Logo-print CƠ QUAN CỦA TRUNG ƯƠNG HỘI - TIẾNG NÓI CỦA CỰU CHIẾN BINH VIỆT NAM

Viện kiểm sát kháng nghị toàn bộ bản án tranh chấp đất đai tại Phú Thọ

VÕ HÓA • 04/11/2026 - 09:28

Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) khu vực 10 - Phú Thọ cho rằng, Tòa án cấp sơ thẩm chưa đánh giá đầy đủ quá trình đổi đất, quản lý, sử dụng đất trên thực tế và các giao dịch chuyển nhượng liên quan. Những thiếu sót trong đánh giá chứng cứ dẫn đến việc tuyên án các giao dịch vô hiệu, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự.

1793693384322_7875614285528769176_7875614285528769176_9ff114d77d7e98a46b6080bb2f96cd5a-0927
Ngôi nhà bà Thành xây dựng trên vị trí đất sau khi nhận đổi với ông Lập. Năm 2004, bà Thành chuyển nhượng cho bà Thắm, đến năm 2009, bà Thắm chuyển nhượng 1 phần cho bà Mùi - mẹ anh Kỳ.

Từ thỏa thuận đổi đất đến chuỗi giao dịch tranh chấp

VKSND khu vực 10 - Phú Thọ đã ban hành quyết định kháng nghị toàn bộ Bản án dân sự sơ thẩm số 81/2026/DS-ST ngày 10-9-2026 của TAND khu vực 10 - Phú Thọ về vụ án “Tranh chấp quyền sử dụng đất, tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, yêu cầu tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất là vô hiệu và yêu cầu trả đất, chấm dứt hành vi cản trở việc sử dụng đất”. Viện kiểm sát đề nghị, TAND tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm, sửa bản án sơ thẩm.

Theo quyết định kháng nghị, vấn đề trọng tâm cần xem xét là việc Tòa án cấp sơ thẩm đánh giá chưa đầy đủ các tài liệu, chứng cứ liên quan đến quá trình đổi vị trí đất giữa hai anh em ông Phùng Thế Lập và bà Phùng Thị Thành, cũng như quá trình quản lý, sử dụng đất và các giao dịch chuyển nhượng phát sinh sau đó.

Vụ án có nguyên đơn là bà Dương Thị Thắm (sinh năm 1969, trú tại xã Yên Lạc, Phú Thọ); bị đơn là ông Phùng Thế Lập (sinh năm 1961) và anh Phạm Văn Tuấn (sinh năm 1982), cùng trú tại xã Yên Lạc. Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập gồm bà Dương Thị Mùi (sinh năm 1960) và anh Nghiêm Xuân Kỳ (sinh năm 1987).

Nguồn gốc tranh chấp liên quan đến hai thửa đất số 367 và 449, cùng thuộc tờ bản đồ số 02, tại huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc trước đây, nay thuộc tỉnh Phú Thọ. Theo hồ sơ vụ án, năm 1991, ông Lập được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa số 367, diện tích 336m²; bà Thành được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa số 449, diện tích 218m². Hai thửa đất có nguồn gốc do bố mẹ chia cho các con.

Viện kiểm sát chỉ ra thiếu sót trong đánh giá chứng cứ

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 81/2026/DS-ST ngày 10-9-2026, TAND khu vực 10 - Phú Thọ không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Thắm và yêu cầu độc lập của bà Mùi, anh Kỳ; đồng thời chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Lập và anh Phạm Văn Tuấn. Tòa án tuyên giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 9-10-2004 giữa bà Thành và bà Thắm, cùng hợp đồng chuyển nhượng giữa bà Thắm và anh Kỳ là vô hiệu. Bản án còn đề cập việc thu hồi hai giấy chứng nhận đã cấp cho bà Thắm và anh Kỳ để thực hiện thủ tục cấp lại giấy chứng nhận cho những người được xác định có quyền sử dụng đất.

Về hậu quả của các giao dịch bị tuyên vô hiệu, bản án buộc anh Phạm Văn Tuấn có trách nhiệm sử dụng khối tài sản là quyền sử dụng 218m² đất thuộc thửa số 449, tờ bản đồ số 02, đứng tên bà Thành, để thanh toán cho bà Thắm 1,896 tỷ đồng, gồm tiền nhận chuyển nhượng và tiền bồi thường. Bà Thắm phải thanh toán cho anh Kỳ 948 triệu đồng, gồm tiền nhận chuyển nhượng và tiền bồi thường.

Sau khi nghiên cứu hồ sơ và bản án, VKSND khu vực 10 - Phú Thọ xác định Tòa án cấp sơ thẩm có vi phạm trong việc đánh giá chứng cứ, theo quy định tại Điều 108 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.Theo Viện kiểm sát, dù Tòa án đã thừa nhận có việc ông Lập và bà Thành đổi vị trí đất, nhưng khi xác định quyền sử dụng đất, bản án chủ yếu dựa vào giấy chứng nhận cấp năm 1991 và việc chưa đăng ký biến động, trong khi chưa đánh giá đầy đủ quá trình giao nhận, quản lý, sử dụng đất ổn định, công khai, liên tục trên thực tế.

Viện kiểm sát cho rằng những tình tiết này không thể bị xem nhẹ. Việc bà Thành xây dựng nhà trên phần đất nhận đổi, sử dụng trong thời gian dài mà ông Lập không phản đối là những dữ kiện cần được đặt trong tổng thể chứng cứ để làm rõ ý chí của các bên và bản chất giao dịch.Theo đó, tình tiết bà Thành và ông Lập đổi đất và sử dụng ổn định lâu dài trên thực tế là sự thật khách quan được các bên thừa nhận và đã được Tòa án xác minh trong quá trình giải quyết, do đó đây phải được coi là căn cứ quan trọng nhất để xác định quyền sử dụng đất của các cá nhân tham gia việc đổi đất.

Quyết định kháng nghị cũng chỉ ra rằng việc ông Lập và bà Thành tự nguyện đổi vị trí đất đã được các đương sự thừa nhận. Theo khoản 1 Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, những tình tiết, sự kiện được một bên thừa nhận hoặc không phản đối theo điều kiện luật định có thể không phải chứng minh. Vì vậy, trọng tâm cần làm rõ không chỉ là có hay không việc đổi đất dựa trên hồ sơ biến động của thửa đất, mà còn là giá trị pháp lý của thỏa thuận và hệ quả của quá trình thực hiện giao dịch trên thực tế.

Không thể chỉ căn cứ số thửa đất trên giấy tờ để xác định đối tượng chuyển nhượng

Một nội dung quan trọng khác trong quyết định kháng nghị là việc đánh giá giao dịch chuyển nhượng giữa bà Thành và bà Thắm ngày 9-10-2004. Theo hồ sơ, giấy chuyển nhượng không chỉ ghi diện tích mà còn mô tả vị trí, tứ cận và tài sản trên đất. Cụ thể, phía Đông giáp hộ bà Ái Hương, rộng 13,6m; phía Tây giáp đường làng, rộng 13,6m; phía Nam giáp hộ ông bà Hiển, Lập, dài 16m; phía Bắc giáp hộ ông bà Chí, Mùi, dài 16m. Trên đất có nhà cấp 4 gồm bốn gian và công trình phụ.

Theo Viện kiểm sát, những thông tin này có giá trị trong việc xác định chính xác phần đất mà các bên thực sự giao dịch. Đặc biệt, tại thời điểm chuyển nhượng, bà Thành đang trực tiếp quản lý, sử dụng phần đất đã nhận từ ông Lập sau khi hai bên đổi vị trí đất. Do đó, việc xác định đối tượng chuyển nhượng không thể chỉ dựa vào số thửa được ghi trong giấy chuyển nhượng, mà cần đối chiếu với diện tích, tứ cận, nhà ở, công trình trên đất và vị trí đất thực tế mà bà Thành quản lý, sử dụng. Theo Viện kiểm sát, Tòa án cấp sơ thẩm chưa làm rõ đầy đủ mối liên hệ giữa các tài liệu, chứng cứ này và giá trị chứng minh của từng tài liệu khi tuyên các giao dịch chuyển nhượng vô hiệu.

Đặc biệt là cách đánh giá chứng cứ trong bản án sơ thẩm chưa bảo đảm yêu cầu khách quan, toàn diện, đầy đủ và chính xác tại khoản 1, khoản 2 Điều 108 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Trên cơ sở những phân tích nêu trên, VKSND khu vực 10 - Phú Thọ căn cứ Điều 27 Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 và các điều 21, 57, 278, 279, 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 để kháng nghị toàn bộ Bản án dân sự sơ thẩm số 81/2026/DS-ST ngày 10-9-2026 của TAND khu vực 10 - Phú Thọ. Viện kiểm sát đề nghị TAND tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm, sửa bản án sơ thẩm theo hướng đã nêu trong quyết định kháng nghị.

Đọc tiếp

Mới nhất

Viện kiểm sát kháng nghị toàn bộ bản án tranh chấp đất đai tại Phú Thọ