hội chính trị đã ráo riết tung ra các luận điệu “đánh lận con đen”. Chúng thổi phồng các vụ việc tiêu cực, tham nhũng rồi quy kết một cách hàm hồ rằng: “Tham nhũng và trì trệ là căn bệnh kinh niên, là ‘gen di truyền’ không thể chữa khỏi của chế độ độc đảng”. Mục đích của chúng là gieo rắc sự hoài nghi, khiến nhân dân mất lòng tin vào sự lãnh đạo của Đảng và tính ưu việt của chủ nghĩa xã hội.Trước những luận điệu thâm độc đó, chúng ta cần khẳng định một sự thật hiển nhiên: Tham nhũng, tiêu cực và sự trì trệ không phải là “bản chất” mà là “kẻ thù” của chế độ xã hội chủ nghĩa. Một Đảng cầm quyền dám nhìn thẳng vào sự thật, dũng cảm tự soi, tự sửa và quyết liệt đưa ra ánh sáng những mảng tối trong bộ máy chính là một Đảng mạnh, một Đảng có bản lĩnh. Công cuộc phòng, chống tham nhũng, tiêu cực do Đảng ta tiến hành thời gian qua không chỉ đơn thuần là việc xử lý các cá nhân sai phạm, mà sâu sắc hơn, đó là một cuộc cách mạng về tư duy quản lý.
Chúng ta đang quyết liệt chuyển đổi từ tư duy “xin - cho”, vốn là mảnh đất màu mỡ cho tiêu cực, sang tư duy phục vụ; từ tư duy “lợi ích nhóm” sang tư duy “lợi ích dân tộc”. Cuộc đấu tranh này chính là sự sàng lọc tự nhiên để loại bỏ những phần tử thoái hóa, biến chất, đồng thời đánh thức khát vọng cống hiến của những cán bộ chân chính. Đảng ta đã chỉ rõ, để đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới, yêu cầu tiên quyết là phải: “Tiếp tục đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác xâydựng và thi hành nghiêm pháp luật. Ðổi mới mạnh mẽphương thức quản lý nhà nước về kinh tế theo hướngchuyển giao những công việc Nhà nước không nhấtthiết phải làm cho các tổ chức xã hội, chuyển đổi cungcấp trực tiếp dịch vụ công sang phương thức đặt hàng.Đổi mới mạnh mẽ phân cấp, phân quyền gắn với tráchnhiệm nâng cao hiệu quả phối hợp trong lãnh đạo, chỉđạo, điều hành, xác định rõ trách nhiệm giữa trungương và địa phương, giữa các cấp chính quyền địaphương, thực hiện nguyên tắc “địa phương quyết, địaphương làm, địa phương chịu trách nhiệm”[5].
Cuộc đấu tranh giữa sức ì và khát vọng bứt phá là một quá trình tự thân, đòi hỏi sự bền bỉ và bản lĩnh. Khát vọng vươn mình của dân tộc chỉ có thể trở thành hiện thực khi mỗi cán bộ, đảng viên dám vượt lên chính mình, xóa bỏ tư duy lối mòn để tiếp nhận những giá trị mới, cách làm mới. Đây không chỉ là mệnh lệnh của lịch sử mà còn là lời giải cho bài toán bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng bằng chính những thành quả phát triển rực rỡ của đất nước. Khi mỗi quyết sách đều thấm đẫm hơi thở của thực tiễn và tinh thần vì dân, mọi luận điệu xuyên tạc sẽ tự khắc bị đẩy lùi vào bóng tối.
2.4. Bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm- Giải pháp phá vỡ lối mòn từ gốc rễ
Trong quy luật vận động của xã hội, cái mới khi vừa xuất hiện luôn ở thế yếu, dễ bị tổn thương bởi nó dám thách thức những trật tự cũ đã định hình. Tư duy “đường mòn lối cũ” tồn tại bền dai một phần do bản năng tự vệ của con người trước những rủi ro. Khi thiếu một cơ chế bảo vệ hữu hiệu, không ít cán bộ, dù có tâm huyết, cũng đành chọn giải pháp “an toàn giả tạo”, tức là làm đúng quy trình nhưng không mang lại đột phá, thà đứng yên trong bóng tối của lối mòn còn hơn mạo hiểm bước ra ánh sáng của sự đổi mới mà không có sự che chở. Sự im lặng và tính thụ động này chính là “mảnh đất chết” đối với khát vọng vươn mình của dân tộc.Đảng ta với sự nhạy bén về chính trị và thực tiễn, đã ban hành Kết luận số 14-KL/TW của Bộ Chính trị về chủ trương khuyến khích và bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo vì lợi ích chung. Đây không đơn thuần là một văn bản hành chính, mà là một bước ngoặt lớn về tư duy lý luận, một lời cam kết chính trị mạnh mẽ của Đảng đối với những người dám dấn thân. Kết luận này đã giáng một đòn chí tử vào các luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch khi chúng rêu rao rằng: “Chế độ này kìm hãm sự sáng tạo” hay “Ở Việt Nam, người tài không có đất diễn vì cơ chế xơ cứng”. Thực tế đã chứng minh, Đảng ta không chỉ trọng dụng nhân tài mà còn đang nỗ lực xây dựng một hệ sinh thái chính trị an toàn để cái mới được nảy mầm.
Việc thể chế hóa Kết luận 14-KL/TW thành các quy định pháp luật cụ thể, như Nghị định số 73/2023/NĐ-CP của Chính phủ, chính là cách tốt nhất để vạch trần mưu đồ chia rẽ mối quan hệ giữa Đảng với đội ngũ trí thức và cán bộ tâm huyết. Chúng ta cần khẳng định rằng: Đổi mới sáng tạo không phải là làm liều, làm ẩu, mà là sự dũng cảm vận dụng tư duy khoa học để vượt qua những rào cản hành chính rườm rà vì lợi ích cao nhất của nhân dân. Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định rõ: “Tập trung chuyển đổi cơ cấu và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, phát triển nguồn nhân lực chấtlượng cao, trình độ cao; đẩy mạnh thu hút và trọngdụng nhân tài; khuyến khích và bảo vệ cán bộ năngđộng, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu tráchnhiệm vì lợi ích chung. Đổi mới mạnh mẽ công tác cán bộ,bảo đảm khách quan, dân chủ, thực chất, hiệu quả, nhấtlà công tác thẩm định, đánh giá cán bộ theo đúng chủtrương “có vào, có ra”, “có lên, có xuống”. Xây dựng độingũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp của hệ thốngchính trị, nhất là cán bộ cấp chiến lược và cấp cơ sở thậtsự tiêu biểu, có tư duy, năng lực quản trị tiên tiến, phùhợp với mô hình tổ chức mới và yêu cầu phát triểnbứt phá của đất nước”[6]. Đây chính là điểm tựa vững chắc nhất để cán bộ tự tin gạt bỏ tư duy “chờ hướng dẫn”, dũng cảm bước ra khỏi con đường mòn đã quá chật hẹp đối với tầm vóc của dân tộc hôm nay.
Thấm nhuần tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác cán bộ, chúng ta cần những con người không chỉ có lý luận giỏi mà phải thực sự bắt rễ vào thực tiễn. Người từng dạy rằng cán bộ phải có: “óc nghĩ, mắt trông, tai nghe, chân đi, miệng nói, tay làm. Chứ không phải chỉ nói suông, chỉ ngồi viết mệnh lệnh. Họ phải thật thà nhúng tay vào việc”[7]. Trong kỷ nguyên vươn mình, tiêu chuẩn này càng trở nên khắt khe hơn. “Óc nghĩ” phải là tư duy độc lập, sáng tạo, không lệ thuộc vào lối mòn; “tay làm” phải là hành động quyết liệt, hiệu quả. Khi hệ thống pháp luật trở thành “lá chắn” tin cậy, bảo vệ được những giá trị trung thực và tinh thần dấn thân, chúng ta sẽ có một đội ngũ cán bộ đủ tầm vóc để dẫn dắt công cuộc đổi mới.
Giải quyết tư duy lối mòn từ gốc rễ chính là giải quyết bài toán niềm tin và sự an toàn cho cán bộ. Khi người tiên phong không còn phải đơn độc đối mặt với búa rìu dư luận hay các kẽ hở của cơ chế cũ, họ sẽ trở thành những hạt nhân hạt nhân bùng nổ sức sáng tạo. Đây chính là lời giải thực tiễn nhất để bảo vệ nền tảng tư tưởng Đảng, một Đảng mạnh là một Đảng biết bảo vệ và nhân lên những giá trị sáng tạo, đưa dân tộc vượt qua mọi rào cản để tiến tới phồn vinh.
2.5. Đổi mới phương thức lãnh đạo - Chìa khóa mở cửa kỷ nguyên mới
Trong mọi giai đoạn cách mạng, sự lãnh đạo của Đảng luôn là nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi. Tuy nhiên, sự lãnh đạo ấy không phải là một hằng số bất biến mà là một thực thể vận động, tự đổi mới để tương thích với yêu cầu của thời đại. Để phá tan tư duy “đường mòn lối cũ”, Đảng phải tiến hành một cuộc cách mạng tự thân về phương thức lãnh đạo. Chúng ta không thể điều hành một nền kinh tế số, quản trị một xã hội số bằng những phương thức quản lý thủ công, nặng tính giấy tờ của thế kỷ trước. Sự xuất hiện của các khái niệm “Chính phủ số”, “Kinh tế số”, “Xã hội số” trong các văn kiện gần đây của Đảng tuyệt nhiên không phải là sự “chạy theo trào lưu” hay sử dụng thuật ngữ thời thượng, mà là kết quả của quá trình tư duy khoa học nghiêm túc, là sự bắt kịp quy luật khách quan của nhân loại.Đổi mới phương thức lãnh đạo hiện nay chính là chuyển từ tư duy quản lý hành chính cứng nhắc sang tư duy quản trị kiến tạo và hiện đại. Nếu Đảng không đổi mới, chính Đảng sẽ bị lối mòn của sự trì trệ kéo lại. Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định rõ yêu cầu: “Tiếp tụcđổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hệthống chính trị; chú trọng thực hiện đồng bộ, quyếtliệt, hiệu quả công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, nhấtlà xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng, đạo đức,tổ chức và cán bộ; không ngừng nâng cao năng lựclãnh đạo, sức chiến đấu của các tổ chức đảng và chấtlượng đội ngũ cán bộ, đảng viên”[8]. Điều này đòi hỏi sự thay đổi từ cách ra nghị quyết đến khâu tổ chức thực hiện, phải dựa trên dữ liệu, trên bằng chứng khoa học và sức mạnh của công nghệ thông tin thay vì chỉ dựa vào kinh nghiệm chủ nghĩa hay cảm tính.
Trên các diễn đàn thù địch, các phần tử cơ hội thường tập trung công kích vào nguyên tắc tập trung dân chủ - nguyên tắc tổ chức cơ bản của Đảng. Chúng cho rằng đây là “nguồn gốc của sự độc đoán, kìm hãm tự do và là tác nhân gây ra sự trì trệ của bộ máy”. Đây là một luận điệu xuyên tạc cực kỳ nguy hiểm, cố tình đánh tráo bản chất giữa “tập trung quan liêu” với “tập trung dân chủ”. Chúng ta cần khẳng định rằng: Tập trung dân chủ khi được vận hành đúng đắn chính là sức mạnh của sự thống nhất và là cái nôi của sự sáng tạo.Thực tiễn lịch sử đã minh chứng, chính nhờ nguyên tắc này, Việt Nam đã tạo nên những “kỳ tích” mà các quốc gia đa đảng, đa nguyên thường rơi vào tình trạng chia rẽ, tê liệt chính sách không làm được. Điển hình là “Trong đại dịch Covid-19, nỗ lực chủ động, tích cực triển khai đường lối, chính sách đối ngoại, đặc biệt là ngoại giao vắcxin đã giúp Việt Nam tranh thủ được sự hỗ trợ quý báu và kịp thời của các đối tác quốc tế ứng phó, kiểm soát hiệu quả đại dịch Covid-19, được cộng đồng quốc tế đánh giá cao”[9]và “Kinh tế từng bước phục hồi và lấy lại đà tăng trưởng sau đại dịch Covid-19”[10]. Khả năng huy động tổng lực, sự thống nhất từ Trung ương đến cơ sở chính là nhờ “bàn tay sắt” của kỷ luật Đảng kết hợp với sự đồng thuận, dân chủ trong nhân dân. Đó là minh chứng sống động nhất đập tan luận điệu cho rằng tập trung dân chủ gây ra sự trì trệ.
Sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa tính kỷ luật nghiêm minh của Đảng và sự năng động, linh hoạt của kinh tế thị trường chính là “con đường riêng có”, là nét sáng tạo độc đáo của mô hình phát triển Việt Nam. Tổng Bí thư Tô Lâm đã nhấn mạnh rằng, trong kỷ nguyên mới, phương thức lãnh đạo của Đảng phải hướng tới việc tối ưu hóa các nguồn lực, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền và đặc biệt là “số hóa” các hoạt động của Đảng để bảo đảm sự lãnh đạo thông suốt, kịp thời.Như vậy, đổi mới phương thức lãnh đạo chính là chìa khóa để mở cửa kỷ nguyên vươn mình. Khi Đảng mạnh về tư duy, hiện đại về phương thức, minh bạch về hành động, mọi rào cản từ lối mòn cũ sẽ bị dẹp bỏ. Đây không chỉ là cuộc đấu tranh để phát triển kinh tế, mà còn là cuộc đấu tranh trực diện để bảo vệ nền tảng tư tưởng Đảng: Một Đảng luôn tự làm mới mình chính là một Đảng bất diệt.
3. Kết luận
Tư duy “đường mòn lối cũ” là một trở lực khách quan nhưng có thể khắc phục được nếu có sự quyết tâm chính trị đủ lớn. Để bước vào kỷ nguyên vươn mình, mỗi cán bộ, đảng viên phải là một chiến sĩ tiên phong trên mặt trận tư duy, dám từ bỏ những gì đã lỗi thời để hướng tới những giá trị tiến bộ. Việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong giai đoạn này gắn liền với việc chứng minh tính ưu việt của chế độ thông qua những đột phá về thể chế và sự phồn vinh của đất nước. Chúng ta kiên định nhưng không giáo điều, sáng tạo nhưng không xa rời nguyên tắc. Đó chính là bản lĩnh để dân tộc Việt Nam tự tin sánh vai với các cường quốc năm châu trong kỷ nguyên mới.
Tài liệu tham khảo:
1. Ban Chấp hành Trung ương (khóa XII) (2018), Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 19/5/2018 Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XII) về tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ.
2. Bộ Chính trị (2021), Kết luận số 14-KL/TW ngày 22/9/2021 về chủ trương khuyến khích và bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo vì lợi ích chung.
3. Bộ Chính trị (2024), Quy định số 144-QĐ/TW ngày 9/5/2024 về chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên trong giai đoạn mới.
4. Chính phủ (2023), Nghị định số 73/2023/NĐ-CP ngày 29/9/2023 quy định về khuyến khích, bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung.
5. Chính phủ (2024), Nghị định số 29/2024/NĐ-CP ngày 06/3/2024 quy định tiêu chuẩn chức danh công chức lãnh đạo, quản lý trong cơ quan hành chính nhà nước.
6. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, tập II, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.
7. Hồ Chí Minh (2011), toàn tập, tập 5, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội,
8. Hồ Chí Minh (2011), toàn tập, tập 6, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội,
--------------
[1]Hồ Chí Minh (2011), toàn tập, tập 5, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr. 274.
[2]Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, tập II, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr. 223-224.
[3] Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, tập II, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr. 382-383
[4] Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, tập II, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr. 215.
[5] Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, tập II, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr. 266.
[6] Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, tập II, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr. 388.
[7]Hồ Chí Minh (2011), toàn tập, tập 6, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr. 233-234.
[8] Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, tập II, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr. 299.
[9] Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, tập II, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr. 147.
[10] Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, tập II, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr. 19.
Đọc tiếp
- Ngày 13-4-2026, Thượng tướng Bế Xuân Trường - Phó chủ tịch Trung ương Hội Cựu chiến binh Việt Nam, Chủ tịch Hội Cựu...
- Những năm qua, với truyền thống đại đoàn kết toàn dân tộc, tinh thần “tương thân, tương ái” và trách nhiệm quốc...
- Phong trào “Kế hoạch nhỏ” từng là một biểu tượng giáo dục giàu tính nhân văn của thiếu nhi Việt Nam. Trải qua hơn 60...
- Nhằm tăng cường mối quan hệ đoàn kết, phối hợp hoạt động giữa 2 đơn vị Lữ đoàn 171 và Trung tâm Nghệ thuật Thành...
Mới nhất
- Di sản thiên nhiên thế giới Vườn quốc gia Phong Nha-Kẻ Bàng tiếp tục ghi dấu ấn khi chính thức được đề cử ở hai...
- Thực hiện Công văn số 435/MTTQ- BTT, ngày 27/3/2026 của UBMTTQ tỉnh và Thông báo kết luận số 10/TB-CCB ngày 30/3/2026 của...
- Trong 2 ngày 11 và 12/4, các đơn vị huấn luyện chiến sĩ mới của Vùng 4 Hải quân tổ chức đón thân nhân chiến sĩ mới nhập...
- Trong cùng một ngày, lực lượng chức năng tỉnh Quảng Trị đã liên tiếp phát hiện, bắt giữ 2 vụ vận chuyển xăng, dầu...
- Ngày 11 và 12/4, tại đặc khu Phú Quốc, tỉnh An Giang, Tiểu đoàn 563 và Tiểu đoàn 563b (Vùng 5 Hải quân) tổ chức cho hàng trăm...
- Trong bối cảnh chuyển đổi số, không gian mạng đã trở thành “mặt trận tư tưởng mới” - nơi tin giả, thông tin sai...
- Công ty Điện lực Huế quyết tâm bảo đảm cấp điện an toàn, liên tục, ổn định trong mùa khô năm 2026, đáp ứng nhu cầu...
- Sáng ngày 13/4 tại Phường Hòa Bình, TP Hải Phòng, Lữ đoàn Đặc công 126 long trọng tổ chức Lễ kỷ niệm 60 năm Ngày truyền...
- Sáng 13-4, Ban Bí thư Trung ương Đảng chủ trì tổ chức Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai...
- Cỡ chữ Mặc định













