Logo-print CƠ QUAN CỦA TRUNG ƯƠNG HỘI - TIẾNG NÓI CỦA CỰU CHIẾN BINH VIỆT NAM

SỰ THẬT VỀ HỢP ĐỒNG 002 GIỮA TRADECO VÀ UPEXIM

Bài 1: Hợp đồng 002 - Liệu có giá trị pháp lý hay không?

TƯ HOÀNH 14/06/2026 - 10:45

LTS: Thời gian qua, dư luận quan tâm đến Hợp đồng kinh tế số 002/UPX-TDC ký ngày 26-7-2010 giữa Công ty Upexim và Công ty Tradeco. Theo quy định của pháp luật, tranh chấp phát sinh từ hợp đồng kinh tế thường được giải quyết theo thủ tục dân sự. Tuy nhiên, Hợp đồng 002 lại được xem xét trong vụ án hình sự, khiến nhiều ý kiến băn khoăn về cơ sở pháp lý của việc giải quyết vụ việc. Để giúp bạn đọc có thêm thông tin đa chiều về vụ việc, Báo CCB Việt Nam thực hiện loạt bài “Sự thật về Hợp đồng 002 giữa Tradeco và Upexim”, để rộng đường dư luận…

Hợp đồng không dẫn chiếu văn bản phê duyệt của Upexim và Tradeco; các tài liệu được bổ sung sau khi ký hợp đồng như Biên bản họp HĐQT số 459 của Upexim và Biên bản họp Đại hội đồng cổ đông bất thường của Tradeco bị cho là có nhiều điểm bất thường; tài sản hợp tác đang thuộc sở hữu Nhà nước nhưng Điều 7.1 của hợp đồng lại ghi nhận Upexim sở hữu 50 năm; địa chỉ doanh nghiệp và tài sản hợp tác ghi chưa chính xác; hợp đồng gồm 9 trang nhưng không ký nháy từng trang, không đóng dấu giáp lai và không quy định phương thức phân chia tài sản...

Từ những vấn đề trên, nhiều cổ đông và người lao động tại Upexim đặt câu hỏi về tính pháp lý của Hợp đồng 002 cũng như cơ sở để các cấp tòa án xác định quyền lợi của các bên đối với khối tài sản liên quan.

1648-1649-ban-doc-bs-copy-1043
Hợp đồng 002 và Trích biên bản nghị quyết số 459 của Upexim cũng như Biên bản họp Hội đồng cổ đông bất thường của Tradecco được các cổ đông của Upexim cho rằng có những dấu hiệu gian dối nhằm “hợp thức” cho giao dịch hợp tác kinh doanh của 2 công ty.

Hợp đồng 002 - Vì sao phải “đốt cháy giai đoạn” và hàng loạt dấu hiệu “bất thường”?

Vụ án “Trương Vui và các đồng phạm” có nguồn gốc từ Hợp đồng số 002 (BL 437-444) được đại diện Công ty Tradeco và Công ty Upexim ký ngày 26-7-2010.

Theo nội dung hợp đồng, hai doanh nghiệp cùng góp vốn mua khu đất số 4-6 Hồ Tùng Mậu (TP. Hồ Chí Minh) để thực hiện dự án xây dựng tòa nhà UPEX Tower cao 15 tầng. Giá trị hợp đồng được xác định là 120 tỷ đồng, mỗi bên góp 60 tỷ đồng.

Theo hồ sơ vụ việc, sau khi ký kết, dự án chưa được triển khai, giữa các bên cũng chưa phát sinh tranh chấp hợp đồng. Tuy nhiên, trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, các cấp tòa án đã xác định Tradeco có quyền lợi đối với khối tài sản liên quan và tuyên phân chia giá trị tài sản theo tỷ lệ 50%-50%.

Liên quan đến nội dung này, lãnh đạo Công ty Upexim đã nhiều lần gửi đơn kiến nghị. Tại buổi đối thoại, tiếp công dân do Trung ương Hội CCB Việt Nam tổ chức ngày 5-5-2026, nhiều cựu chiến binh từng công tác trong ngành tư pháp cho rằng việc công nhận Hợp đồng 002 và xác định Tradeco được hưởng 50% giá trị quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà tại số 4-6 Hồ Tùng Mậu cần tiếp tục được xem xét, đối chiếu với các tài liệu, hồ sơ liên quan.

Theo tìm hiểu, Hợp đồng 002 gồm 9 trang nhưng không có chữ ký nháy ở từng trang và không đóng dấu giáp lai. Luật sư Vũ Phi Long, nguyên Phó Chánh tòa Hình sự TAND TP. Hồ Chí Minh nhận định: “Hợp đồng không ký nháy từng trang, không đóng dấu giáp lai có thể làm phát sinh rủi ro về việc thay đổi hoặc bổ sung nội dung sau này”.

Phía Upexim cho biết hợp đồng hiện chỉ có một bản do Tradeco lưu giữ. Đồng thời, địa chỉ của tài sản hợp tác trong hợp đồng cũng được cho là ghi sai địa chỉ từ phường Nguyễn Thái Bình thành phường Bến Nghé ?!

Không chỉ về hình thức, nội dung Hợp đồng 002 cũng được nhiều cổ đông đặt vấn đề. Theo hồ sơ, tại thời điểm ký hợp đồng, tài sản hợp tác vẫn thuộc sở hữu Nhà nước; Upexim là đơn vị thuê và trả tiền thuê theo tháng. Tuy nhiên, Điều 7.1 của hợp đồng lại ghi nhận Upexim sở hữu tài sản trong thời hạn 50 năm.

Tại Văn bản số 2273/QLKDN-KD, Công ty Quản lý Kinh doanh nhà TP. Hồ Chí Minh - đơn vị quản lý tài sản và ký hợp đồng cho Upexim thuê - cho rằng “việc ký Hợp đồng 002 đã vi phạm điều khoản hợp đồng cho thuê khi tài sản đang thuộc quyền sở hữu Nhà nước”.

Đáng chú ý, phần căn cứ ký Hợp đồng 002 không dẫn chiếu văn bản chấp thuận của đơn vị quản lý tài sản, đồng thời cũng không viện dẫn các nghị quyết hoặc quyết định phê duyệt của Upexim và Tradeco cho phép ký kết hợp đồng.

Để bổ sung căn cứ cho việc ký hợp đồng, Tradeco đã cung cấp hai tài liệu gồm: Biên bản họp HĐQT số 459 của Upexim ngày 27-7-2010 (BL 452) và Biên bản họp Đại hội đồng cổ đông bất thường của Tradeco (BL 443-447) cho cơ quan chức năng.

Tuy nhiên, Biên bản số 459 có dấu hiệu sửa chữa và được cho là lập sau thời điểm ký hợp đồng. Trong tài liệu này có chữ ký của 5 thành viên HĐQT, nhưng theo Kết luận giám định số 668/C45B ngày 24-4-2014 của Viện Khoa học hình sự, thì chữ ký mang tên ông Nguyễn Thiên Thao không phải do ông Thao ký.

Tại phiên tòa sơ thẩm, ông Thao cũng đề nghị HĐXX không công nhận giá trị của tài liệu này. Ngoài ra, nội dung văn bản 459 không thể hiện việc HĐQT chấp thuận cho ông Trương Vui ký hợp đồng trị giá 120 tỷ đồng với tỷ lệ góp vốn 50%-50%.  Từ đó, phía khiếu nại cho rằng cần tiếp tục làm rõ tính hợp lệ và giá trị pháp lý của tài liệu này.

Đối với Biên bản họp Đại hội đồng cổ đông bất thường của Tradeco (BL 443-447), hồ sơ thể hiện số đăng ký kinh doanh ghi trong biên bản là của một doanh nghiệp khác tại Hà Nội, trong khi số đăng ký kinh doanh của Tradeco do Sở Kế hoạch và Đầu tư TP. Hồ Chí Minh (nay là Sở Tài chính) cấp là 0309930716.

Ngoài ra, hồ sơ cho thấy một cổ đông sở hữu 30% vốn điều lệ không có chữ ký trong biên bản nhưng tài liệu vẫn ghi nhận 100% cổ đông tham dự cuộc họp. Những tình tiết này cũng được người khiếu nại đề nghị các cơ quan có thẩm quyền xem xét, làm rõ.

Tradeco thực sự có góp đủ 60 tỷ đồng vào dự án?

Nếu tính hợp pháp của việc ký kết hợp đồng là vấn đề thứ nhất, thì việc thực hiện nghĩa vụ góp vốn là vấn đề thứ hai được các cổ đông Upexim đặc biệt quan tâm.

Theo hồ sơ khiếu nại, Tradeco có trách nhiệm góp 60 tỷ đồng vào dự án. Tuy nhiên, kết quả rà soát chứng từ mà phía Upexim viện dẫn cho thấy phần lớn số tiền này không được thực hiện thông qua các giao dịch chuyển tiền thực tế.

Trong tổng số 60 tỷ đồng được ghi nhận là góp vốn, chỉ khoảng 7,5 tỷ đồng được thể hiện bằng hình thức chuyển khoản. Phần còn lại chủ yếu được phản ánh thông qua các phiếu thu, phiếu chi tiền mặt.

Cụ thể, người khiếu nại cho rằng có 7 phiếu chi với tổng giá trị 22,7 tỷ đồng không có người ký nhận; 5 phiếu trị giá khoảng 22 tỷ đồng có người ký nhận nhưng không phải người của Upexim; 5 phiếu khác trị giá khoảng 7,8 tỷ đồng bị cho là không phản ánh giao dịch thực tế.

Vì vậy, các cổ đông của Upexim cho rằng các chứng từ này có dấu hiệu được lập khống để hợp thức hóa hồ sơ kế toán. Báo cáo kiểm toán mà phía Upexim viện dẫn cũng cho rằng việc ghi nhận các khoản tiền trên chưa bảo đảm một số quy định của pháp luật kế toán.

Đáng chú ý, tại trang 11 của Kết luận điều tra số 131/C03-P13 ngày 13-11-2018 do nguyên Phó thủ trưởng Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an (C03) - Thiếu tướng Nguyễn Duy Ngọc (nay là UVBCT - Trưởng ban tổ chức Trung ương) ký, nêu rõ: “Nguồn tiền mua tài sản số 4-6 Hồ Tùng Mậu (TP. Hồ Chí Minh) từ tiền vay Ngân hàng Vietcombank Vĩnh Lộc, Ngân hàng Quân đội... và đã tất toán khoản vay lần đầu”.

Còn tại kết luận điều tra bổ sung số 17/KLĐ-CSKT-P10 ngày 11-5-2021 do nguyên Phó thủ trưởng Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an - Thiếu tướng Nguyễn Văn Long (nay là Uỷ viên Trung ương Đảng, Thượng tướng, Thứ trưởng Bộ Công an) có đoạn nêu: “Từ ngày 25-1-2011 đến ngày 6-5-2011 Upexim đã thanh toán số tiền mua căn nhà này với tổng số tiền là 72.902.521.082 đồng. Nguồn gốc số tiền vay từ Ngân hàng TMCP Quân đội và Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam 64.754.431.082 đồng, còn là 8.148.090.000đ không xác định được nguồn gốc”.

Từ các tài liệu trên, phía khiếu nại cho rằng cần tiếp tục làm rõ nguồn tiền thực tế Tredeco dùng để mua tài sản số 4-6 Hồ Tùng Mậu, cũng như căn cứ xác định quyền lợi của Tradeco đối với khối tài sản này.

Đồng thời, dư luận và các cổ đông Upexim tiếp tục đặt câu hỏi: Với những căn cứ nêu trên liệu cơ sở pháp lý nào để Thẩm phán, Chủ tọa phiên toà sơ thẩm Phạm Lương Toản và thẩm phán Lê Công Huân cùng các hội thẩm nhân dân; Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà phúc thẩm Phan Thanh Tùng cùng các thẩm phán: Đinh Ngọc Thu Hương, Võ Văn Khoa áp dụng để xác định Tradeco được hưởng 50% quyền lợi đối với tài sản tại số 4-6 Hồ Tùng Mậu?

(Còn nữa)

Đọc tiếp

Mới nhất

Bài 1: Hợp đồng 002 - Liệu có giá trị pháp lý hay không?