Logo-print CƠ QUAN CỦA TRUNG ƯƠNG HỘI - TIẾNG NÓI CỦA CỰU CHIẾN BINH VIỆT NAM

Ung thư gan nguyên phát và những bước tiến đột phá trong điều trị

Bài và ảnh: Hoàng Hà 29/01/2026 - 21:36

Ung thư gan (UTG) là một bệnh lý ác tính xảy ra khi các tế bào tại gan bị đột biến, dẫn đến sự phát triển không kiểm soát và hình thành nên các khối u. Những khối u này phá hủy nhu mô gan lành, cản trở các chức năng quan trọng của gan, có thể di căn đến các cơ quan khác.

bac-si-dang-van-khiem-kham-cho-benh-nhan
Bác sĩ Đặng Văn Khiêm khám cho bệnh nhân.

Bác sĩ Chuyên khoa II Đặng Văn Khiêm - nguyên Trưởng khoa Ung bướu, Bệnh viện Phổi Trung ương cho biết: “Tùy vào loại tế bào khởi phát mà có các tên gọi khác nhau như: Ung thư biểu mô tế bào gan (HCC) là loại phổ biến nhất (chiếm khoảng 80%), phát sinh trực tiếp từ các tế bào gan chính. Thứ hai là ung thư đường mật trong gan, bắt đầu từ các ống nhỏ dẫn mật bên trong gan. Thứ ba là u nguyên bào gan. Thứ tư là u mạch máu ác tính bắt nguồn từ các mạch máu trong gan. Tại Việt Nam, dịch tễ học của bệnh UTG phản ánh một gánh nặng y tế rất lớn. UTG là một căn bệnh phổ biến và là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu trong số các loại ung thư. UTG hiện là loại ung thư có tỷ lệ tử vong cao nhất tại Việt Nam”.

Theo các báo cáo gần đây, mỗi năm có khoảng 24.000 - 26.000 ca mắc mới UTG và số ca tử vong cũng xấp xỉ con số này (khoảng 23.300 ca). Nam giới có nguy cơ mắc cao gấp 3 đến 4,5 lần so với nữ giới. Bệnh đang có xu hướng trẻ hoá. Khoảng 70% bệnh nhân UTG đến bệnh viện ở giai đoạn muộn (khối u đã lớn, xâm lấn hoặc di căn), khiến việc điều trị triệt căn trở nên khó khăn.

Có nhiều nguyên nhân gây bệnh UTG, trong đó những yếu tố làm tăng đáng kể nguy cơ mắc bệnh cụ thể:

- Yếu tố viêm gan virus mạn tính, đây là nguyên nhân phổ biến nhất, chiếm khoảng 80% các ca UTG tại Việt Nam. Viêm gan B (HBV), người nhiễm virus viêm gan B có nguy cơ mắc UTG cao gấp 200 lần người bình thường. Virus này có thể trực tiếp làm biến đổi DNA của tế bào gan, dẫn đến ung thư ngay cả khi chưa bị xơ gan. Viêm gan C (HCV), thường gây viêm gan mạn tính và tiến triển thành xơ gan, từ đó dẫn đến ung thư.

- Yếu tố do xơ gan, đây là “tiền thân” của hầu hết các ca UTG. Xơ gan có thể do rượu bia, viêm gan virus hoặc gan nhiễm mỡ.

- Do độc tố Aflatoxin, đây là chất gây ung thư cực mạnh có trong nấm mốc (thường xuất hiện ở lạc, ngô, ngũ cốc bị hỏng). Aflatoxin có khả năng gây đột biến gen p53 - một gen quan trọng giúp ngăn ngừa ung thư.

- Do bệnh lý nền như tiểu đường tuýp 2, các bệnh chuyển hóa di truyền, suy giảm miễn dịch.

Theo Bác sĩ Khiêm, trong giai đoạn đầu, UTG thường tiến triển rất âm thầm vì gan là một cơ quan có khả năng bù trừ tốt. Rối loạn tiêu hóa, người bệnh chán ăn, ăn không ngon, đặc biệt là sợ các món nhiều dầu mỡ. Đầy bụng, khó tiêu, có thể buồn nôn nhẹ, mệt mỏi và suy nhược, sụt cân đây là hệ quả của việc chức năng gan suy giảm. Đau âm ỉ vùng hạ sườn phải, vàng da, vàng mắt, màu da hoặc củng mạc mắt chuyển sang sắc vàng nhạt. Đây là do nồng độ Bilirubin trong máu tăng cao khi gan bị tổn thương. Nước tiểu có màu như nước chè đặc. Phân có thể chuyển sang màu xám hoặc bạc màu. Ngứa da, cảm giác ngứa ngáy khắp người nhưng không có phát ban hay dị ứng. Nguyên nhân là do acid mật tích tụ trong máu và lắng đọng dưới da khi đường mật bị khối u chèn ép. Ở giai đoạn muộn hơn có thể gặp dịch trong ổ bụng, đau thường xuyên hơn, xuất huyết, vàng da, vàng mắt, cơ thể suy kiệt... và xuất hiện các triệu chứng di căn cơ quan khác (phổi, não, xương...).

Hiện nay, có các chẩn đoán bệnh UTG như: Chẩn đoán hình ảnh, chụp CT hoặc MRI có thuốc tương phản, giúp xác định chính xác kích thước, vị trí và “tính chất mạch máu” của khối u, đây là dấu hiệu đặc trưng để chẩn đoán UTG; siêu âm gan, công cụ tầm soát đầu tay, rẻ và an toàn; Sinh thiết gan, bác sĩ dùng kim nhỏ lấy một mẫu mô gan để làm xét nghiệm mô bệnh học; Xét nghiệm máu, đây là xét nghiệm phổ biến nhất. Tuy nhiên, AFP đơn lẻ có thể gây âm tính giả; bộ ba Marker (AFP, AFP-L3 và PIVKA-II), việc kết hợp cả 3 chỉ số này giúp nâng cao độ nhạy, phát hiện khối u ngay cả khi AFP bình thường; Sinh thiết lỏng, đây là bước tiến lớn nhất. Thay vì chọc kim vào gan, bác sĩ chỉ cần lấy một mẫu máu ngoại vi để tìm là ctDNA (DNA tự do của khối u), các đoạn mã gen của tế bào ung thư rơi vào máu; CTC (tế bào khối u lưu thông), phát hiện trực tiếp tế bào ung thư đang di chuyển máu. Ưu điểm, không xâm lấn, có thể thực hiện nhiều lần để theo dõi hiệu quả điều trị hoặc phát hiện tái phát sớm.

Người ta đã áp dụng trí tuệ nhân tạo AI trong chẩn đoán UTG. Các thuật toán Deep Learning hiện nay được tích hợp vào máy chụp CT/MRI để phân tích các thay đổi siêu nhỏ của nhu mô gan mà mắt thường khó nhận ra. AI giúp phân loại khối u lành tính hay ác tính với độ chính xác trên 90%, giảm thiểu việc sinh thiết gan.

Hệ thống phân loại BCLC (Barcelona Clinic Liver Cancer) dựa trên 3 yếu tố là đặc điểm khối u, số lượng u, kích thước và việc khối u đã xâm lấn vào mạch máu hay di căn xa chưa. Chức năng gan đánh giá gan còn hoạt động tốt không (thông qua xét nghiệm máu và tình trạng cổ trướng). Tình trạng sức khỏe toàn thân (theo chỉ số ECOG), UTG được phân làm các giai đoạn 0 (rất sớm), A, B, C, D.

Thời gian gần đây, điều trị UTG có nhiều tiến bộ quan trọng, trong đó, phương pháp điều trị triệt căn (cơ hội chữa khỏi), áp dụng cho giai đoạn sớm (0, A), khi chức năng gan còn tốt. Phẫu thuật cắt gan, cắt bỏ phần gan chứa khối u. Hiện nay, phẫu thuật nội soi hoặc phẫu thuật robot đang trở nên phổ biến, giúp vết mổ nhỏ, ít đau và nhanh hồi phục. Ghép gan, đây là phương pháp tối ưu nhất vì vừa loại bỏ khối u, vừa thay thế lá gan bị xơ bằng gan khỏe mạnh. Đốt u bằng sóng cao tần hoặc vi sóng với khối u nhỏ hơn 3cm.

Phương pháp điều trị tại chỗ - tại vùng, áp dụng cho giai đoạn trung gian (B), khi u lớn hoặc nhiều u nhưng chưa di căn xa. Nút mạch hóa chất (TACE), xạ trị trong chọn lọc, đưa các hạt vi cầu phóng xạ trực tiếp vào mạch máu để nuôi u. Điều trị toàn thân, áp dụng cho giai đoạn tiến triển (C) hoặc khi u đã di căn. Liệu pháp nhắm trúng đích, sử dụng các loại thuốc uống (như Sorafenib, Lenvatinib). Liệu pháp miễn dịch, các loại thuốc (như Atezolizumab phối hợp Bevacizumab) giúp hệ miễn dịch của chính bệnh nhân nhận diện và tiêu diệt tế bào ung thư. Đây là xu hướng điều trị hàng đầu hiện nay vì mang lại hiệu quả kéo dài sự sống vượt trội so với hóa trị cũ, sau đó là điều trị hoá chất. Điều trị giảm nhẹ (GĐD), kiểm soát đau, điều trị triệu chứng, hỗ trợ tâm lý và dinh dưỡng nâng cao thể trạng.

Bác sĩ Khiêm nhấn mạnh, bệnh nhân cần ăn đủ đạm, nhiều rau xanh, tránh tuyệt đối rượu bia và các thực phẩm nấm mốc. Nếu UTG do viêm gan B hoặc C, bệnh nhân bắt buộc phải dùng thuốc kháng virus song song với điều trị ung thư để bảo vệ phần gan lành. Cần tiêm chủng vắc-xin viêm gan B (HBV), đây là “lá chắn” hiệu quả nhất. Hiện chưa có vắc-xin cho viêm gan C. Tuyệt đối không ăn lạc, ngô, gạo đã bị mốc vì chúng chứa độc tố Aflatoxin - thủ phạm trực tiếp gây đột biến gen gan.

Đối tượng cần tầm soát định kỳ là người nhiễm virus viêm gan B, C. Người uống rượu bia thường xuyên. Người bị xơ gan do bất kỳ nguyên nhân nào. Người có tiền sử gia đình bị ung thư gan. Mỗi 3 - 6 tháng/lần nên đi tầm soát. Để tầm soát hiệu quả thì sẽ siêu âm bụng, kiểm tra hình thái gan và các khối u bất thường, lưu ý phải khám định kỳ nếu đã có bệnh gan.

Đọc tiếp

Mới nhất

Ung thư gan nguyên phát và những bước tiến đột phá trong điều trị