CƠ QUAN CỦA TRUNG ƯƠNG HỘI - TIẾNG NÓI CỦA CỰU CHIẾN BINH VIỆT NAM QUỐC PHÒNG TOÀN DÂN MỘT CHỈNH THỂ CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ YÊU CẦU PHÁT TRIỂN TRONG BỐI CẢNH MỚI
Quốc phòng toàn dân không chỉ là lĩnh vực quân sự mà là sự huy động tổng hợp sức mạnh chính trị, kinh tế, văn hóa và tinh thần của toàn dân dưới sự lãnh đạo của Đảng. Trong bối cảnh mới với các thách thức an ninh truyền thống và phi truyền thống, yêu cầu đặt ra là đổi mới tư duy, hoàn thiện cơ chế, chính sách và củng cố “thế trận lòng dân”. Đây là hướng phát triển bền vững, bảo đảm quốc phòng gắn liền với phát triển kinh tế - xã hội và an ninh con người.
1. Đặt vấn đề
Trong bối cảnh an ninh quốc tế và trong nước có xu hướng phức tạp ngày càng sâu sắc, Việt Nam chủ trương xây dựng quốc phòng toàn dân như một chỉnh thể chính trị - xã hội tổng hợp, không chỉ là nhiệm vụ quân sự kỹ thuật thuần túy mà là sự tổ chức và vận dụng sức mạnh toàn xã hội dưới sự lãnh đạo của Đảng. Sự kiện này phản ánh một yêu cầu lý luận và thực tiễn cấp bách, khi cạnh tranh chiến lược giữa các quốc gia, thách thức an ninh phi truyền thống như an ninh mạng, an ninh kinh tế và biến đổi khí hậu đòi hỏi năng lực ứng phó linh hoạt. Trong nhận thức đó, quốc phòng toàn dân phải được gắn chặt với ổn định chính trị, phát triển kinh tế - xã hội và sự tham gia tích cực của nhân dân, tạo nên “thế trận lòng dân”, đây là nhân tố quyết định sức mạnh bảo vệ Tổ quốc.
Lý luận về quốc phòng toàn dân được xây dựng trên nền tảng triết học duy vật lịch sử và chính trị học Mác - Lênin, coi quốc phòng là sản phẩm của sự tổ chức và huy động sức mạnh chính trị - xã hội. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh rằng “Nước lấy dân làm gốc” đây là một tư tưởng vừa mang giá trị đạo đức vừa là luận điểm khoa học về bản chất xã hội của quốc phòng, khi sức mạnh bảo vệ Tổ quốc chỉ có thể bền vững khi nhân dân là chủ thể trung tâm và hệ thống chính trị biết điều hòa, huy động mọi nguồn lực vì mục tiêu chung. Trong chỉnh thể này, mỗi thành tố của hệ thống chính trị, từ Đảng, Nhà nước đến các tổ chức chính trị - xã hội và lực lượng vũ trang nhân dân đều có vai trò quy định nhằm đảm bảo sự thống nhất mục tiêu, ý chí và hành động.
Thực tiễn chính sách quốc phòng của Việt Nam cho thấy quan điểm ấy được cụ thể hóa một cách chặt chẽ và hiệu quả: theo White Paper on Vietnam National Defence, chi tiêu cho quốc phòng của Việt Nam duy trì ở mức trên 2,3 % GDP trong nhiều năm qua, với các năm như 2,36 % vào 2018 và các mức trên 2,2 % trong giai đoạn trước đó, phản ánh cam kết duy trì năng lực phòng thủ trong hòa bình gắn với phát triển kinh tế - xã hội [7, 2019]. Những con số này không chỉ thể hiện sự cân đối nguồn lực trong nền kinh tế đang phát triển mà còn chứng minh định hướng chiến lược lâu dài của Nhà nước trong việc xây dựng lực lượng quốc phòng toàn dân vững mạnh, gắn liền với chức năng phục vụ nhân dân và bảo đảm an ninh quốc gia. Với cách tiếp cận tổng thể đó, quốc phòng toàn dân ở Việt Nam được phát triển như một chỉnh thể chính trị - xã hội, tạo dựng nền tảng vững chắc cho nhiệm vụ bảo vệ độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ trong mọi tình huống.
2. Cơ sở lý luận của quan niệm quốc phòng toàn dân một chỉnh thể chính trị - xã hội
Trong học thuyết Mác - Lênin, chiến tranh và quốc phòng không bao giờ được xem xét như hiện tượng thuần túy quân sự, mà luôn được đặt trong mối quan hệ biện chứng với chính trị, giai cấp và quần chúng nhân dân. V.I. Lênin chỉ rõ rằng, để bảo vệ thành quả cách mạng, giai cấp vô sản không có con đường nào khác ngoài việc tổ chức lực lượng, cầm vũ khí và huy động toàn xã hội tham gia bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Người khẳng định: “Không cầm vũ khí bảo vệ nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa, thì chúng ta không thể tồn tại được. Giai cấp thống trị không bao giờ nhường chính quyền cho giai cấp bị trị. Nhưng giai cấp bị trị phải chứng minh trên thực tế rằng họ không những có khả năng lật đổ bóc lột, mà còn có khả năng tự tổ chức, huy động hết thảy để tự bảo vệ lấy mình” [10, tr.165-166]. Từ lập trường duy vật lịch sử, Lênin đồng thời nhấn mạnh rằng bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa luôn gắn liền với bảo vệ Đảng Cộng sản, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa, bởi đó chính là hình thức tồn tại hiện thực của quyền lực chính trị của giai cấp công nhân. Người viết: “Chúng ta tán thành ‘bảo vệ tổ quốc’, nhưng cuộc chiến tranh giữ nước mà chúng ta đang đi tới, là một cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, bảo vệ chủ nghĩa xã hội với tính cách là tổ quốc, bảo vệ nước Cộng hòa Xô viết, với tính cách là một đơn vị trong đạo quân thế giới của chủ nghĩa xã hội” [9, tr.102].
Trên nền tảng đó, Lênin đã luận giải sâu sắc vai trò quyết định của quần chúng nhân dân trong chiến tranh và quốc phòng, khi khẳng định: “Trong mọi cuộc chiến tranh, rốt cuộc thắng lợi đều tùy thuộc vào tinh thần của quần chúng đang đổ máu trên chiến trường” [11, tr.147]. Vì vậy, xây dựng khả năng quốc phòng không phải là nhiệm vụ riêng của quân đội hay bộ máy nhà nước, mà là nghĩa vụ chính trị - xã hội của toàn thể nhân dân lao động. Người nhấn mạnh: “Nghĩa vụ tuyệt đối của toàn thể quần chúng lao động là đem hết sức mình ra để khôi phục và tăng cường khả năng quốc phòng của đất nước” [9, tr.153] và “Chính vì chúng ta chủ trương bảo vệ Tổ quốc, nên chúng ta đòi hỏi phải có thái độ nghiêm túc đối với vấn đề khả năng quốc phòng và đối với vấn đề chuẩn bị chiến đấu của nước nhà” [8, tr.480-481]. Những luận điểm này đã đặt nền móng lý luận cho quan niệm quốc phòng toàn dân như một chỉnh thể chính trị - xã hội, trong đó sức mạnh quốc phòng là kết quả của sự tổ chức và huy động toàn diện quần chúng Nhân dân.
Tiếp thu và vận dụng sáng tạo học thuyết Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam, tư tưởng Hồ Chí Minh đã phát triển thành một hệ thống quan điểm toàn diện về chiến tranh nhân dân và quốc phòng toàn dân. Người luôn nhấn mạnh yêu cầu bảo vệ Tổ quốc gắn liền với bảo vệ hòa bình và xây dựng đất nước, khẳng định: “Chúng ta phải ra sức bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ hòa bình, cho nên chúng ta phải củng cố quốc phòng” [6, tr.226]. Trong tư duy của Người, quốc phòng không thể tách rời khối đại đoàn kết toàn dân và sự vận hành hiệu quả của hệ thống chính trị, do đó Người căn dặn: “Phải động viên, giáo dục toàn Đảng, toàn dân đoàn kết chặt chẽ. Các cấp, các ngành và các cán bộ, đảng viên ta cần phải thực hiện đúng các chính sách của Đảng và Nhà nước để đoàn kết và động viên được mọi người phấn khởi và hăng hái tham gia chống Mỹ, cứu nước” [4, tr.693].
Hồ Chí Minh đặc biệt coi trọng vai trò nền tảng của hậu phương và sức mạnh tự lực, tự cường của nhân dân, thể hiện trong tư duy chiến lược lâu dài về quốc phòng. Người chỉ rõ: “Nền có vững nhà mới chắc; gốc có mạnh, cây mới tốt”. Miền Bắc là nền tảng, là gốc rễ lực lượng đấu tranh của toàn dân ta, cho nên chúng ta phải làm cho nó thật vững, thật mạnh” [3, tr.144]. Tư tưởng ấy gắn chặt với lời hiệu triệu mang tính lịch sử: “Các vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước” [6, tr.59], khẳng định tính kế thừa liên tục của sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc như một quy luật tồn tại của dân tộc Việt Nam.
Trong quan niệm của Người, quốc phòng toàn dân phải mang tính toàn diện, kết hợp chặt chẽ giữa xây dựng và bảo vệ, giữa lao động sản xuất và sẵn sàng chiến đấu. Hồ Chí Minh nhấn mạnh yêu cầu kết hợp “tay cày tay súng”, coi đây là phương thức tổ chức sức mạnh quốc phòng phù hợp với điều kiện một nước nông nghiệp tiến lên chủ nghĩa xã hội: “Phải nắm vững tay cày tay súng, đẩy mạnh quốc phòng, trật tự trị an, củng cố tốt dân quân, tự vệ, luôn luôn nâng cao cảnh giác, sẵn sàng chiến đấu” [4, tr.493]. Đồng thời, Người đặc biệt đề cao tinh thần độc lập, tự chủ, tự lực cánh sinh như nền tảng tinh thần của quốc phòng toàn dân, khi khẳng định: “Một dân tộc không tự lực cánh sinh mà cứ ngồi chờ dân tộc khác giúp đỡ thì không xứng đáng được độc lập” [5, tr.445] và “Trước đây, nhân dân ta đã nêu cao tinh thần tự lực cánh sinh, trường kỳ kháng chiến, thì ngày nay chúng ta càng phải nêu cao tinh thần tự lực cánh sinh, cần kiệm xây dựng nước nhà” [4, tr.27-28].
Từ học thuyết Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh có thể rút ra ý nghĩa phương pháp luận cơ bản: quốc phòng toàn dân không phải là lĩnh vực biệt lập, mà là sự biểu hiện tập trung của sức mạnh chính trị - xã hội của nhân dân được tổ chức, lãnh đạo và định hướng bởi Đảng và Nhà nước. Quốc phòng, xét đến cùng, chính là thước đo mức độ gắn bó giữa Đảng với nhân dân, giữa Nhà nước với xã hội, và là điều kiện bảo đảm cho sự tồn tại, phát triển bền vững của chế độ xã hội chủ nghĩa..
Khái niệm chỉnh thể chính trị xã hội trong quốc phòng toàn dân phản ánh cách tiếp cận toàn diện và biện chứng về bảo vệ Tổ quốc, vượt lên trên quan niệm hẹp coi quốc phòng chỉ là lĩnh vực quân sự thuần túy. Chỉnh thể chính trị xã hội được hiểu là sự thống nhất hữu cơ giữa các yếu tố cấu thành đời sống xã hội, trong đó các yếu tố chính trị kinh tế xã hội văn hóa tư tưởng và quân sự gắn bó chặt chẽ với nhau trong một chỉnh thể thống nhất. Khi vận dụng vào quốc phòng toàn dân, chỉnh thể này biểu hiện ở mối quan hệ không thể tách rời giữa Nhân dân với hệ thống chính trị và toàn bộ nền tảng vật chất tinh thần của xã hội.
Trong chỉnh thể đó, Nhân dân giữ vị trí chủ thể quyền lực trung tâm đồng thời là nguồn gốc và mục tiêu của sức mạnh quốc phòng. Quyền làm chủ của Nhân dân được thể hiện không chỉ trong lĩnh vực chính trị mà còn trong sự tham gia trực tiếp và tự giác vào nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Hệ thống chính trị giữ vai trò tổ chức và định hướng, chuyển hóa sức mạnh tiềm tàng của xã hội thành sức mạnh hiện thực của quốc phòng toàn dân thông qua sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước và hoạt động của các tổ chức chính trị xã hội. Nền tảng kinh tế xã hội tạo cơ sở vật chất bảo đảm cho quốc phòng đồng thời góp phần củng cố niềm tin và sự gắn bó của Nhân dân với chế độ. Các giá trị văn hóa tư tưởng như truyền thống yêu nước tinh thần đoàn kết ý thức cộng đồng và trách nhiệm công dân giữ vai trò nền tảng tinh thần của quốc phòng toàn dân. Sức mạnh quân sự trong chỉnh thể này không tồn tại độc lập mà là kết quả tổng hợp của các yếu tố chính trị xã hội được tổ chức chặt chẽ. Như vậy quốc phòng toàn dân là sự kết tinh giữa quyền làm chủ của Nhân dân sự lãnh đạo của Đảng sự quản lý của Nhà nước và sự tham gia tích cực của toàn xã hội tạo thành sức mạnh tổng hợp bảo vệ vững chắc Tổ quốc trong mọi tình huống.
Quốc phòng toàn dân và hệ thống chính trị tồn tại trong mối quan hệ biện chứng chặt chẽ, tác động qua lại và quy định lẫn nhau trong suốt quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Quốc phòng toàn dân trước hết là sản phẩm của hệ thống chính trị, bởi chỉ thông qua sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước và sự tham gia của các tổ chức chính trị xã hội thì sức mạnh của Nhân dân mới được tổ chức, định hướng và phát huy thành sức mạnh bảo vệ Tổ quốc. Đồng thời, quốc phòng toàn dân lại là điều kiện quan trọng bảo đảm cho sự ổn định chính trị, củng cố vai trò cầm quyền của Đảng, hiệu lực quản lý của Nhà nước và sự bền vững của chế độ xã hội chủ nghĩa.
Mối quan hệ đó được thể hiện rõ trong sự thống nhất giữa nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đảng ta khẳng định rõ quan điểm này trong Nghị quyết số 28-NQ/TW ngày 25/10/2013 của Bộ Chính trị về chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, nhấn mạnh yêu cầu kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế xã hội với tăng cường quốc phòng an ninh, giữa xây dựng tiềm lực đất nước với xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân. Đây không chỉ là định hướng chiến lược mà còn là nguyên tắc tổ chức quyền lực xã hội trong điều kiện hòa bình.
Quốc phòng toàn dân vì vậy không đứng ngoài tiến trình phát triển mà thâm nhập sâu vào mọi lĩnh vực của đời sống chính trị xã hội. Hiến pháp năm 2013 khẳng định bảo vệ Tổ quốc là nghĩa vụ thiêng liêng và quyền cao quý của công dân, đồng thời xác lập trách nhiệm của Nhà nước trong việc xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh. Điều đó cho thấy quốc phòng toàn dân chính là một cơ chế huy động và tổ chức quyền lực xã hội trên nền tảng pháp lý và chính trị thống nhất, nhằm bảo vệ lợi ích căn bản của quốc gia dân tộc, giữ vững độc lập chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ.
Trong chỉnh thể đó, hệ thống chính trị bảo đảm vai trò lãnh đạo, quản lý và điều phối, còn quốc phòng toàn dân tạo ra môi trường ổn định, an toàn để hệ thống chính trị vận hành hiệu quả và thực hiện các mục tiêu phát triển lâu dài. Sự gắn bó biện chứng này là nhân tố quyết định để Việt Nam vừa giữ vững ổn định chính trị xã hội, vừa chủ động ứng phó với các thách thức an ninh truyền thống và phi truyền thống trong bối cảnh mới.
3. Cấu trúc và đặc điểm của quốc phòng toàn dân với tư cách chỉnh thể chính trị - xã hội
Trong tư duy quốc phòng toàn dân, nhân dân không được hiểu như một lực lượng thụ động chỉ tham gia khi có chiến tranh, mà là chủ thể chính trị trung tâm, giữ vai trò quyết định trong toàn bộ quá trình hình thành, tổ chức và thực hành nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc. Quốc phòng toàn dân vì thế trước hết là sự biểu hiện tập trung của quyền làm chủ của nhân dân trong lĩnh vực sống còn của quốc gia, nơi lợi ích cá nhân gắn bó hữu cơ với lợi ích dân tộc và vận mệnh của chế độ xã hội. Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn khẳng định nhân dân là gốc của mọi sức mạnh, trong đó có sức mạnh quốc phòng, Người chỉ rõ “Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân, trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân” [3, tr.453]. Tư tưởng đó đặt nền tảng lý luận cho việc xác lập nhân dân vừa là mục tiêu vừa là động lực của sự nghiệp quốc phòng.
Quyền và nghĩa vụ bảo vệ Tổ quốc không tồn tại như những quy định pháp lý thuần túy mà gắn liền với tư cách công dân và quyền tham gia quản lý xã hội. Khi nhân dân thực sự làm chủ đời sống chính trị, kinh tế và văn hóa, thì quốc phòng không còn là lĩnh vực biệt lập mà trở thành sự nghiệp tự giác của toàn xã hội. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhiều lần nhấn mạnh rằng bảo vệ Tổ quốc không phải việc riêng của quân đội mà là trách nhiệm chung của toàn dân, bởi “Dễ trăm lần không dân cũng chịu, khó vạn lần dân liệu cũng xong” [3, tr.47]. Cách tiếp cận này làm nổi bật chiều sâu chính trị xã hội của quốc phòng toàn dân, nơi sức mạnh vật chất luôn gắn bó với sức mạnh tinh thần, niềm tin chính trị và ý thức trách nhiệm công dân.
Quốc phòng toàn dân được cấu thành bởi nhiều yếu tố đan xen, tác động lẫn nhau, tạo thành một chỉnh thể chính trị xã hội thống nhất. Trước hết là yếu tố chính trị tư tưởng, giữ vai trò định hướng và dẫn dắt toàn bộ hệ thống. Lòng yêu nước, niềm tin vào mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội và ý thức trách nhiệm công dân là nền tảng tinh thần của quốc phòng. Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi việc xây dựng niềm tin của nhân dân là nhiệm vụ hàng đầu, bởi theo Người “Bám lấy dân là làm sao cho được lòng dân, dân tin, dân mến, dân yêu. Như vậy thì bất kể việc gì khó cũng làm được cả và nhất định thắng lợi” [5, tr.448]. Khi niềm tin chính trị được củng cố, quốc phòng trở thành sự nghiệp chung, không bị áp đặt từ bên ngoài.
Bên cạnh đó, yếu tố kinh tế xã hội tạo nên tiềm lực vật chất và điều kiện bảo đảm cho quốc phòng lâu dài. Một nền kinh tế phát triển gắn với an sinh xã hội, công bằng và gắn kết cộng đồng sẽ tạo ra sức bền cho quốc phòng, hạn chế những mâu thuẫn xã hội có thể bị lợi dụng. Chủ tịch Hồ Chí Minh sớm chỉ ra mối quan hệ giữa kinh tế và quốc phòng khi Người khẳng định “Thực túc thì binh cường”, nhấn mạnh rằng chăm lo đời sống nhân dân chính là cách thiết thực để củng cố sức mạnh bảo vệ đất nước.
Yếu tố văn hóa xã hội góp phần hình thành bản sắc, truyền thống và sức mạnh tinh thần của dân tộc. Những giá trị nhân văn, tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng và truyền thống yêu nước tạo nên thế trận lòng dân, yếu tố mà Chủ tịch Hồ Chí Minh coi là then chốt, bởi “Lòng dân yên thì nước mạnh”. Cuối cùng, yếu tố quân sự an ninh giữ vai trò nòng cốt, trong đó lực lượng vũ trang nhân dân là trụ cột trực tiếp, vừa chiến đấu vừa gắn bó máu thịt với nhân dân, đúng như quan điểm của Người về quân đội từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà phục vụ.
Trong bối cảnh hiện nay, quốc phòng toàn dân mang những đặc điểm cơ bản thể hiện sự phát triển về chất so với các giai đoạn trước. Trước hết là tính toàn dân và toàn diện, được thể hiện ở sự tham gia của mọi giai cấp, tầng lớp, mọi lĩnh vực của đời sống xã hội vào nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc. Quốc phòng không chỉ giới hạn trong không gian quân sự mà bao trùm các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học và công nghệ. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nhấn mạnh rằng sức mạnh bảo vệ đất nước phải được chuẩn bị từ thời bình và trên mọi mặt, bởi “Giữ nước từ khi nước chưa nguy”.
Quốc phòng toàn dân đồng thời mang tính lâu dài và tự giác, không phụ thuộc vào tình huống nhất thời. Tính tự giác được hình thành trên cơ sở nhận thức chính trị đúng đắn và niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước. Khi quốc phòng gắn với lợi ích thiết thân của con người, nó trở thành nhu cầu nội tại của xã hội. Quan điểm này phù hợp với tư tưởng Hồ Chí Minh về mối quan hệ giữa dân và nước, khi Người khẳng định “Nước lấy dân làm gốc”.
Một đặc điểm nổi bật khác là sự kết hợp chặt chẽ giữa quốc phòng với an ninh, đối ngoại, phát triển bền vững và bảo đảm an ninh con người. Trong điều kiện các thách thức an ninh truyền thống và phi truyền thống đan xen, quốc phòng toàn dân đòi hỏi tính linh hoạt và khả năng thích ứng cao. Điều đó thể hiện tinh thần chủ động, sáng tạo, mềm dẻo nhưng kiên định, đúng với tư duy Hồ Chí Minh về bảo vệ Tổ quốc trong mọi hoàn cảnh, luôn giữ vững nguyên tắc nhưng biết ứng xử phù hợp để bảo vệ lợi ích tối cao của dân tộc và nhân dân.
4. Yêu cầu phát triển quốc phòng toàn dân trong bối cảnh mới
Trong thế giới đang vận động dưới ảnh hưởng sâu rộng của toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, các quốc gia không còn đứng độc lập mà càng ngày càng phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế, công nghệ, thương mại và an ninh. Tính tương tác lẫn nhau này vừa tạo ra cơ hội phát triển vừa đem đến những thách thức an ninh phức tạp hơn, bởi các mối đe dọa phi truyền thống có thể lan nhanh xuyên biên giới và vượt qua biện pháp quân sự truyền thống để ảnh hưởng đến đời sống xã hội, kinh tế, môi trường và nhận thức công dân. Như các chuyên gia an ninh phi truyền thống chỉ ra, trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay có khoảng ba mươi loại đe dọa an ninh phi truyền thống, trong đó nổi lên các nguy cơ liên quan an ninh kinh tế, môi trường, y tế, an ninh mạng và an ninh lương thực nước - điều kiện sống của con người bị đặt trước những rủi ro chưa từng có [2, 2025].
Sự chuyển dịch cơ cấu dân cư và đô thị hóa nhanh tạo lực lượng lao động tập trung, thúc đẩy tăng trưởng và đổi mới, nhưng đồng thời làm gia tăng phân hóa xã hội, biến đổi cấu trúc cộng đồng và tiềm ẩn rủi ro an ninh đô thị. Điều này đặt ra yêu cầu gắn quốc phòng toàn dân với quản trị đô thị, bảo đảm hài hòa giữa phát triển kinh tế - xã hội và giữ vững an ninh.
Đồng thời, các thách thức an ninh phi truyền thống như dịch bệnh, biến đổi khí hậu, an ninh mạng, tội phạm công nghệ cao và suy thoái môi trường gia tăng, không chỉ làm gián đoạn đời sống xã hội mà còn đặt áp lực lớn lên năng lực quản trị quốc gia và quốc phòng toàn dân.
Trong bối cảnh vừa hội nhập sâu rộng vừa cạnh tranh chiến lược giữa các quốc gia lớn, quốc phòng toàn dân không chỉ là chuẩn bị lực lượng đối phó với nguy cơ truyền thống mà còn phải là sự chuẩn bị toàn diện đối với những tác động mang tính phức hợp giữa kinh tế, công nghệ, môi trường và văn hóa - xã hội.
Đòi hỏi cơ bản trong bối cảnh mới là cần có một sự chuyển dịch căn bản trong nhận thức và tư duy về quốc phòng toàn dân: thấu suốt rằng quốc phòng không thể tiếp cận một cách thuần túy quân sự hoặc coi quốc phòng là một phần biệt lập của nhà nước. Quốc phòng phải được thấu suốt như một bộ phận hữu cơ của quản trị quốc gia và quản trị xã hội, nơi mà chính trị, kinh tế, văn hóa, kỹ thuật, môi trường và an ninh con người là những khía cạnh liên tục tương tác lẫn nhau. Tư duy này vượt lên trên khuôn khổ an ninh quân sự hẹp, đề cao sự tham gia có ý thức của mọi tầng lớp nhân dân, của các thiết chế xã hội, và của hệ thống chính trị trong việc chuẩn bị cho mọi kịch bản rủi ro. Trong quan điểm Hồ Chí Minh, bảo vệ Tổ quốc không tách rời khỏi việc bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân, vì dân là nền tảng khả tín và bền vững của quốc phòng. Người đã khẳng định rõ ràng rằng “quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách” - nghĩa là bản thân từng công dân và cộng đồng có trách nhiệm sâu sắc trong việc củng cố quốc phòng và an ninh.
Đổi mới tư duy yêu cầu chúng ta vượt lên trên phương pháp phản ứng đơn lẻ đối với các thách thức, chuyển sang quản lý quốc phòng như một phần của quản trị chính sách công tổng thể. Điều này bao gồm nhận diện các mối đe dọa phi truyền thống, dự báo sớm và hình thành cơ chế phối hợp liên ngành để xử lý các tình huống phức tạp thuộc kinh tế, môi trường, y tế, mạng và thông tin. Chỉ khi quốc phòng được coi là một bộ phận thiết yếu của đời sống xã hội và quyền con người, mỗi cá nhân mới thực sự trở thành chủ thể của quốc phòng toàn dân.
Quốc phòng cần được kết hợp chặt chẽ với phát triển kinh tế, văn hóa và xã hội, đặc biệt ở các đô thị lớn và khu vực chiến lược, nơi mà nguy cơ mất an ninh xã hội và áp lực từ cạnh tranh toàn cầu diễn ra cao hơn. Mối liên hệ này đòi hỏi cơ chế hoạch định chính sách phải xuyên suốt về mặt liên ngành và liên vùng, không chỉ nhằm đạt mục tiêu an ninh mà còn nhằm đảm bảo phát triển bền vững, ổn định xã hội và an sinh nhân dân. Chính phủ Việt Nam đã chỉ đạo xây dựng các chiến lược tổng thể để phòng ngừa và ứng phó các đe dọa an ninh phi truyền thống đến năm 2030, tầm nhìn đến 2045, nhằm tăng cường cả năng lực phòng thủ lẫn năng lực xã hội hóa trong xử lý các rủi ro đa chiều.
Yêu cầu cuối cùng mang tính nền tảng là củng cố “thế trận lòng dân”, bởi đó chính là nguồn sức mạnh chính trị - xã hội vững chắc nhất của quốc phòng toàn dân. Khi mỗi công dân cảm nhận sâu sắc quyền và trách nhiệm của mình trong việc bảo vệ Tổ quốc, khi sự đồng thuận xã hội được đảm bảo trên nền tảng công bằng, an sinh và phát triển bền vững, quốc phòng toàn dân sẽ trở thành sức mạnh tổng hợp, không chỉ đối phó với thách thức truyền thống mà còn thích ứng với những biến động chưa từng có trong bối cảnh toàn cầu. Chính Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nhấn mạnh rằng niềm tin và sự đồng thuận của nhân dân chính là tài sản chiến lược của quốc gia, “nếu dân tin, dân theo, dân ủng hộ thì không gì lay chuyển được”.
5. Kết luận
Quốc phòng toàn dân, xét đến cùng, không chỉ là một mô hình tổ chức phòng thủ quốc gia mà là sự kết tinh cao độ của sức mạnh chính trị - xã hội của Nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý thống nhất của Nhà nước. Khi được nhìn nhận như một chỉnh thể chính trị - xã hội, quốc phòng toàn dân phản ánh mối quan hệ hữu cơ giữa Nhân dân, Nhà nước và chế độ xã hội, trong đó Nhân dân vừa là chủ thể sáng tạo vừa là nền tảng bền vững của mọi sức mạnh bảo vệ Tổ quốc. Cách tiếp cận này làm rõ rằng quốc phòng không thể tồn tại tách rời đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội, mà phải gắn bó chặt chẽ với quá trình phát triển con người và củng cố niềm tin xã hội.
Tư tưởng Hồ Chí Minh xuyên suốt quan niệm ấy khi Người khẳng định “Nước lấy dân làm gốc”, coi lòng dân là yếu tố quyết định sự bền vững của quốc gia. Quốc phòng toàn dân vì vậy không chỉ nhằm đối phó với các mối đe dọa từ bên ngoài mà còn hướng tới xây dựng sự đồng thuận xã hội, bảo đảm công bằng, an sinh và quyền làm chủ của Nhân dân. Trong bối cảnh mới với những biến động phức tạp và đa chiều, việc khẳng định quốc phòng toàn dân như một chỉnh thể chính trị - xã hội có ý nghĩa lý luận sâu sắc và thực tiễn cấp thiết, góp phần định hướng xây dựng nền quốc phòng vững mạnh, hiện đại, tự chủ và nhân văn. Đó chính là con đường bảo vệ Tổ quốc từ gốc rễ, từ Nhân dân, đúng với tinh thần Hồ Chí Minh rằng “khi lòng dân đã thuận thì việc gì cũng thành”.
ThS. Đào Hoa Tươi
(Khoa Chuyên môn kỹ thuật, Trường Quân sự, Quân đoàn 34)
---------------
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Ban Chấp hành Trung ương (2013), Nghị quyết số 28-NQ/TW ngày 25/10/2013 của Bộ Chính trị về chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.
[2] Báo Nhân dân (2025), Citizens are the key players in responding to non-traditional security threats., nguồn: https://www.vietnam.vn/en/nguoi-dan-la-chu-the-trong-ung-pho-cac-de-doa-an-ninh-phi-truyen-thong, ngày 04/10/2025.
[3] Hồ Chí Minh (2011, tập 10), Toàn tập, Nxb CTQG Sự thật, Hà Nội.
[4] Hồ Chí Minh (2011, tập 14), Toàn tập, Nxb CTQGSự thật, Hà Nội.
[5] Hồ Chí Minh (2011, tập 7), Toàn tập, Nxb CTQGSự thật, Hà Nội.
[6] Hồ Chí Minh (2011, tập 9), Toàn tập, Nxb CTQGSự thật, Hà Nội.
[7] Linh Pham (2019), What’s new in Vietnam 2019 Defense White Paper?, nguồn: https://vietnamnet.vn/en/whats-new-in-vietnam-2019-defense-white-paper-592880.html, ngày 28/11/2019.
[8] V.I.Lênin (1978, tập 35), Toàn tập, Nxb Tiến bộ, Maxcơva.
[9] V.I.Lênin (1978, tập 36), Toàn tập, Nxb Tiến bộ, Maxcơva.
[10] V.I.Lênin (1978, tập 38), Toàn tập, Nxb Tiến bộ, Maxcơva.
[11] V.I.Lênin (1978, tập 41), Toàn tập, Nxb Tiến bộ, Maxcơva.
.
Đọc tiếp
- Chưa bao giờ trí tuệ nhân tạo (AI) lại được sử dụng phổ biến trong tác chiến như hiện nay, đặc biệt trong việc xác...
- Ngày 13/5, đoàn công tác Bộ Công an do Thượng tá Phạm Tiến Dũng, Phó Chánh Văn phòng Cơ quan An ninh điều tra làm trưởng đoàn...
- Chiều ngày 13/5, tại Hải Phòng, Quân chủng Hải quân tổ chức khai mạc Hội thi Báo cáo viên giỏi cấp Quân chủng lần thứ...
- Ngày 29-5 hằng năm được Liên hợp quốc chọn là Ngày Quốc tế Lực lượng gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc nhằm tôn vinh...
- Với vị trí, vai trò to lớn của Đảng Cộng sản Việt Nam và những thắng lợi vĩ đại của dân tộc Việt Nam từ khi có...
Mới nhất
- Hội CCB tỉnh Phú Thọ vừa tổ chức tập huấn và tuyên truyền phòng chống đuối nước trẻ em năm 2026 cho cán bộ Hội của...
- Bệnh bạch hầu là bệnh nhiễm trùng - nhiễm độc, lây theo đường hô hấp và có khả năng gây dịch, do trực khuẩn...
- Niềng răng là một phương pháp điều trị được sử dụng phổ biến hiện nay giúp dịch chuyển răng mang lại một hàm răng...
- Tuổi già, bệnh tật và những di chứng chiến tranh vẫn ngày ngày bủa vây gia đình ông Nguyễn Văn Cừ, sinh năm 1940, thôn Văn...
- Chiến tranh có thể cướp đi sinh mạng, hoặc để lại những di chứng suốt đời đối với con người, nhưng không thể lấy...
- Sinh ngày 10-10-1911, ở tuổi 115, cụ Nguyễn Thị Bình hiện là người cao tuổi nhất xã Đại Đồng (Nghệ An). Cuộc đời hơn...
- Khi hoa sen ở Kim Liên bắt đầu tỏa hương dịu nhẹ trong nắng sớm, dòng người từ khắp mọi miền lại tìm về quê Bác....
- Thiếu tướng Hoàng Anh Tuấn là một người lính Trường Sơn thực thụ. Những năm tháng sống và chiến đấu ở Trường...
- Giữa những ngày tháng Năm lịch sử, khi ký ức về một thời “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước” lại bồi hồi trở...
- Gần như cả cuộc đời của Thiếu tướng, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Phan Quang Tiệp đều gắn với Bộ đội...
- Thực hiện chủ trương của Đảng, những năm qua tỉnh Quảng Trị đã có chính sách đúng đắn, hợp lý và kịp thời, nhằm...
- Cỡ chữ Mặc định















