Logo-print CƠ QUAN CỦA TRUNG ƯƠNG HỘI - TIẾNG NÓI CỦA CỰU CHIẾN BINH VIỆT NAM

Tổng kết 20 năm thực thi Pháp lệnh Cựu chiến binh và định hướng hoàn thiện trong giai đoạn mới

HỒ THANH HƯƠNG 25/03/2026 - 10:53

Ngày 25-3-2026, Ban Chấp hành Trung ương Hội Cựu chiến binh (CCB) Việt Nam tổ chức Hội nghị tổng kết thi hành Pháp lệnh Cựu chiến binh. Thượng tướng Bế Xuân Trường - Phó chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch Hội CCB Việt Nam chủ trì Hội nghị.

hnplccb5
Quang cảnh Hội nghị.
hnplccb7
Các đại biểu dự Hội nghị.

Tới dự Hội nghị có Thượng tướng Lê Quang Minh - Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị; Trung tướng Phùng Khắc Đăng - nguyên Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, nguyên Phó chủ tịch Hội CCB Việt Nam; đại diện lãnh đạo Văn phòng Trung ương Đảng; Ban Tổ chức Trung ương, Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương, Văn phòng Quốc hội, Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội, Vụ Pháp luật - Văn phòng Chính phủ, Bộ Công an, Bộ Tư pháp, Bộ Tài chính, Bộ Nội vụ, Bộ Y tế, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Trung ương Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Cục Pháp chế - Bộ Quốc phòng, Cục Pháp luật hình sự - hành chính và quản lý xử lý vi phạm hành chính - Bộ Tư pháp, Ban Dân chủ, giám sát và phản biện xã hội - Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Ngân hàng Chính sách xã hội; Hiệp hội Doanh nghiệp Doanh nhân CCB Việt Nam, Hội Luật gia Việt Nam.

Về phía Hội, tham dự Hội nghị có các đồng chí Phó chủ tịch Hội CCB Việt Nam: Thượng tướng Phạm Hồng Hương, Trung tướng Khuất Việt Dũng; các đồng chí Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Hội và đại diện lãnh đạo Ban Công tác CCB Trung ương Hội, Báo CCB Việt Nam và Làng Hữu nghị Việt Nam.

hnplccb6
Thượng tướng Bế Xuân Trường phát biểu khai mạc Hội nghị.

Phát biểu tại Hội nghị tổng kết 20 năm thực hiện Pháp lệnh Cựu chiến binh, Thượng tướng Bế Xuân Trường đã nhấn mạnh sâu sắc vai trò đặc biệt quan trọng của Pháp lệnh trong đời sống chính trị - xã hội của đất nước. Đồng chí khẳng định, việc ban hành Pháp lệnh năm 2005 là một dấu mốc có ý nghĩa chiến lược, thể hiện sự quan tâm sâu sắc của Đảng và Nhà nước đối với lực lượng CCB - những người đã trực tiếp cống hiến, hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc. Pháp lệnh đã cụ thể hóa đường lối, chủ trương của Đảng về phát huy vai trò của CCB trong giai đoạn cách mạng mới. Qua 20 năm triển khai, Pháp lệnh đã thực sự đi vào cuộc sống, trở thành nền tảng quan trọng để bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của CCB, đồng thời tạo điều kiện để lực lượng này tiếp tục phát huy bản chất truyền thống Bộ đội Cụ Hồ trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Đồng chí nhấn mạnh rằng, trong bối cảnh đất nước đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng, vai trò của CCB càng được khẳng định rõ nét. Không chỉ là lực lượng gương mẫu trong các phong trào thi đua yêu nước, CCB còn là chỗ dựa tin cậy của cấp ủy, chính quyền và nhân dân ở cơ sở; tích cực tham gia xây dựng Đảng, chính quyền trong sạch, vững mạnh; góp phần giữ vững ổn định chính trị - xã hội và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Thượng tướng cũng đánh giá cao những kết quả đạt được trong quá trình thực hiện Pháp lệnh, từ việc hoàn thiện hệ thống tổ chức Hội, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đến việc triển khai hiệu quả các chính sách an sinh xã hội đối với CCB. Những thành tựu đó không chỉ góp phần cải thiện đời sống vật chất, tinh thần của hội viên mà còn củng cố niềm tin của cựu chiến binh đối với Đảng và Nhà nước.

Tuy nhiên, đồng chí cũng thẳng thắn chỉ ra rằng, trước yêu cầu phát triển mới của đất nước, Pháp lệnh đã bộc lộ một số hạn chế cần được khắc phục. Do đó, việc tổng kết thực tiễn, đánh giá toàn diện và nghiên cứu xây dựng Luật Cựu chiến binh là nhiệm vụ cấp thiết. Đây không chỉ là yêu cầu về hoàn thiện thể chế mà còn là trách nhiệm chính trị nhằm tiếp tục phát huy vai trò to lớn của cựu chiến binh trong giai đoạn mới. Kết thúc bài phát biểu, Thượng tướng kêu gọi các cấp, các ngành và toàn thể cán bộ, hội viên CCB tiếp tục phát huy truyền thống vẻ vang, đoàn kết, đổi mới, sáng tạo, góp phần xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Đồng thời, đồng chí bày tỏ tin tưởng rằng, với sự quan tâm lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước và sự đồng thuận của toàn xã hội, công tác CCB trong thời gian tới sẽ tiếp tục đạt được nhiều kết quả quan trọng, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới.

Pháp lệnh Cựu chiến binh được Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành ngày 7-10-2005 là bước đi quan trọng nhằm thể chế hóa chủ trương của Đảng về công tác CCB trong thời kỳ mới. Văn bản này không chỉ xác lập cơ sở pháp lý cho việc ghi nhận vị trí, vai trò của lực lượng CCB trong đời sống chính trị - xã hội mà còn quy định rõ quyền, nghĩa vụ của họ; đồng thời định hình tổ chức và hoạt động của Hội CCB Việt Nam, cũng như trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức trong việc chăm lo, bảo đảm chính sách đối với lực lượng đã có nhiều đóng góp to lớn cho sự nghiệp cách mạng.

Sau hai thập niên triển khai, Pháp lệnh đã chứng minh giá trị thực tiễn sâu sắc khi trở thành nền tảng pháp lý quan trọng giúp phát huy vai trò của CCB trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đồng thời, văn bản này cũng góp phần bảo đảm quyền lợi chính đáng của CCB, củng cố tổ chức Hội ngày càng vững mạnh. Tuy nhiên, trước yêu cầu phát triển nhanh chóng của đất nước và sự hoàn thiện không ngừng của hệ thống pháp luật, một số quy định của Pháp lệnh đã bộc lộ những hạn chế, bất cập. Việc tổng kết 20 năm thực hiện vì vậy mang ý nghĩa đặc biệt quan trọng, nhằm đánh giá toàn diện kết quả đạt được, chỉ ra tồn tại và đề xuất hướng hoàn thiện pháp luật trong thời gian tới.

Trước hết, có thể khẳng định rằng công tác lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức triển khai Pháp lệnh đã được thực hiện nghiêm túc, đồng bộ trên phạm vi cả nước. Ngay sau khi ban hành, các cấp ủy đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội đã nhanh chóng vào cuộc, ban hành nhiều văn bản hướng dẫn thi hành, tạo nên một hệ thống pháp lý tương đối đầy đủ. Từ Trung ương đến địa phương, các cơ quan chức năng đã phối hợp chặt chẽ với Hội CCB để xây dựng kế hoạch thực hiện phù hợp với điều kiện thực tiễn. Sự vào cuộc đồng bộ này đã góp phần nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước, đồng thời bảo đảm việc thực hiện các chính sách đối với CCB đạt hiệu quả cao.

Cùng với đó, công tác tuyên truyền, phổ biến Pháp lệnh được triển khai rộng khắp với nhiều hình thức phong phú. Thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, các lớp tập huấn, hội nghị quán triệt, nội dung của Pháp lệnh đã được truyền tải sâu rộng đến cán bộ, hội viên và nhân dân. Nhờ vậy, nhận thức của toàn xã hội về vị trí, vai trò của CCB được nâng lên rõ rệt; đồng thời, trách nhiệm của các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện chính sách cũng được củng cố.

Đáng chú ý, Hội CCB các cấp đã phát huy tốt vai trò nòng cốt trong tham mưu và tổ chức thực hiện. Không chỉ tham gia xây dựng chính sách, Hội còn tích cực phối hợp triển khai các chương trình phát triển kinh tế - xã hội, các phong trào thi đua yêu nước. Qua đó, Hội trở thành cầu nối quan trọng giữa CCB với Đảng, Nhà nước và nhân dân, góp phần đưa các chủ trương, chính sách vào cuộc sống một cách hiệu quả.

Bên cạnh đó, công tác kiểm tra, giám sát cũng được chú trọng. Thông qua hoạt động này, nhiều vướng mắc trong thực hiện chính sách đã được phát hiện và kiến nghị xử lý kịp thời. Điều này không chỉ bảo đảm quyền lợi cho CCB mà còn góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả của Pháp lệnh trong thực tiễn.

Về kết quả cụ thể, công tác xác định và quản lý đối tượng CCB được thực hiện tương đối chặt chẽ, bảo đảm đúng đối tượng, đúng tiêu chuẩn. Sự phối hợp giữa các cơ quan chức năng và tổ chức Hội giúp quá trình rà soát, xác minh hồ sơ diễn ra công khai, minh bạch. Hiện nay, lực lượng CCB và cựu quân nhân lên tới hàng triệu người, trong đó phần lớn là hội viên Hội CCB Việt Nam, tạo nên một lực lượng xã hội có tổ chức, có kỷ luật và giàu kinh nghiệm.

Tổ chức Hội CCB cũng không ngừng được củng cố và phát triển. Hệ thống tổ chức phủ rộng khắp cả nước, từ Trung ương đến cơ sở, bảo đảm khả năng tập hợp, đoàn kết các thế hệ CCB. Đội ngũ cán bộ Hội từng bước được kiện toàn theo hướng tinh gọn, phù hợp với yêu cầu cải cách bộ máy của hệ thống chính trị.

Trong thực hiện nhiệm vụ, Hội đã đạt nhiều thành tựu nổi bật. Công tác giáo dục chính trị, tư tưởng được chú trọng, góp phần giữ vững bản chất và truyền thống Bộ đội Cụ Hồ. Các cấp Hội tích cực tham gia xây dựng Đảng, chính quyền, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Đồng thời, hội viên CCB cũng đi đầu trong các phong trào thi đua yêu nước, từ xây dựng nông thôn mới đến bảo vệ an ninh Tổ quốc, bảo vệ môi trường và chăm lo an sinh xã hội.

Đặc biệt, phong trào giúp nhau phát triển kinh tế đã đạt nhiều kết quả ấn tượng. Nhiều mô hình sản xuất, kinh doanh do CCB làm chủ đã mang lại hiệu quả cao, tạo việc làm cho hàng triệu lao động. Các chương trình tín dụng ưu đãi góp phần giúp nhiều hội viên thoát nghèo, vươn lên làm giàu chính đáng. Bên cạnh đó, hoạt động tư vấn pháp lý, bảo vệ quyền lợi hội viên cũng được đẩy mạnh, góp phần giải quyết hàng trăm nghìn vụ việc.

Các chính sách đối với CCB được triển khai khá toàn diện, từ hỗ trợ việc làm, tín dụng, bảo hiểm y tế đến chăm sóc sức khỏe và nhà ở. Nhờ đó, đời sống của hội viên ngày càng được cải thiện, tỷ lệ hộ nghèo giảm mạnh, nhiều địa phương không còn hộ CCB nghèo.

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả tích cực, việc thực hiện Pháp lệnh vẫn còn một số hạn chế. Trước hết, một số quy định đã không còn phù hợp với thực tiễn phát triển. Do được ban hành từ năm 2005, nhiều nội dung mang tính nguyên tắc, thiếu cụ thể, dẫn đến phụ thuộc vào văn bản dưới luật. Sự thiếu đồng bộ giữa các văn bản hướng dẫn cũng gây khó khăn trong triển khai.

Một số chính sách đối với CCB còn chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu thực tế, đặc biệt ở vùng sâu, vùng xa. Mức hỗ trợ còn thấp, thủ tục tiếp cận chính sách đôi khi còn phức tạp. Công tác xác nhận đối tượng ở một số nơi vẫn gặp khó khăn do thiếu hồ sơ lịch sử, gây chậm trễ trong giải quyết chế độ.

Ngoài ra, một số quy định về tổ chức và hoạt động của Hội chưa được thể chế hóa đầy đủ, nhất là trong bối cảnh sắp xếp bộ máy theo hướng tinh gọn. Vai trò của Hội trong giám sát, phản biện xã hội tuy đã được thực hiện nhưng chưa được quy định rõ ràng trong Pháp lệnh.

Những hạn chế này xuất phát từ cả nguyên nhân khách quan và chủ quan. Sự thay đổi nhanh chóng của bối cảnh kinh tế - xã hội, sự đa dạng của lực lượng CCB và quá trình cải cách hành chính là những yếu tố khách quan quan trọng. Bên cạnh đó, công tác rà soát, cập nhật chính sách chưa kịp thời; việc tổ chức thực hiện ở một số nơi còn thiếu đồng bộ; ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý còn hạn chế cũng là những nguyên nhân đáng chú ý.

Từ thực tiễn đó, việc xây dựng Luật Cựu chiến binh thay thế Pháp lệnh là yêu cầu tất yếu. Một đạo luật với hiệu lực pháp lý cao hơn sẽ tạo cơ sở vững chắc để bảo đảm quyền lợi của CCB, đồng thời khẳng định rõ hơn vai trò của lực lượng này trong hệ thống chính trị và đời sống xã hội.

Luật cần được xây dựng theo hướng toàn diện, đồng bộ và hiện đại. Trước hết, cần xác định rõ vị trí, vai trò của CCB, cũng như trách nhiệm của Nhà nước và xã hội đối với họ. Quyền và nghĩa vụ của CCB phải được quy định cụ thể, gắn với các chính sách phù hợp với điều kiện phát triển của đất nước. Tổ chức và hoạt động của Hội CCB cần được thể chế hóa rõ ràng, tạo điều kiện để Hội phát huy vai trò đại diện, bảo vệ quyền lợi hội viên. Đồng thời, cần hoàn thiện hệ thống chính sách an sinh xã hội, chăm sóc sức khỏe, hỗ trợ việc làm và phát triển kinh tế cho CCB. Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý, thống kê và thực hiện chính sách cũng cần được đẩy mạnh, nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước.

Có thể nói, sau 20 năm thực hiện, Pháp lệnh Cựu chiến binh đã hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình, góp phần quan trọng vào việc phát huy vai trò của lực lượng CCB trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tuy nhiên, trước yêu cầu mới của thời kỳ phát triển, việc nâng cấp Pháp lệnh thành Luật không chỉ là nhu cầu khách quan mà còn là bước đi cần thiết để tiếp tục khẳng định và phát huy giá trị của một lực lượng đã và đang đóng góp bền bỉ cho đất nước. 

dsc_9769-1040
Thượng tướng Bế Xuân Trường và Thượng tướng Phạm Hồng Hương trao Bằng khen cho các tập thể có thành tích xuất sắc trong việc thực hiện Pháp lệnh Cựu chiến binh giai đoạn từ năm 2005 - 2025.
dsc_9777-1040
Thượng tướng Bế Xuân Trường và Trung tướng Khuất Việt Dũng trao Bằng khen cho các tập thể có thành tích xuất sắc trong việc thực hiện Pháp lệnh Cựu chiến binh giai đoạn từ năm 2005 - 2025.
dsc_9787-1040
Thượng tướng Bế Xuân Trường và Thượng tướng Phạm Hồng Hương trao Bằng khen cho các tập thể có thành tích xuất sắc trong việc thực hiện Pháp lệnh Cựu chiến binh giai đoạn từ năm 2005 - 2025.

Tại Hội nghị, Trung ương Hội CCB Việt Nam tặng Bằng khen cho 33 tập thể và có thành tích xuất sắc trong việc thực hiện Pháp lệnh Cựu chiến binh giai đoạn từ năm 2005 - 2025.

TRUNG TƯỚNG PHÙNG KHẮC ĐĂNG PHÁT BIỂU TẠI HỘI NGHỊ:

hnplccb4

Xuất phát từ kinh nghiệm thực tiễn nhiều năm công tác tại Trung ương Hội CCB Việt Nam, đồng chí cho rằng, qua hai thập niên triển khai, Pháp lệnh Cựu chiến binh đã hoàn thành tốt vai trò lịch sử của mình, song trước yêu cầu phát triển mới, việc nâng cấp Pháp lệnh lên thành Luật là hết sức cần thiết và mang tính tất yếu.

Tuy nhiên, thực tiễn thi hành đã chỉ ra không ít tồn tại, hạn chế của Pháp lệnh, từ phạm vi điều chỉnh, mức độ cụ thể của các quy định đến tính đồng bộ với hệ thống pháp luật hiện hành. Những bất cập này nếu không được khắc phục kịp thời sẽ ảnh hưởng đến hiệu quả thực hiện chính sách, cũng như việc phát huy vai trò của cựu chiến binh trong đời sống xã hội. Do đó, việc xây dựng Luật Cựu chiến binh không chỉ nhằm nâng cao hiệu lực pháp lý mà còn là giải pháp căn cơ để hoàn thiện thể chế, đáp ứng yêu cầu thực tiễn.

Quá trình xây dựng Luật cần được tiến hành một cách thận trọng, khoa học và toàn diện. Việc tổng kết thực tiễn phải sâu sắc, khách quan và bảo đảm sự thống nhất với các luật liên quan. Đặc biệt, hồ sơ xây dựng Luật cần được chuẩn bị kỹ lưỡng, có luận cứ vững chắc, bảo đảm tính thuyết phục cao để trình Quốc hội xem xét, thông qua. Đồng chí bày tỏ tin tưởng rằng, nếu được chuẩn bị chu đáo và tổ chức thực hiện hiệu quả, Luật Cựu chiến binh sẽ trở thành nền tảng pháp lý vững chắc, góp phần tiếp tục phát huy vai trò, vị thế của lực lượng cựu chiến binh trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn mới.

THIẾU TƯỚNG HỒ BÁ VINH - PHÓ BAN CÔNG TÁC CCB TRUNG ƯƠNG HỘI:

hnplccb3

Sau 20 năm triển khai thực hiện Pháp lệnh Cựu chiến binh, hệ thống chế độ, chính sách và quyền lợi đối với CCB từng bước được hoàn thiện và triển khai tương đối đồng bộ. Nhận thức của cán bộ, hội viên về nghĩa vụ, trách nhiệm chính trị không ngừng được nâng lên; bản chất, truyền thống Bộ đội Cụ Hồ tiếp tục được phát huy mạnh mẽ. Qua đó, tổ chức Hội CCB Việt Nam ngày càng vững mạnh toàn diện, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, xứng đáng là lực lượng chính trị nòng cốt, tin cậy của Đảng, chính quyền và là cầu nối bền chặt giữa Đảng, Nhà nước với Nhân dân.

Đạt được những kết quả đó trước hết là nhờ sự lãnh đạo, chỉ đạo sâu sát của Ban Chấp hành Trung ương Hội, trực tiếp là Đảng đoàn, Đảng ủy và Thường trực Trung ương Hội CCB Việt Nam. Các cơ quan lãnh đạo đã đề cao trách nhiệm chính trị, tổ chức quán triệt và triển khai Pháp lệnh một cách nghiêm túc, hiệu quả. Công tác tuyên truyền, giáo dục được thực hiện rộng khắp với nhiều hình thức linh hoạt như hội nghị, sinh hoạt chi bộ, chi hội, tập huấn cán bộ, truyền thông đại chúng... góp phần nâng cao nhận thức xã hội và tạo sự thống nhất trong thực hiện. Đồng thời, công tác tham mưu, phối hợp với các bộ, ngành và địa phương được triển khai chặt chẽ nhằm xây dựng hệ thống văn bản hướng dẫn thi hành, bảo đảm tính đồng bộ và thống nhất. Nhiều nghị định, quyết định quan trọng về chế độ, chính sách đã được ban hành, tạo hành lang pháp lý vững chắc cho việc chăm lo đời sống cựu chiến binh.

Đặc biệt, Hội đã chủ động ban hành nhiều nghị quyết chuyên đề về xây dựng tổ chức, phát triển đội ngũ cán bộ và thực hiện chính sách. Công tác kiểm tra, giám sát, sơ kết, tổng kết cũng được duy trì thường xuyên, qua đó kịp thời điều chỉnh, bổ sung chính sách phù hợp với thực tiễn.

Từ những kết quả đạt được, việc tiếp tục nghiên cứu xây dựng Luật Cựu chiến binh được xác định là yêu cầu tất yếu, nhằm nâng cao hiệu lực pháp lý, hoàn thiện hệ thống chính sách và phát huy tốt hơn vai trò của cựu chiến binh trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.

ĐỒNG CHÍ PHẠM MINH CHÍNH - PHÓ BAN CÔNG TÁC CCB TP. HÀ NỘI:

hnplccb2

Từ thực tiễn cơ sở, đặc biệt là công tác chăm lo chế độ, chính sách đối với CCB, trong thời gian tới cần tiếp tục hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực hiện các chính sách đối với thương binh, bệnh binh - những đối tượng chịu nhiều hy sinh, mất mát. Đồng thời, cần quan tâm hơn đến việc thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo đảm quyền lợi lâu dài và bền vững cho hội viên.

Bên cạnh đó, cần tăng cường nguồn lực tài chính cho hoạt động của Hội CCB các cấp, đặc biệt là cấp xã - nơi trực tiếp triển khai các nhiệm vụ công tác Hội. Trong bối cảnh địa bàn quản lý ngày càng mở rộng theo mô hình chính quyền địa phương hai cấp, việc tăng kinh phí và trao quyền chủ động sử dụng kinh phí cho cơ sở là hết sức cần thiết, giúp cán bộ Hội nâng cao hiệu quả hoạt động.

Về tổ chức bộ máy, cần nghiên cứu rõ hơn về diện bổ nhiệm chức danh Chủ tịch, Phó Chủ tịch Hội Cựu chiến binh cấp xã, bảo đảm phù hợp với yêu cầu thực tiễn và tính đặc thù của tổ chức Hội.

Việc nghiên cứu mở rộng đối tượng kết nạp hội viên, đồng thời làm rõ khái niệm “CCB” và “hội viên CCB” nhằm bảo đảm tính chặt chẽ, minh bạch trong tổ chức. Ngoài ra, nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Hội cần được hoàn thiện theo hướng phù hợp với quá trình sắp xếp bộ máy, bảo đảm sự thống nhất khi tổ chức Hội trực thuộc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong mô hình chính quyền địa phương hai cấp.

ĐỒNG CHÍ DƯƠNG CÔNG HIỆP - CHỦ TỊCH HỘI CCB TỈNH LÂM ĐỒNG:

hnplccb1

Trong quá trình triển khai thực hiện Pháp lệnh Cựu chiến binh, công tác tổ chức và xây dựng đội ngũ cán bộ Hội luôn giữ vai trò then chốt, góp phần bảo đảm việc thực thi chính sách và phát huy hiệu quả hoạt động của Hội các cấp. Thực tiễn cho thấy, hệ thống tổ chức Hội CCB đã từng bước được củng cố, kiện toàn; đội ngũ cán bộ từ Trung ương đến cơ sở ngày càng trưởng thành, đáp ứng tốt hơn yêu cầu nhiệm vụ. Thông qua đó, các chính sách đối với CCB được triển khai tương đối đồng bộ, góp phần nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho hội viên.

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, công tác tổ chức và nhân sự vẫn còn bộc lộ một số hạn chế. Ở một số địa phương, việc bố trí cán bộ Hội, đặc biệt là chức danh Chủ tịch, Phó Chủ tịch cấp cơ sở còn chưa kịp thời, nhất là trong bối cảnh thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Nhận thức đối với cán bộ CCB xã, phường còn đơn giản, có nơi bị coi nhẹ. Tại Lâm Đồng, cán bộ Hội CCB cấp xã, phường có 109 công chức, chỉ có 15 là sĩ quan nghỉ hưu. Trình độ, năng lực của đội ngũ cán bộ Hội chưa đồng đều, nhất là tại vùng sâu, vùng xa, ảnh hưởng đến chất lượng tham mưu và tổ chức thực hiện nhiệm vụ. Ngoài ra, cơ chế phối hợp giữa các cơ quan trong triển khai chính sách đôi khi còn thiếu chặt chẽ, dẫn đến hiệu quả chưa cao.

Từ thực tiễn đó, yêu cầu xây dựng Luật Cựu chiến binh trở nên cấp thiết nhằm hoàn thiện cơ sở pháp lý cho công tác tổ chức và hoạt động của Hội. Luật cần quy định rõ hơn về vị trí, vai trò của Hội trong hệ thống chính trị; đồng thời xác định cụ thể cơ chế tổ chức bộ máy, tiêu chuẩn, chế độ, chính sách đối với cán bộ Hội các cấp. Bên cạnh đó, Luật cần bổ sung quy định về mô hình tổ chức Hội phù hợp với thực tiễn sắp xếp bộ máy hiện nay, đặc biệt trong điều kiện Hội hoạt động trong hệ thống trực thuộc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Đồng thời, cần làm rõ cơ chế quản lý, sử dụng kinh phí, cũng như trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức trong việc bảo đảm điều kiện hoạt động cho Hội.

Việc xây dựng Luật Cựu chiến binh không chỉ nhằm nâng cao hiệu lực pháp lý mà còn tạo nền tảng vững chắc để kiện toàn tổ chức, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, qua đó phát huy tốt hơn vai trò của CCB trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.

ĐỒNG CHÍ TRƯƠNG CHÍ LĂNG - CHỦ TỊCH HỘI CCB THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG:

dsc_9752

Nội dung đề xuất xây dựng Luật Cựu chiến binh tập trung vào hoàn thiện cơ chế tổ chức, chính sách và bảo đảm nguồn lực nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của Hội trong tình hình mới. Trước hết, Luật cần quy định rõ hơn nhiệm vụ tập hợp cựu quân nhân, đồng thời xác định cụ thể trách nhiệm phối hợp giữa Hội CCB và cơ quan quân sự địa phương. Thực tiễn cho thấy việc giao Hội chủ trì như hiện nay còn nhiều bất cập, do đó cần giao cơ quan quân sự địa phương chủ trì quản lý lực lượng này, bảo đảm tính thống nhất, sau đó phối hợp với Hội để vận động tham gia khi đủ điều kiện.

Bên cạnh đó, cần có quy định Nhà nước bố trí ngân sách thường xuyên cho hoạt động của Câu lạc bộ Cựu quân nhân và Ban liên lạc truyền thống. Đây là những tổ chức thực hiện nhiệm vụ chính trị quan trọng ở cơ sở nên không thể vận hành theo cơ chế tự chủ tài chính như các hội thông thường. Đồng thời, Luật cần luật hóa cơ chế phối hợp giữa Hội CCB, Đoàn Thanh niên và cơ quan quân sự trong giáo dục truyền thống cách mạng cho thế hệ trẻ, xác định rõ trách nhiệm và nguồn lực bảo đảm.

Một yêu cầu quan trọng khác là mở rộng phương thức tập hợp quần chúng, phù hợp với bối cảnh chuyển đổi số, kết hợp giữa hình thức truyền thống và ứng dụng công nghệ, mạng xã hội. Đồng thời, cần nâng cao chế độ, phụ cấp cho cán bộ Hội không chuyên trách, nhất là ở cấp cơ sở, nhằm bảo đảm nguồn lực con người.

Luật cũng cần quy định cụ thể thời hạn giải quyết chế độ, đặc biệt là mai táng phí, tránh tình trạng kéo dài gây bức xúc. Đồng thời, cần bổ sung chính sách công nhận thời gian phục vụ quân đội vào thời gian công tác liên tục, bảo đảm quyền lợi và tạo động lực cho thanh niên thực hiện nghĩa vụ quân sự.

ĐỒNG CHÍ HOÀNG MẠNH LONG - CHỦ TỊCH HỘI CCB TỈNH SƠN LA:

dsc_9757-1048

Trong thực tiễn tổ chức và hoạt động, một vấn đề nổi lên là yêu cầu bảo đảm tính độc lập tương đối của Hội Cựu chiến binh trong mối quan hệ với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Mặc dù Hội là tổ chức thành viên của Mặt trận, song việc vừa bảo đảm sự lãnh đạo thống nhất, vừa phát huy tính chủ động, linh hoạt của Hội trong thực hiện nhiệm vụ chính trị ở cơ sở còn gặp không ít khó khăn. Đặc biệt, trong công tác phối hợp, hiệp thương về tổ chức và cán bộ, giữa các bên đôi khi chưa có sự thống nhất cao, dẫn đến lúng túng trong bố trí, sử dụng đội ngũ cán bộ Hội.

Một bất cập đáng chú ý là chủ trương cơ cấu Chủ tịch Hội CCB cấp xã, phường tham gia cấp ủy đã được xác định rõ, nhằm phát huy vai trò chính trị của lực lượng này. Tuy nhiên, trên thực tế, ở một số địa phương, nhiều trường hợp không được đưa vào cấp ủy với lý do “quá tuổi”, dù vẫn bảo đảm năng lực, uy tín và kinh nghiệm thực tiễn. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến vị thế của tổ chức Hội mà còn làm giảm hiệu quả tham gia lãnh đạo, chỉ đạo công tác tại cơ sở.

Bên cạnh đó, quy định về độ tuổi cán bộ và chế độ chính sách liên quan chưa thật sự thống nhất, đồng bộ, gây khó khăn trong quá trình triển khai. Việc thiếu một khung pháp lý rõ ràng khiến các địa phương áp dụng khác nhau, dẫn đến tình trạng không đồng đều trong bố trí cán bộ Hội.

Một vấn đề khác là khối lượng công việc của cán bộ Hội ở cơ sở ngày càng lớn. Thực tế, nhiều Chủ tịch Hội CCB cấp xã, phường đồng thời đảm nhiệm chức danh Phó Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc cùng cấp, dẫn đến quá tải trong công việc. Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng, hiệu quả hoạt động của cả hai vị trí, đòi hỏi cần có sự điều chỉnh hợp lý về tổ chức, phân công nhiệm vụ và chế độ chính sách nhằm bảo đảm tính bền vững trong hoạt động của hệ thống.

Đọc tiếp

Mới nhất

Tổng kết 20 năm thực thi Pháp lệnh Cựu chiến binh và định hướng hoàn thiện trong giai đoạn mới