Logo-print CƠ QUAN CỦA TRUNG ƯƠNG HỘI - TIẾNG NÓI CỦA CỰU CHIẾN BINH VIỆT NAM

Những trang văn lấp lánh chuyện ngày xa

Đại tá, nhà văn NGUYỄN XUÂN HẢI 22/05/2026 - 07:18

Đầu năm 2026 tôi có duyên may lên vùng nước non Cao Bằng với hai người bạn cùng quê: Giáo sư sử học Nguyễn Quang Ngọc và Nhà báo Nguyễn Đăng Văn. Trong cuộc hành trình, trước tầng tầng lớp lớp núi non hùng vĩ, thỉnh thoảng chúng tôi lại “mượn“ thơ để việc thưởng ngoạn cảnh sắc thiên nhiên thêm phần thi vị và cũng để đường xa thêm gần...

nhung-trang-van-lap-lanh
Bìa hai cuốn sách vừa xuất bản của Nhà báo Nguyễn Đăng Văn.

Tôi thật không ngờ Nhà báo Nguyễn Đăng Văn lại thuộc nhiều thơ đến thế. Anh có thể đọc làu làu cả trăm câu thơ của Tố Hữu, có thể nhẩn nha bình những áng cổ thi của các Nhà thơ lớn Trung Hoa và cả Đại Việt ta... Rồi đến Nhà sử học Nguyễn Quang Ngọc. Anh không chỉ khiến chúng tôi hiểu thêm về những trang “bí sử“ liên quan đến Thục Phán thời Người khởi dựng nghiệp vương tại vùng nước non Cao Bằng mà lúc cao hứng Nguyễn Quang Ngọc cũng góp dăm bài thơ “họa“ với Nguyễn Đăng Văn rất tự nhiên và cũng rất “thuở học trò“...

Sở dĩ, tôi bắt đầu bài giới thiệu cuốn sách này bằng câu chuyện “lan man“ trên đây vì bút ký nhan đề “Xa ngái mười năm ta lại nhắc tên mình“ mở đầu, cũng là tên của tác phẩm gần 300 trang, Nguyễn Đăng Văn đã dành cho tôi và Nguyễn Quang Ngọc mỗi người chừng mươi dòng giới thiệu thân tình và trọng thị. Tôi và Nguyễn Quang Ngọc chỉ là hai trong số nhiều “gương mặt“ đã có 10 năm gắn bó với nhau trong “Hội Đồng hương Vĩnh Bảo tại Hà Nội“ đã được Nguyễn Đăng Văn ưu ái nói đến như: Giáo sư Đào Nguyên Cát, Nhà báo Đỗ Phượng, Tiến sĩ Đỗ Văn Hậu, Tiến sĩ Phạm Từ, Doanh nhân Nguyễn Văn Thêm, Nhà văn Trung Trung Đỉnh, Đại tá - Nhà báo Đỗ Phú Thọ,...

Cùng với bút ký kể trên, trong tập sách Nguyễn Đăng Văn còn tinh tuyển nhiều bài viết khác, hầu hết đã đăng trên các báo và tạp chí, đã được in trong các tập sách truyền thống.

Tập sách được anh chia làm hai phần. Phần 1 cũng cùng với tiêu đề của sách là những trang viết dành cho đất và người của quê hương nơi anh có cả tuổi thơ lam lũ và sôi động. Anh viết về “Người mê đắm vì thơ“ giới thiệu tuyển thơ của Nhà giáo Vũ Kiệt, người làng mình. Anh viết về “Cuộc dạo chơi bất ngờ“ của Nguyễn Văn Mạnh khi Nhà thơ bạn học thời “để chỏm“ xuất bản tập thơ “Miền hoa phượng“... Anh viết về “Hoài niệm hương quê“ với những kỷ niệm độc đáo: Từ cái mũ rơm trên đầu đi học đến những căn hầm tre kết chữ A phủ đất dày hàng mét quanh trường thờì giặc Mỹ mang bom đạn ra oanh tạc miền Bắc thường xuyên gầm thét trên đầu...

Đọc những trang viết của phần này, tôi xin được mượn những câu thơ tâm dạ của anh để thay lời nhận xét và có lẽ cũng là ý tưởng chủ đạo mà anh muốn chuyển tải:

...Đến bây giờ đứng trước dòng sông

Gió hun hút thổi dọc bờ lá cỏ

Mây thì tím, nước phù sa thì đỏ

Em xa vời... thơ cứ trắng như không.

 (Tôi với sông Gừng - in trong tập “Hồn quê Trạng Trình“)

 Sông Gừng là con sông chảy qua ngôi làng Tạ Ngoại của Nguyễn Đăng Văn. Từ bến sông quê này, năm 18 tuổi, vừa học xong phổ thông Trung học, anh có lệnh nhập ngũ rồi lên đường vào Nam chiến đấu. Người lính trẻ Nguyễn Đăng Văn ra trận vào thời điểm cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước bước vào giai đoạn ác liệt nhất.

Đằng đẵng mười năm sau anh mới có dịp trở lại bến sông xưa, con đường cũ rồi dừng chân dưới vòm tre quen thuộc trước ngõ nhà mình trong tâm thế của người đã từng trải:

...Tôi thẫn thờ dừng lại trước vòm tre

Nghe gió thổi rưng rưng từng mạch máu

Màu áo lính sau những ngày chiến đấu

Xanh lạ lùng dưới ánh nắng mùa xuân...

 (Ngõ quê - in trong tập “Bút Sinh Hương“) 

Chính từ “Màu áo lính sau những ngày chiến đấu“ ấy mà Nguyễn Đăng Văn đã có những trang viết khác. Những trang viết bi hùng về đất và người phương Nam, đặc biệt là những chiến sĩ giải phóng quân, đồng đội của anh.

Cũng đã từng là người lính, đã từng làm báo, viết văn nên khi đọc Phần 2 của tập sách với tựa đề “Thời trận mạc không xa“ của Nguyễn Đăng Văn, tôi thực sự bị hút vào từng câu từng chữ từ chất liệu đất phương Nam, từ ký ức chiến trường đậm đặc và chân thực trong anh. Bài bút ký “Mẹ chồng, con dâu - hai”, “Bà mẹ Việt Nam Anh hùng“ mở đầu của phần viết này khiến tôi sững sờ. Đọc những trang bút ký này của Nguyễn Đăng Văn, thêm lần nữa tôi chỉ biết thốt lên: Dải đất hình chữ S của Tổ quốc mình là dải đất của những tượng đài Người Mẹ đã hy sinh vô bờ trong cuộc chiến đấu vì độc lập tự do !

Trở lại bài viết của Nguyễn Đăng Văn về Mẹ Mai Thị Tốt ở ấp Voi Lá, Bến Lức, Long An. Mẹ có 11 người con, 8 trai, 3 gái, thì cả 8 người con trai đều được mẹ lần lượt động viên tham gia cách mạng và rồi cả 8 người đều đã anh dũng hy sinh trong hai cuộc kháng chiến trường kỳ. Phần cuối bút ký này, trong khuôn khổ một bài viết cho báo Nhân Dân, Nguyễn Đăng Văn chỉ thể dành vài chục chữ khắc họa hình ảnh Mẹ Tốt trong đám tang người con trai út mà vẫn khiến tôi nghẹn lòng khi chứng kiến nỗi đau tột cùng về sự mất mát của đời Mẹ và sau đó càng thấu hiểu tấm lòng sắt son của Mẹ với cách mạng...

...Cũng như 7 người anh trai, Nguyễn Văn Mười Hai con út của mẹ cũng là người chiến sĩ can trường trong trận mạc, người lãnh đạo kiên cường vùng Bến Lức. Một lần trên đường đi công tác, Nguyễn Văn Mười Hai không may sa vào tay giặc. Biết anh đang là Thường vụ Huyện ủy chỉ đạo phong trào đấu tranh tại vùng đất này, bọn giặc đã bắn anh rồi đem phơi xác tại ngã ba ấp Voi Lá hòng làm nhụt ý chí chiến đấu của quân và dân ta. Bọn địch không thể ngờ được rằng từ nỗi đau thương ấy, mẹ Tốt đã bất chấp hiểm nguy, dẫn đầu đoàn bà con cô bác đi đấu tranh đòi bằng được xác con về làm tang lễ. Rồi cuộc đấu tranh đòi người đã trở thành cuộc biểu tình, cuộc đấu tranh chính trị khiến kẻ địch phải khiếp sợ...

Noi gương Mẹ Tốt, con dâu của mẹ là Lê Thị Đang cũng lần lượt động viên chồng và hai người con trai đi theo quân giải phóng. Cho đến ngày đất nước sạch bóng quân thù, người chồng và hai người con của Mẹ Đang cũng mãi mãi không về... Chuyện về hai người mẹ trong cùng một gia đình nông dân nghèo trên đất Long An đã có tới 10 người con, người cháu hy sinh vì sự nghiệp giải phóng dân tộc đằng đẵng mấy chục năm trời mà Nguyễn Đăng Văn “dồn nén“ trong một bài báo chắc chắn sẽ là nguồn tư liệu quý báu để các Nhà văn tiếp tục khai thác dựng thành những bộ tiểu thuyết mới xứng tầm với sự hy sinh cao cả của người dân thành đồng Tổ quốc.

Sau bài viết về 2 người tại vùng đất mà Nguyễn Đăng Văn bắt đầu cuộc đời binh nghiệp, là người trong cuộc chiến, anh còn nhiều trang viết về đơn vị của mình về đồng đội của mình. Đơn vị của anh: Tiểu đoàn 1 Long An, Quân khu 7, ba lần được Đảng và Nhà nước tuyên dương Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Tiểu đoàn ấy có nhiều chiến binh đã trở thành Anh hùng, thành Dũng sĩ, thành tướng lĩnh Quân đội nhân dân Việt Nam và có người trở thành Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh uỷ, Tư lệnh Quân khu, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng... Tiểu đoàn ấy đã được vinh danh bằng 12 chữ vàng truyền thống dễ nhớ: “Điều đâu đi đó, chỉ đâu đánh đó, đánh đâu thắng đó“. Nguyễn Đăng Văn có may mắn là người lính hậu sinh được nghe, được gặp, được kề vai chiến đấu với cán bộ chiến sĩ của tiểu đoàn Anh hùng ấy... Để rồi, từ người chỉ huy can trường đến những người chiến sĩ quả cảm đã bước vào nhiều bút ký của anh trong tập sách này. Nguyễn Đăng Văn viết về “Đại úy Trần Hoài Nang“ từ kỷ niệm về một trận đánh quân Pol Pot xâm lược tại biên giới Tây Nam. Trong tình thế ngặt nghèo, bị lũ giặc đông hơn gấp bội bao vây bốn phía, Đại úy Trần Hoài Nang đã giao cho Văn nhiệm vụ viết lời hiệu triệu, vừa là để động viên các “chốt“ của quân ta giữ vững trận địa, vừa là “đòn gió“ nghi binh đánh lừa chúng. Cách chỉ huy sáng tạo của người Chính trị viên tiểu đoàn “văn võ song toàn“ trong 22 ngày đêm quần nhau với địch đã khiến đơn vị của anh “chuyển bại thành thắng“...

Anh viết về Thiếu tá Nguyễn Văn Chuyển (Tư Chuyển) một thời trận mạc thật sinh động, xúc động. Anh Tư Chuyển hai lần đã “chết“! Lần thứ nhất, trong trận chiến đấu không cân sức hết sức ác liệt ở xã Bình Phong Thạnh, huyện Thủ Thừa (Long An). Đại đội do anh chỉ huy đối đầu với 1 trung đoàn địch do tên đại tá Lê Văn Năm tỉnh trưởng Long An trực tiếp chỉ huy. Trận đánh diễn ra đẫm máu, ta quyết giữ trận địa, bẻ gãy nhiều đợt tấn công của địch, buộc chúng phải lùi ra xa, nhưng sau đó, đơn vị phải xin ý kiến cấp trên, rút khỏi trận địa do chỉ còn rất ít tay súng. Mấy ngày sau không thấy anh trở về, tiểu đoàn cho rằng Tư Chuyển đã hy sinh, nhưng sau đó, nhờ cơ sở của ta đưa dẫn, anh đã trở về được đơn vị. Lần thứ hai, trong trận đánh bốt Long Sơn (Cần Đước), Tư Chuyển chỉ huy đánh thắng, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, nhưng cạnh đó, cũng có một trận đánh khác của ta không thắng lợi, thương vong nhiều. Anh em loan tin: Trong danh sách những chiến sĩ hy sinh có cả tên anh Tư Chuyển. Có người còn nói nhìn thấy xác Tư Chuyển ngã xuống “to con, tóc quăn“. Sau đó, đơn vị đã gửi danh sách chiến sĩ đơn vị hy sinh lên cấp trên. Cấp trên đã làm giấy báo tử đưa về địa phương! Cho đến năm 1975, khi đất nước thống nhất, bỗng nhiên Nguyễn Văn Chuyển đeo ba lô trở về Hải Dương “nghỉ phép“ trước sự “tò mò ngơ ngác“ của đứa con 12 tuổi mà khi anh ra đi nó mới bi bô tập nói. Trước niềm vui tột cùng trong ngày trở về, anh đã đứng lặng đi trước tấm bằng Tổ quốc ghi công ghi tên Liệt sĩ Nguyễn Văn Chuyển đặt trang nghiêm trên bàn thờ khói hương nghi ngút...

Trong tập sách của Nguyễn Đăng Văn còn nhiều câu chuyện cảm động và ly kỳ như thế và hơn thế. Đó là chuyện về Đại tá Vũ Tiến Đông, người con của Cần Đước, Long An, từ người lính của tiểu đoàn, trưởng thành trong chiến đấu rồi được giao trọng trách Phó trung đoàn trưởng, chính trị Trung đoàn Vàm Cỏ. Đó là chuyện về Đại đội trưởng gan góc Mười Tâm, người con của Bến Tre. Đó là câu chuyện rất cảm động về lòng dũng cảm và trận đánh cuối cùng của chiến sĩ liên lạc Đoàn Thế Thơ, người con của Bắc Giang. Đó là những câu chuyện về Đại đội trưởng Bùi Văn Sửu, quê Đức Huệ - Long An, người đã mưu trí dùng B40 tiêu diệt một ổ đề kháng nguy hiểm của địch tại Sài Gòn trong cuộc tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968...

Tôi còn muốn trích dẫn nhiều, nhiều hơn nữa những câu chuyện rất hấp dẫn có trong tập sách của Nguyễn Đăng Văn. Nhưng trong khuôn khổ của một bài giới thiệu, tôi chỉ có thể viết đôi dòng trên đây với hy vọng được bạn đọc chia sẻ phần nào cùng cảm nhận của tôi về cuốn sách, về những câu chuyện của “một thời chiến tranh, một thời hòa bình“ mà tác giả muốn gửi gắm.

Đọc tiếp

Mới nhất

Những trang văn lấp lánh chuyện ngày xa