Logo-print CƠ QUAN CỦA TRUNG ƯƠNG HỘI - TIẾNG NÓI CỦA CỰU CHIẾN BINH VIỆT NAM

Nhớ về Tiểu đoàn K200

 PHẠM THÚY HẬU 17/08/2026 - 07:16

Ngày 20-9-1966, tại bản Lũng, xã Tân Lập, huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái (cũ), 200 thanh niên là con em đồng bào các dân tộc thiểu số trong huyện lên đường đánh Mỹ. Sau khi tập trung giao quân ở huyện, tất cả lên những chiếc xe ca chạy suốt trong đêm đến ga Yên Bái để hành quân tiếp.

ntkq-1657-1-0714
CCB Tiểu đoàn K200 và các đại biểu dự Đại hội Hội TT Trường Sơn - Đường Hồ Chí Minh, huyện Lục Yên, Yên Bái (cũ).

Gần một tuần, từ điểm xuất phát, họ đến đơn vị huấn luyện. Đó là Tiểu đoàn 2B, Trung đoàn 2B, Sư đoàn 250 (Sư đoàn 304B), Quân khu Việt Bắc. Tại đây, anh em tập luyện suốt ngày giữa cái nắng gay gắt ở thao trường. Đêm vẫn dành thời gian tập luyện.

Ngày 9-4-1967, tại Sở chỉ huy Trung đoàn 1, Sư đoàn 250, Trung tá, Trung đoàn trưởng Hồ Nhĩ Quang xúc động nhận lá cờ giải phóng từ tay Thiếu tướng Bằng Giang - Phó Tư lệnh Quân khu và nhận lệnh lên đường ra trận. Sau ba tháng hành quân vượt đèo, lội suối, trải qua bao gian nan vất vả, ngày 3-7-1967 đơn vị đã đến Bình Trị Thiên. Và từ đây, Tiểu đoàn 2B trở thành một đơn vị của Quân Giải phóng miền Nam mang tên K200.

Các chiến sĩ hầu hết là con em đồng bào dân tộc thiểu số thật thà, cần cù, có tính kỉ luật cao, rất phù hợp với nhiệm vụ “Bám trụ” ở nơi có nhiều gian khổ, hy sinh. Tiểu đoàn nhận nhiệm vụ tại T11, nhiệm vụ chính là gùi hàng chi viện cho các hướng của chiến trường Trị Thiên. T11 nằm trên đèo Ba Đính (quân ta thường gọi là Dốc Bà Định), là nơi đầu nguồn của con sông Hinh. K200 cùng với một số tiểu đoàn của Trị Thiên - Huế được chia thành các trạm theo số lẻ từ T1 đến T19.

Đơn vị sống gần địch, mọi động thái đều bị Mỹ, Ngụy theo dõi nên phải tuyệt đối giữ bí mật để bảo đảm an toàn khi thực hiện nhiệm vụ. Địa bàn vô cùng hiểm trở, toàn rừng núi, dốc đá lởm chởm, gai sắc nhọn, trơn trượt. Mọi người phấn đấu mang 35kg/người rồi đến 50 kg/người. Có người khỏe hơn thường mang được từ 50 đến 75kg (gồm súng DKB, đạn, thuốc nổ TNT, và các loại đạn cối, DKZ 82...). Với khẩu hiệu “Đi vàng về ngọc”, có nghĩa là khi đi gùi vũ khí, khi về chuyển thương binh ra. Cứ ba người thay nhau cáng một thương binh về trạm xá chữa trị, sau đó chuyển các đồng chí thương binh nặng ra Bắc. Lúc xuất phát là sáng sớm, khi về là chiều tối. Bất chấp thời tiết khắc nghiệt hay những cơn sốt rét rừng, đơn vị vẫn lên đường.

Địa bàn hoạt động của K200 rộng, luôn bị pháo địch ở các cứ điểm Đầu Mầu, Dốc Miến, Cồn Tiên, Cam Lộ, Gio Linh bắn chặn. Máy bay Mỹ ngày đêm bắn phá, rải chất độc hoá học. Mặt khác, địch cho quân do thám, biệt kích chặn quân ta ở các ngả đường, khi phát hiện thấy quân giải phóng là chúng phát tín hiệu gọi máy bay oanh tạc, đổ quân vây bắt... Do đó, hoạt động của cán bộ, chiến sĩ K200 hết sức lặng lẽ, bí mật khi bám sát các trọng điểm đường số 9.

Một lần Tiểu đội của đồng chí Hứa Kim Bích, thuộc T15 gồm 8 chiến sĩ người Lục Yên, hai chiến sĩ người Nghệ An, một chiến sĩ là người dân tộc Tà ôi (ThừaThiên - Huế) đang trên đường làm nhiệm vụ thì bị quân địch phát hiện. Quân ta đã dũng cảm chiến đấu tiêu diệt được một tiểu đội của địch. Cay cú, Mỹ cho máy bay B52 đánh bom thẳng vào vị trí của tiểu đội, hòng tiêu diệt lực lượng của ta. Đơn vị rút sâu vào hang đá. Quân địch bắn như vãi đạn cối xuống hang. Các chiến sĩ của ta đánh trả quyết liệt, địch điên cuồng thả hàng chục quả bom lấp hang. 11 chiến sĩ trong tiểu đội đã hy sinh anh dũng.

Sau Tết Mậu Thân 1968, một nửa Tiểu đoàn K200 tham gia chiến đấu ở mặt trận Nam Lào, một nửa ở lại tham gia chiến đấu chống địch càn quét.

Cuối năm 1971, đồng chí Hoàng Kim Quế và một số đồng chí xung phong đến Tiểu đoàn 804, mật danh là K4 - nơi bộ đội ta gọi là “ K Tử” bởi mức độ nguy hiểm, gian khổ khi thực hiện nhiệm vụ. Không quản ngại gian khổ hy sinh, rất nhiều chiến sĩ vẫn xung phong về đơn vị để được chiến đấu.

Trận đánh tại đỉnh Ba Mỏm (đường 14) là trận đánh hết sức ác liệt. Địch gài mìn hướng khắp nơi. Quân ta tấn công từ ba hướng: Bắc - Trung - Nam. Công sự được đào suốt ngày đêm. Đào đến đâu ngụy trang kín đến đó. Dọc đường phải xử lí mìn định hướng Cờ - rơ - mo quay về phía địch. Bộ đội công binh của ta đã rất dũng cảm, cẩn trọng, vì chỉ sơ sểnh một chút là tổn thất rất lớn. Sau 30 phút chiến đấu, quân ta đã chiếm được đỉnh Ba Mỏm. Ba hướng tấn công gặp nhau trên đỉnh Ba Mỏm. Trong trận này có ba đồng chí đã anh dũng hy sinh là đồng chí Hoa, Tuyên (Hà Nội) và đồng chí Huynh (Thái Bình).

Trận đánh thứ hai diễn ra tại Cao điểm 560, đường lên Bạch Mã. Đồng chí Thân Trọng Một ra lệnh đánh theo chiến thuật: Đánh lướt - đánh tảo trừ (đánh kĩ), thu dọn chiến trường. Lần này quân ta đã bắt sống Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn Bảo an dân vệ.

Sau trận đánh ngày 26-3-1975, Thừa Thiên Huế hoàn toàn giải phóng. Tiểu đoàn K200 nhận lệnh tiến sâu vào phía Nam. Đã có rất nhiều đồng chí hy sinh trên dải Trường Sơn, cửa ngõ Sài Gòn.

Chiến thắng 30-4-1975 in đậm dấu son lịch sử chói lọi, hai miền Nam Bắc được nối liền một dải. Tiểu đoàn K200 là một trong những đơn vị anh hùng, góp phần làm nên nốt nhạc trong bài ca chiến thắng oanh liệt, đáng tự hào đó.

Đọc tiếp

Mới nhất

Nhớ về Tiểu đoàn K200