Logo-print CƠ QUAN CỦA TRUNG ƯƠNG HỘI - TIẾNG NÓI CỦA CỰU CHIẾN BINH VIỆT NAM

“GIỮ VỮNG HÒA BÌNH ĐỂ PHÁT TRIỂN, PHÁT TRIỂN ĐỂ TĂNG CƯỜNG SỨC MẠNH TỔNG HỢP QUỐC GIA” - TƯ DUY CHIẾN LƯỢC CỦA ĐẢNG TRONG KỶ NGUYÊN MỚI

Trung tá Trần Thị Thu Hiền (Học viện Quốc phòng) 01/05/2026 - 15:34

 Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng xác định “giữ vững hòa bình để phát triển, phát triển để tăng cường sức mạnh tổng hợp quốc gia”.  Đây là “sợi chỉ đỏ” xuyên suốt trong đường lối lãnh đạo cách mạng của Đảng  ta đối với lĩnh vực quốc phòng, an ninh và đối ngoại. Trong đó, giữ vững hòa bình được xác định là điều kiện tiên quyết để phát triển bền vững, còn phát triển lại là nền tảng quan trọng để củng cố quốc phòng, an ninh và đối ngoại, củng cố sức mạnh tổng hợp quốc gia trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng.

 

Bước phát triển mới trong tư duy lãnh đạo của Đảng

Tư duy lãnh đạo của Đảng về quốc phòng, an ninh và đối ngoại được hình thành, phát triển qua các kỳ Đại hội, từ khi thành lập Đảng cho đến nay. Đây là một quá trình vận động liên tục, từ tư duy đấu tranh giành độc lập dân tộc đến tư duy phát triển trong hòa bình và chủ động hội nhập quốc tế.

Ngay từ khi ra đời năm 1930, trong Cương lĩnh chính trị đầu tiên, Đảng đã xác định nhiệm vụ trung tâm là giải phóng dân tộc, giành độc lập cho đất nước. Ở giai đoạn này, tư duy về quốc phòng, an ninh và đối ngoại tập trung vào đấu tranh cách mạng, trong đó hòa bình chưa phải là trạng thái hiện thực mà là mục tiêu lâu dài sau khi giành được độc lập. Các kỳ Đại hội I (1935) và Đại hội II (1951) tiếp tục khẳng định đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện, vừa kháng chiến vừa kiến quốc. Tư duy chiến lược lúc này đặt trọng tâm vào bảo vệ thành quả cách mạng, song cũng bước đầu hình thành nhận thức về mối quan hệ giữa độc lập dân tộc và điều kiện phát triển đất nước. Đến Đại hội IV (1976) và Đại hội V (1982) đánh dấu bước chuyển từ thời chiến sang thời bình. Tuy nhiên, do bối cảnh quốc tế và khu vực còn nhiều bất ổn, tư duy quốc phòng, an ninh vẫn thiên về bảo vệ Tổ quốc trong điều kiện có nguy cơ xung đột. Dù vậy, Đảng đã bắt đầu nhấn mạnh nhiệm vụ xây dựng đất nước trong hòa bình, coi ổn định là điều kiện quan trọng để khôi phục và phát triển kinh tế.

Bước ngoặt quan trọng xuất hiện từ Đại hội VI (1986) - Đại hội khởi xướng công cuộc đổi mới, tư duy của Đảng có sự chuyển biến căn bản: Từ ưu tiên đối đầu sang ưu tiên phát triển, từ đóng cửa sang mở cửa, hội nhập. Đây chính là nền tảng ban đầu của tư duy “giữ vững hòa bình để phát triển”.Đến Đại hội XII (2016) và Đại hội XIII (2021) tiếp tục hoàn thiện tư duy này khi xác định rõ mối quan hệ biện chứng giữa hòa bình và phát triển. Văn kiện Đại hội XIII nhấn mạnh: “Giữ vững môi trường hòa bình, ổn định chính trị, an ninh quốc gia, an ninh con người… để phát triển đất nước”[1] và “nỗ lực phấn đấu để ngăn ngừa xung đột, chiến tranh và giải quyết các tranh chấp bằng các biện pháp hòa bình phù hợp với luật pháp quốc tế”[2]. Đây là bước phát triển quan trọng, thể hiện sự chủ động, linh hoạt trong giữ vững môi trường hòa bình cũng như xử lý các vấn đề quốc tế để đất nước ổn định và phát triển.

Đến Đại hội XIV (2026), tư duy chiến lược của Đảng tiếp tục được hoàn thiện theo hướng toàn diện, hiện đại hơn. Đại hội khẳng định: “Giữ vững hòa bình để phát triển, phát triển để tăng cường sức mạnh tổng hợp quốc gia”[3]; “giữ vững môi trường hòa bình, ổn định; phát triển nhanh, bền vững đất nước và bảo vệ Tổ quốc”[4]; phát triển nhanh và bền vững được xác định là trung tâm, tăng cường sức mạnh tổng hợp quốc gia là mục tiêu lâu dài. Đồng thời, phạm vi an ninh được mở rộng sang các lĩnh vực phi truyền thống như an ninh mạng, an ninh năng lượng, an ninh dữ liệu, an ninh nguồn nước… Điều này cho thấy tư duy của Đảng đã chuyển từ bảo vệ bị động sang chủ động kiến tạo môi trường phát triển và nâng cao năng lực tự chủ chiến lược. Tư duy “giữ vững hòa bình để phát triển, phát triển để tăng cường sức mạnh tổng hợp quốc gia” được khái quát một cách rõ nét và toàn diện hơn. Đây là sự kết tinh của cả quá trình phát triển lý luận, phản ánh sự chuyển biến từ tư duy ứng phó sang tư duy chủ động, từ phát triển đơn thuần sang phát triển gắn với nâng cao sức mạnh tổng hợp quốc gia. Đối ngoại được xác định là “tiên phong”, quốc phòng, an ninh là “trọng yếu, thường xuyên”, còn phát triển kinh tế là “trung tâm”.Bên cạnh đó, so với các kỳ Đại hội trước đây, Đại hội XIV của Đảng cũng có bước phát triển mới, đột phá về tư duy khi lần đầu tiên đưa “phát triển” lên trước “ổn định”.

Trong tiến trình đổi mới và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, yêu cầu đặt ra đối với Việt Nam không chỉ là phát triển nhanh mà còn phải phát triển bền vững, đi đôi với bảo đảm vững chắc quốc phòng, an ninh và nâng cao vị thế quốc gia. Tư duy “giữ vững hòa bình để phát triển, phát triển để tăng cường sức mạnh tổng hợp quốc gia” được xác định trong Nghị quyết Đại hội XIV của Đảngcũng chính là sự khái quát sâu sắc mối quan hệ biện chứng giữa ổn định và phát triển, giữa xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong kỷ nguyên mới.Môi trường hòa bình, ổn định là điều kiện tiên quyết, mang tính nền tảng cho mọi hoạt động phát triển. Không có hòa bình thì không thể có tăng trưởng kinh tế bền vững, không thể nâng cao đời sống nhân dân hay triển khai hiệu quả các chiến lược dài hạn. Do đó, nhiệm vụ giữ vững ổn định chính trị - xã hội, bảo vệ độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ luôn được đặt lên hàng đầu. Để thực hiện mục tiêu này, cần tiếp tục củng cố tiềm lực quốc phòng, an ninh một cách toàn diện.Việc xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân theo hướng cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại là yêu cầu tất yếu trong điều kiện mới. Không chỉ nâng cao năng lực chiến đấu, mà còn phải đủ khả năng ứng phó linh hoạt với các thách thức an ninh truyền thống và phi truyền thống. Đồng thời, công tác nắm tình hình cần được triển khai chủ động, liên tục, gắn với việc nâng cao chất lượng phân tích, dự báo chiến lược. Trong một thế giới đầy biến động, nếu thiếu năng lực dự báo và phản ứng nhanh, quốc gia có thể rơi vào thế bị động, đối mặt với những rủi ro khó kiểm soát. Vì vậy, tinh thần xuyên suốt là chủ động phòng ngừa, phát hiện sớm và xử lý kịp thời, không để bị động, bất ngờ.

Bên cạnh đó, đối ngoại được xác định là một trong những trụ cột quan trọng, giữ vai trò tiên phong trong việc bảo đảm lợi ích quốc gia - dân tộc. Trong kỷ nguyên phát triển mới, đối ngoại không chỉ là cầu nối giữa Việt Nam với thế giới, mà còn là công cụ chiến lược để tạo lập và duy trì môi trường hòa bình, tranh thủ nguồn lực bên ngoài phục vụ phát triển đất nước. Đường lối đối ngoại của Đảng nhấn mạnh sự kiên định về nguyên tắc độc lập, tự chủ, đồng thời đề cao tinh thần chủ động, tích cực hội nhập quốc tế một cách toàn diện, sâu rộng và có trách nhiệm. Một điểm nổi bật trong tư duy đối ngoại hiện nay là việc chú trọng nâng cao chất lượng và hiệu quả các mối quan hệ hợp tác. Không chỉ dừng lại ở việc mở rộng quan hệ, Việt Nam hướng tới việc đưa các quan hệ đối tác đi vào chiều sâu, thực chất, mang lại lợi ích cụ thể và lâu dài. Sự kết hợp chặt chẽ giữa đối ngoại với quốc phòng, an ninh và phát triển kinh tế tạo nên sức mạnh tổng hợp, giúp đất nước vừa giữ vững ổn định, vừa tận dụng hiệu quả các cơ hội từ bên ngoài. Trong quá trình đó, nguyên tắc chiến lược luôn được giữ vững, nhưng phương thức triển khai cần linh hoạt, mềm dẻo, phù hợp với từng đối tác và bối cảnh cụ thể.

si-quan-gin-giu-hoa-binh-vn-cung-cac-em-nho-o-cong-hoa-trung-phi-1533
Sĩ quan gìn giữ hòa bình Việt Nam cùng các em nhỏ ở Cộng hòa Trung Phi. Ảnh: Thu Hà  

Nếu trước đây, quốc phòng, an ninh chủ yếu gắn với bảo vệ biên giới, lãnh thổ, thì nay đã bao gồm nhiều lĩnh vực thiết yếu khác như an ninh chính trị, an ninh văn hóa - tư tưởng, an ninh kinh tế, tài chính, an ninh mạng và dữ liệu, an ninh năng lượng, nguồn nước và lương thực... Đây là những yếu tố có tác động trực tiếp đến sự ổn định và phát triển của quốc gia, đồng thời có mối quan hệ chặt chẽ với nhau.Trong bối cảnh đó, các thách thức an ninh phi truyền thống ngày càng trở nên rõ nét và phức tạp. Những vấn đề như biến đổi khí hậu, dịch bệnh, khủng hoảng năng lượng hay các nguy cơ từ không gian mạng không chỉ ảnh hưởng đến một lĩnh vực riêng lẻ mà có thể lan rộng, gây tác động dây chuyền đến toàn bộ hệ thống kinh tế - xã hội. Điều này đòi hỏi phải có cách tiếp cận toàn diện, liên ngành trong việc bảo đảm an ninh quốc gia, đồng thời gắn chặt nhiệm vụ này với mục tiêu phát triển bền vững.

Từ góc độ chiến lược, phát triển bền vững và nâng cao tính tự chủ của nền kinh tế cần được đặt trong tổng thể nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa. Đây là tư duy mang tính phòng ngừa, chủ động, không chỉ tập trung vào việc xử lý các nguy cơ khi đã xảy ra mà còn hướng tới việc loại trừ, hạn chế rủi ro ngay từ giai đoạn đầu. Việc xây dựng nền tảng vững chắc từ cơ sở, nâng cao năng lực nội tại của nền kinh tế, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc chính là những yếu tố then chốt giúp đất nước đứng vững trước mọi biến động.Hơn nữa, việc kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế với bảo đảm quốc phòng, an ninh không chỉ giúp tối ưu hóa nguồn lực mà còn tạo ra thế trận tổng hợp vững chắc. Một nền kinh tế mạnh sẽ là cơ sở để tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh; trong khi môi trường quốc phòng, an ninh ổn định lại tạo điều kiện thuận lợi cho đầu tư, sản xuất và đổi mới sáng tạo. Đây chính là mối quan hệ tương hỗ, thúc đẩy lẫn nhau, tạo nên sức mạnh tổng hợp quốc gia trong thời đại mới.

Tư duy “giữ vững hòa bình để phát triển, phát triển để tăng cường sức mạnh tổng hợp quốc gia” vì thế không chỉ là khẩu hiệu mang tính định hướng, mà còn là kim chỉ nam cho hành động trong toàn bộ hệ thống chính trị. Nó phản ánh nhận thức sâu sắc về yêu cầu kết hợp hài hòa giữa xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, giữa nội lực và ngoại lực, giữa ổn định và đổi mới. Trong kỷ nguyên mới, việc quán triệt và vận dụng hiệu quả tư duy này sẽ góp phần quan trọng vào việc hiện thực hóa mục tiêu đưa Việt Nam trở thành quốc gia phát triển, thịnh vượng, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, có vị thế ngày càng cao trên trường quốc tế.

 Giữ vững hòa bình - tạo nền tảng vững chắc để phát triển

Hòa bình và ổn định luôn được coi là điều kiện tiên quyết, mang tính nền tảng đối với quá trình phát triển của mỗi quốc gia. Trong bối cảnh thế giới hiện đại, khi các quốc gia ngày càng phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế, chính trị và an ninh, vai trò của hòa bình càng trở nên nổi bật. Thực tiễn phát triển toàn cầu cho thấy, những quốc gia duy trì được môi trường hòa bình, ổn định chính trị thường có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao hơn, khả năng thu hút đầu tư tốt hơn và mức sống của người dân được cải thiện rõ rệt. Ngược lại, xung đột và bất ổn không chỉ làm gián đoạn quá trình phát triển mà còn gây ra những hậu quả lâu dài, ảnh hưởng đến nhiều thế hệ.

Hòa bình tạo ra môi trường ổn định - yếu tố cốt lõi để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Khi một quốc gia không phải đối mặt với chiến tranh hay xung đột, các nguồn lực có thể được tập trung cho đầu tư phát triển thay vì dành cho các hoạt động quân sự hoặc khắc phục hậu quả khủng hoảng. Theo báo cáo của Ngân hàng Thế giới (WB), các quốc gia bị ảnh hưởng bởi xung đột và bạo lực thường có tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội  (GDP) thấp hơn, trung bình từ 2 - 3% mỗi năm so với các quốc gia ổn định[5]. Điều này cho thấy hòa bình không chỉ là trạng thái mong muốn mà còn là điều kiện thiết yếu để duy trì động lực tăng trưởng kinh tế.

Đối với Việt Nam, thực tiễn trong 40 năm đổi mới là minh chứng sinh động cho vai trò của hòa bình. Sau khi tiến hành công cuộc đổi mới từ năm 1986, trong bối cảnh môi trường quốc tế thuận lợi và quan hệ đối ngoại được mở rộng, nền kinh tế Việt Nam đã đạt được những thành tựu quan trọng. Trong giai đoạn 1991 - 2000, tốc độ tăng trưởng GDP bình quân của Việt Nam đạt khoảng 7,6%/năm[6]; giai đoạn 2001 - 2010 đạt khoảng 7,2%/năm[7], thuộc nhóm các nền kinh tế tăng trưởng nhanh trên thế giới. Đặc biệt, sau đại dịch COVID-19, nền kinh tế Việt Nam đã phục hồi mạnh mẽ với mức tăng trưởng 8,02% vào năm 2025[8]. Những con số này khẳng định rằng môi trường hòa bình, ổn định chính là tiền đề quan trọng giúp Việt Nam duy trì đà phát triển liên tục và bền vững.

Không chỉ thúc đẩy tăng trưởng nội tại, hòa bình còn tạo điều kiện thuận lợi để mở rộng quan hệ đối ngoại và thu hút nguồn lực bên ngoài. Trong bối cảnh toàn cầu hóa, đầu tư quốc tế đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển của nhiều quốc gia. Dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) có xu hướng tập trung vào các quốc gia có môi trường chính trị ổn định và mức độ rủi ro thấp; trong khi đó, các khu vực xảy ra xung đột thường chứng kiến sự sụt giảm đáng kể dòng vốn này. Ví dụ như tại Việt Nam, tổng vốn FDI đăng ký lũy kế đến ngày 31/12/2025 đã vượt 529,6 tỷ USD[9], đã phản ánh niềm tin của cộng đồng quốc tế vào một môi trường hòa bình, ổn định và tiềm năng phát triển lâu dài.

Bên cạnh kinh tế, hòa bình còn là nền tảng để phát triển các lĩnh vực xã hội, đặc biệt là giáo dục, y tế, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Trong điều kiện không bị gián đoạn bởi chiến tranh, các quốc gia có thể đầu tư dài hạn vào nguồn nhân lực - yếu tố then chốt quyết định năng lực cạnh tranh quốc gia. Các quốc gia có môi trường ổn định thường đạt chỉ số phát triển con người (HDI) cao hơn đáng kể so với các quốc gia chịu ảnh hưởng của xung đột. Ví dụ: Việt Nam có chỉ số phát triển con người tăng 14 bậc, đạt 0,766 điểm, thuộc nhóm nước phát triển con người cao; chỉ số hạnh phúc năm 2025 xếp thứ 46/143 quốc gia, tăng 33 bậc so với năm 2021[10]. Điều này cho thấy hòa bình không chỉ tạo điều kiện cho tăng trưởng kinh tế mà còn góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống và phát triển con người một cách toàn diện.

Ngược lại, những hệ lụy của chiến tranh và bất ổn là vô cùng nặng nề. Không chỉ gây thiệt hại về người và của, xung đột còn phá hủy cơ sở hạ tầng, làm gián đoạn chuỗi cung ứng, suy giảm niềm tin của nhà đầu tư và kìm hãm sự phát triển trong thời gian dài. Nhiều quốc gia phải mất hàng chục năm, thậm chí hàng trăm năm để khôi phục lại nền kinh tế và xã hội sau chiến tranh. Điều này càng khẳng định giá trị to lớn của hòa bình như một tài sản chiến lược, cần được bảo vệ và gìn giữ.Tuy nhiên, cũng cần nhận thức rằng hòa bình không tự động dẫn đến phát triển nếu thiếu đi đường lối đúng đắn và năng lực quản trị hiệu quả. Hòa bình chỉ tạo ra điều kiện thuận lợi, còn việc tận dụng điều kiện đó như thế nào phụ thuộc vào chiến lược phát triển của mỗi quốc gia. Vì vậy, để biến hòa bình thành động lực phát triển, cần kết hợp chặt chẽ giữa việc duy trì ổn định với cải cách thể chế, nâng cao năng lực cạnh tranh và chủ động hội nhập quốc tế.

Hòa bình giữ vai trò nền tảng, mở ra không gian và tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội. Những số liệu thực tiễn từ thế giới và Việt Nam đã chứng minh rằng, ở đâu có hòa bình và ổn định, ở đó có cơ hội tăng trưởng nhanh và bền vững. Trong bối cảnh hiện nay, việc giữ vững môi trường hòa bình không chỉ là yêu cầu cấp thiết mà còn là chiến lược lâu dài để bảo đảm cho sự phát triển thịnh vượng và bền vững của mỗi quốc gia.

Phát triển - tăng cường sức mạnh tổng hợp quốc gia

Trong tư duy lý luận và thực tiễn lãnh đạo của Đảng trong giai đoạn mới, “phát triển” không chỉ được hiểu là tăng trưởng kinh tế đơn thuần, mà còn mang nội hàm rộng lớn hơn: Phát triển là quá trình kiến tạo nền tảng vật chất, tinh thần, mở đường cho tiến bộ xã hội và trực tiếp tạo dựng sức mạnh tổng hợp quốc gia. Đây là bước phát triển quan trọng trong nhận thức, thể hiện sự chuyển biến từ tư duy “phát triển để tồn tại” sang “phát triển để dẫn dắt và kiến tạo tương lai”.

Phát triển giữ vai trò kiến tạo nền tảng vật chất cho quốc gia. Một nền kinh tế mạnh là cơ sở để bảo đảm các nguồn lực cho quốc phòng, an ninh, đối ngoại và an sinh xã hội. Ví dụ như Việt Nam: Quy mô GDP năm 2025 đạt trên 514 tỉ USD, gấp 1,48 lần so với năm 2020, xếp thứ 32 trên thế giới, GDP bình quân đầu người đạt 5.026 USD, gia nhập nhóm nước có thu nhập trung bình cao[11]. Sự gia tăng quy mô nền kinh tế không chỉ phản ánh năng lực sản xuất, mà còn cho thấy khả năng tích lũy nguồn lực để đầu tư cho giáo dục, y tế, văn hóa, xã hội, khoa học, công nghệ, quốc phòng và an ninh. Như vậy, phát triển kinh tế chính là nền tảng vật chất trực tiếp để tăng cường sức mạnh tổng hợp quốc gia.

Không chỉ dừng ở phương diện kinh tế, phát triển còn mang ý nghĩa mở đường cho đổi mới thể chế, nâng cao năng lực quản trị quốc gia. Trong thực tiễn đổi mới, Việt Nam đã từng bước chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, qua đó tạo ra không gian phát triển rộng lớn hơn. Vì vậy, tăng trưởng kinh tế của Việt Nam giai đoạn 2021-2025 đạt bình quân khoảng 6,2%/năm, thuộc nhóm nước tăng trưởng cao của khu vực và thế giới[12]. Điều này cho thấy phát triển không chỉ là kết quả mà còn là động lực thúc đẩy cải cách thể chế, nâng cao hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và năng lực cạnh tranh quốc gia.

Ở tầm chiến lược, phát triển còn là quá trình kiến tạo sức mạnh tổng hợp quốc gia. Sức mạnh này không chỉ bao gồm tiềm lực kinh tế mà còn là sự tổng hòa của nhiều yếu tố: Kinh tế, chính trị, quốc phòng, an ninh, văn hóa, xã hội, khoa học, công nghệ và vị thế quốc tế. Theo Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, phát triển nhanh và bền vững phải gắn với nâng cao tự chủ chiến lược, củng cố quốc phòng, an ninh, đẩy mạnh đối ngoại và phát huy sức mạnh văn hóa, con người Việt Nam. Đây là cách tiếp cận toàn diện, coi phát triển là quá trình tạo lập sức mạnh tổng hợp, chứ không chỉ là tăng trưởng kinh tế đơn thuần.Bên cạnh đó, phát triển còn đóng vai trò mở đường cho hội nhập quốc tế sâu rộng. Do đó, quốc gia nào có năng lực phát triển cao sẽ có vị thế tốt hơn trong hợp tác và cạnh tranh quốc tế.

Tuy nhiên, phát triển không thể chỉ chạy theo tốc độ mà cần bảo đảm chất lượng và tính bền vững. Phát triển thiếu định hướng có thể dẫn đến bất bình đẳng xã hội, ô nhiễm môi trường hoặc suy giảm nguồn lực dài hạn. Vì vậy, theo tinh thần của Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, phát triển phải đặt trong tổng thể chiến lược bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, gắn với ổn định chính trị và bảo đảm an ninh con người, an ninh kinh tế, an ninh môi trường và an ninh xã hội.Phát triển trong tư duy mới không chỉ là mục tiêu kinh tế mà là quá trình kiến tạo toàn diện, mở đường cho tiến bộ xã hội và nâng cao sức mạnh tổng hợp quốc gia. Khi phát triển được đặt đúng vị trí chiến lược, nó sẽ trở thành động lực then chốt giúp đất nước nâng cao năng lực tự chủ, tự cường, tăng cường vị thế quốc tế và bảo đảm vững chắc cho hòa bình, ổn định lâu dài trong kỷ nguyên mới.

Giải pháp hiện thực hóa tư duy chiến lược của Đảng

trong kỷ nguyên phát triển mới

Để hiện thực hóa tư duy chiến lược “giữ vững hòa bình để phát triển, phát triển để tăng cường sức mạnh tổng hợp quốc gia” trong kỷ nguyên phát triển mới, yêu cầu đặt ra là phải triển khai đồng bộ hệ thống giải pháp trên cả ba trụ cột là: Quốc phòng, an ninh và đối ngoại đối với phát triển kinh tế - xã hội. Trong đó, cần tập trung vào một số nội dung cụ thể như sau:

Một là, kiên định mục tiêu giữ vững môi trường hòa bình, ổn định chính trị - xã hội như nền tảng phát triển bền vững.

Trong tư duy chiến lược phát triển đất nước giai đoạn mới, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định chính trị - xã hội được xác định là điều kiện tiên quyết, có ý nghĩa sống còn đối với sự phát triển nhanh và bền vững. Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng tiếp tục khẳng định: “Bảo đảm và bảo vệ cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc, kiên quyết, kiên trì bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc”[13].Trước bối cảnh thế giới biến động nhanh, phức tạp, khó dự báo, cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn gia tăng, các thách thức an ninh truyền thống và phi truyền thống đan xen, nhiệm vụ giữ vững ổn định đặt ra yêu cầu mới cao hơn. Không chỉ là bảo đảm an ninh biên giới, lãnh thổ, mà còn là giữ vững ổn định nội bộ, an ninh chính trị, an ninh xã hội và an ninh con người. Điều đó đòi hỏi phải chủ động phát hiện sớm nguy cơ từ bên trong và bên ngoài, không để xảy ra bị động, bất ngờ. Để thực hiện hiệu quả nhiệm vụ này, cần tập trung nâng cao năng lực lãnh đạo, chỉ đạo của hệ thống chính trị; củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc; tăng cường niềm tin xã hội; xử lý tốt các vấn đề xã hội phát sinh từ quá trình phát triển. Đồng thời, phải kết hợp chặt chẽ giữa ổn định chính trị với phát triển kinh tế, coi phát triển là phương thức quan trọng nhất để ổn định lâu dài.

Hai là, xây dựng nền quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân hiện đại, vững chắc, gắn chặt với phát triển kinh tế - xã hội.

Quốc phòng và an ninh là hai trụ cột trọng yếu bảo vệ Tổ quốc, đồng thời, là nền tảng bảo đảm môi trường hòa bình để phát triển đất nước. Nghị quyết Đại hội XIV tiếp tục nhấn mạnh yêu cầu xây dựng nền quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân vững chắc, theo hướng hiện đại, chủ động, từ sớm, từ xa: “Xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại”[14]. Đây là bước phát triển mới trong tư duy về quốc phòng, an ninh, chuyển từ bị động sang chủ động phòng ngừa, từ phản ứng sang dự báo chiến lược.Trong giai đoạn hiện nay, yêu cầu đặt ra không chỉ là bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, mà còn bảo vệ chủ quyền trên không gian mạng, không gian số, không gian kinh tế và không gian tư tưởng. Điều này đòi hỏi hiện đại hóa toàn diện lực lượng vũ trang, đặc biệt là nâng cao năng lực tác chiến công nghệ cao, an ninh mạng và tác chiến đa miền.Bên cạnh đó, cần tiếp tục phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân trong nhiệm vụ quốc phòng, an ninh. Thế trận quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân phải được xây dựng vững chắc ngay từ cơ sở, gắn với quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội, nhất là tại các địa bàn chiến lược như biên giới, biển, đảo, vùng sâu, vùng xa.

Ba là, nâng cao hiệu quả đối ngoại, giữ vai trò tiên phong trong kiến tạo môi trường hòa bình và hợp tác quốc tế.

Đối ngoại được xác định trong Nghị quyết Đại hội XIV là một trong ba trụ cột chiến lược cùng với quốc phòng và an ninh. Vai trò của đối ngoại không chỉ là mở rộng quan hệ quốc tế mà còn trực tiếp góp phần bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc và tạo lập môi trường hòa bình, ổn định cho phát triển. Điều này cho thấy đối ngoại đã chuyển mạnh từ “mở rộng quan hệ” sang “nâng cao chất lượng quan hệ”, từ hội nhập đơn thuần sang hội nhập chiến lược.Trong bối cảnh toàn cầu hóa và cạnh tranh địa chính trị gia tăng, Việt Nam cần tiếp tục kiên định đường lối độc lập, tự chủ; đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ; là bạn, là đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế. Đồng thời, cần phát huy vai trò của đối ngoại kinh tế, ngoại giao khoa học - công nghệ và ngoại giao văn hóa như những trụ cột mới của sức mạnh quốc gia.Quan trọng hơn, đối ngoại phải gắn chặt với quốc phòng, an ninh, tạo thế liên hoàn trong bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa. Đây chính là sự kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại trong điều kiện mới.

Bốn là, bảo đảm an ninh quốc gia toàn diện, thích ứng với các thách thức mới của thời đại.

Tư duy an ninh trong Nghị quyết Đại hội XIV có bước phát triển quan trọng khi mở rộng phạm vi từ an ninh truyền thống sang an ninh phi truyền thống và an ninh tổng hợp. Theo đó, an ninh quốc gia bao gồm: An ninh chính trị, an ninh kinh tế, an ninh tài chính, an ninh năng lượng, an ninh nguồn nước, an ninh lương thực, an ninh con người và an ninh mạng...Điều này phản ánh rõ sự thay đổi về tư duy từ bảo vệ bị động sang bảo vệ chủ động, từ an ninh truyền thống sang an ninh đa chiều.Trong bối cảnh chuyển đổi số và cách mạng công nghiệp lần thứ tư, an ninh mạng và an ninh dữ liệu trở thành vấn đề chiến lược. Việc bảo vệ chủ quyền số quốc gia, an toàn hệ thống dữ liệu quốc gia và không gian mạng trở thành nhiệm vụ cấp thiết.Do đó, cần xây dựng hệ thống an ninh đa tầng, hiện đại, có khả năng cảnh báo sớm và phản ứng nhanh; đồng thời nâng cao nhận thức xã hội về an ninh phi truyền thống, coi đây là trách nhiệm của toàn dân chứ không chỉ của lực lượng chuyên trách.

Năm là, phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững để tạo nền tảng cho sức mạnh tổng hợp quốc gia.

Phát triển kinh tế - xã hội là trung tâm của chiến lược phát triển đất nước, đồng thời là nền tảng trực tiếp tạo nên sức mạnh tổng hợp quốc gia. Nghị quyết Đại hội XIV xác định rõ: Phát triển nhanh nhưng phải bền vững, dựa trên khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Đây là định hướng mang tính đột phá nhằm đưa Việt Nam bứt phá trong giai đoạn mới.Phát triển không chỉ là tăng trưởng GDP mà còn là nâng cao chất lượng đời sống nhân dân, phát triển con người toàn diện và bảo đảm công bằng xã hội. Khi kinh tế phát triển mạnh, nguồn lực quốc gia được củng cố, từ đó tạo điều kiện hiện đại hóa quốc phòng, an ninh và nâng cao vị thế quốc tế.Mối quan hệ giữa phát triển và bảo vệ Tổ quốc là quan hệ biện chứng: Phát triển tạo nguồn lực cho quốc phòng, an ninh, còn quốc phòng, an ninh bảo đảm môi trường ổn định cho phát triển. Sự kết hợp hài hòa hai yếu tố này chính là nền tảng hình thành sức mạnh tổng hợp quốc gia trong kỷ nguyên mới.

Như vậy, tư duy chiến lược “giữ vững hòa bình để phát triển, phát triển để tăng cường sức mạnh tổng hợp quốc gia” trong quốc phòng, an ninh và đối ngoại là sự kết tinh của quá trình phát triển liên tục trong tư duy lý luận và thực tiễn lãnh đạo của Đảng. Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng đã tiếp nối phát triển và làm sâu sắc hơn quan điểm này khi xác định rõ: Giữ vững môi trường hòa bình, ổn định là điều kiện tiên quyết; phát triển nhanh và bền vững là trung tâm; và tăng cường sức mạnh tổng hợp quốc gia là mục tiêu xuyên suốt.Vì vậy, việc quán triệt và tổ chức thực hiện hiệu quả tư duy này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, bền vững, tiến mạnh, tiến vững chắc vào kỷ nguyên phát triển mới./.

 ---------------

[1]Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tập I, tr. 156.

[2]Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tập I, tr. 156-157.

[3]Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tập I, tr. 33.

[4]Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tập I, tr. 33.

[5]Trích trong bài: “WB: Xung đột kéo lùi các quốc gia “tuyệt vọng nhất thế giới”, đăng trên trang Tin tức của Thông tấn xã Việt Nam, ngày 27/6/2025.

[6]https://topi.vn/gdp-binh-quan-dau-nguoi-cua-viet-nam-qua-cac-nam.html

[7]https://topi.vn/gdp-binh-quan-dau-nguoi-cua-viet-nam-qua-cac-nam.html

[8]Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tập I, tr. 47.

[9]Số liệu trong Báo cáo nhanh tình hình thu hút đầu tư nước ngoài tại Việt Nam và đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài tháng 12/2025 của Cục Đầu tư nước ngoài, Bộ Tài chính, ngày 31/12/2025.

[10]Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tập I, tr. 51.

[11]Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tập I, tr. 47.

[12]Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tập I, tr. 47.

[13]Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tập I, tr. 113.

[14]Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tập I, tr. 113.

Đọc tiếp

Mới nhất

“GIỮ VỮNG HÒA BÌNH ĐỂ PHÁT TRIỂN, PHÁT TRIỂN ĐỂ TĂNG CƯỜNG SỨC MẠNH TỔNG HỢP QUỐC GIA” - TƯ DUY CHIẾN LƯỢC CỦA ĐẢNG TRONG KỶ NGUYÊN MỚI