________________________________________
UỶ BAN TRUNG ƯƠNG MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
(DỰ THẢO) Hà Nội, ngày 18 tháng 8 năm 2014
PHÁT HUY SỨC MẠNH ĐẠI ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN TỘC, GIỮ VỮNG HÒA BÌNH, CHỦ QUYỀN QUỐC GIA, XÂY DỰNG ĐẤT NƯỚC GIÀU MẠNH, DÂN CHỦ, CÔNG BẰNG, VĂN MINH VÀ HẠNH PHÚC (Báo cáo của Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam khóa VII tại Đại hội đại biểu toàn quốc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ VIII, nhiệm kỳ 2014 - 2019)
Đại hội đại biểu toàn quốc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ VIII diễn ra trong bối cảnh 5 năm qua công cuộc đổi mới của đất nước tiếp tục giành được những thành tựu to lớn. Việt Nam đã trở thành nước có thu nhập trung bình của thế giới. Toàn Đảng và toàn dân phấn đấu thực hiện mục tiêu đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại. 5 năm qua, kinh tế thế giới chưa ra khỏi khủng hoảng, biến động chính trị - xã hội, xung đột vũ trang diễn ra ở nhiều nơi, tác động không nhỏ đến phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Gần đây, chủ quyền quốc gia bị xâm phạm, đất nước ta phải đối mặt với thách thức gay gắt, có mặt nghiêm trọng. Đại hội lần này có nhiệm vụ đánh giá đúng mức tình hình, kết quả thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ VII Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, rút ra những bài học thực tiễn sâu sắc, dũng cảm, kiên cường vượt qua thách thức. Trên tinh thần đó, Đại hội nêu cao quyết tâm: Phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, tự lực, tự cường, trí tuệ, sáng tạo vượt qua khó khăn, thách thức, giữ vững hòa bình, chủ quyền quốc gia, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Phần thứ nhất
TÌNH HÌNH KHỐI ĐẠI ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN TỘC
VÀ KẾT QUẢ THỰC HIỆN CHƯƠNG TRÌNH HÀNH ĐỘNG
CỦA MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM NHIỆM KỲ 2009 - 2014
I. TÌNH HÌNH KHỐI ĐẠI ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN TỘC VÀ CÁC TẦNG LỚP NHÂN DÂN
Đại đoàn kết toàn dân tộc là truyền thống cực kỳ quý báu của Đảng và nhân dân ta, được lưu truyền qua các thế hệ người Việt Nam. Tinh thần yêu nước, nhân nghĩa, khoan dung, tương thân tương ái tiếp tục được phát huy trong thời gian qua, góp phần tạo nên sự đoàn kết, gắn bó chặt chẽ các thành viên trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam.
Những quan điểm, chủ trương về đại đoàn kết dân tộc, về Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tiếp tục được nâng tầm nhận thức trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung phát triển năm 2011), được Hiến pháp và pháp luật khẳng định. Những kết quả đạt được trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa[1] đã góp phần củng cố niềm tin của nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng và sự nghiệp đổi mới đất nước.
Hệ thống Mặt trận và các tổ chức thành viên đã triển khai nhiều cuộc vận động, phong trào thi đua yêu nước có ý nghĩa thiết thực, được các tầng lớp nhân dân hưởng ứng, tham gia với tinh thần hăng hái và sáng tạo, đóng góp có hiệu quả vào công cuộc xóa đói giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới, đảm bảo an sinh xã hội... Trước việc chủ quyền quốc gia bị xâm phạm, các tầng lớp nhân dân trong nước và bà con người Việt Nam đang sinh sống ở nước ngoài đã thể hiện tinh thần yêu nước sâu sắc, ý chí quyết tâm đấu tranh bảo vệ chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc.
Trong thành quả chung của đất nước và xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc có sự đóng góp to lớn của các giai cấp, các tầng lớp nhân dân.
Giai cấp công nhân Việt Nam ngày càng phát triển với 11 triệu người, chiếm hơn 26% lực lượng lao động xã hội, có mặt trong tất cả các thành phần kinh tế, giữ vai trò nòng cốt tiếp thu và làm chủ khoa học, công nghệ tiên tiến, góp phần quan trọng vào việc hình thành các ngành công nghiệp hiện đại và sự tăng trưởng của nền kinh tế. Công nhân mong muốn có việc làm ổn định, nhà ở, đời sống văn hóa và điều kiện học hành cho con em tốt hơn, nhất là trong các khu công nghiệp, khu chế xuất.
Giai cấp nông dân Việt Nam với gần 20 triệu người, chiếm hơn 47% lực lượng lao động xã hội, có truyền thống cần cù, sáng tạo, vượt khó; tích cực ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, tăng năng suất, chất lượng sản phẩm, cải thiện đời sống vật chất và tinh thần, góp phần xây dựng nông thôn mới. Trong lúc kinh tế khó khăn, nông dân, nông nghiệp đã góp phần quan trọng ổn định đời sống xã hội, hỗ trợ đắc lực cho công nghiệp, dịch vụ phát triển. Nông dân còn băn khoăn về đời sống thu nhập thấp, chính sách hỗ trợ sản xuất kinh doanh còn hạn chế, tiêu thụ sản phẩm không ổn định; việc làm, đào tạo nghề, đặc biệt là ở miền núi, vùng sâu còn nhiều khó khăn.
Đội ngũ trí thức những năm qua phát triển nhanh, với 4,9 triệu người, chiếm gần 12% lực lượng lao động xã hội, đi đầu trong các hoạt động khoa học và công nghệ, văn hóa, xã hội, giáo dục và đào tạo, phát triển kinh tế tri thức, tạo ra nhiều công trình, sản phẩm khoa học có giá trị cao, góp phần đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Đội ngũ trí thức mong muốn được phát huy hết khả năng sáng tạo của mình cho sự phát triển nhanh và bền vững của đất nước.
Đội ngũ công chức, viên chức cả nước có hơn 2,4 triệu người, chiếm 5,6% lực lượng lao động xã hội, đã nêu cao tinh thần trách nhiệm, khắc phục khó khăn, phấn đấu hoàn thành nhiệm vụ, góp phần quan trọng vào việc nâng cao năng lực và hiệu quả quản lý nhà nước, đáp ứng nhu cầu chăm sóc y tế, giáo dục đào tạo và văn hóa của nhân dân. Tăng lương để trang trải các nhu cầu cơ bản của cuộc sống và có chương trình về nhà ở là mong mỏi của đa số công chức, viên chức.
Thanh niên Việt Nam với hơn 26 triệu người, chiếm 29% dân số cả nước, là lực lượng đông đảo, có tiềm năng to lớn, đã phát huy vai trò năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, tiếp cận nhanh với những tri thức của thời đại, có ý thức phát huy các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, đóng góp tích cực vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, giữ gìn trật tự an toàn xã hội. Thanh niên còn nhiều khó khăn trong tìm việc làm, nhà ở, thiếu điều kiện vui chơi, giải trí, mong muốn được phát huy hơn nữa tài năng. Một bộ phận thanh niên sống thiếu lý tưởng, hoài bão, thiếu rèn luyện về đạo đức, lối sống, ý thức tuân thủ pháp luật.
Phụ nữ Việt Nam với hơn 45 triệu người, chiếm hơn 50% dân số và hơn 47% lực lượng lao động xã hội, đã phát huy truyền thống “Anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang”, đề cao tự trọng, tự tin, nỗ lực trong học tập, lao động, khắc phục khó khăn, xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc. Phụ nữ luôn quan tâm tới bình đẳng giới, bảo vệ bà mẹ và trẻ em, giải quyết việc làm và nâng cao thu nhập.
Cựu chiến binh Việt Nam với hơn 2,7 triệu hội viên, tiếp tục phát huy truyền thống “Bộ đội Cụ Hồ”, nêu cao tinh thần đoàn kết, tích cực đấu tranh phòng, chống tham nhũng, giữ gìn an ninh trật tự, giúp nhau làm kinh tế, cải thiện đời sống, tham gia xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền trong sạch, vững mạnh; cùng với cựu thanh niên xung phong luôn nêu gương sáng cho thế hệ trẻ. Vấn đề quan tâm hiện nay là cần tiếp tục giải quyết đúng đắn, công bằng chế độ, chính sách cho người có công với cách mạng.
Các lực lượng vũ trang nhân dân tiếp tục phát huy truyền thống trung thành với Tổ quốc, nhân dân, với Đảng và chế độ, là lực lượng nòng cốt xây dựng nền quốc phòng toàn dân, giữ vững thế trận an ninh nhân dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh bảo vệ vững chắc chủ quyền quốc gia và sự toàn vẹn lãnh thổ của đất nước.
Đội ngũ doanh nhân Việt Nam có khoảng 2 triệu người, hoạt động trong hơn 346.000 doanh nghiệp giữ vai trò nòng cốt trong phát triển kinh tế, tạo việc làm, góp phần xóa đói giảm nghèo, đảm bảo an sinh xã hội, thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Doanh nhân mong muốn môi trường đầu tư và kinh doanh được cải thiện hơn, có chính sách khuyến khích phát triển doanh nghiệp và sản phẩm, dịch vụ mới, loại trừ tiêu cực trong thực thi chính sách phát triển kinh tế. Một bộ phận doanh nghiệp sản xuất hàng giả, hàng kém chất lượng, nhập khẩu trái phép, không đóng thuế và bảo hiểm xã hội, gây ô nhiễm môi trường...
Người cao tuổi Việt Nam với hơn 12 triệu người, chiếm hơn 13% dân số cả nước, ngày càng có vị trí, vai trò quan trọng trong gia đình và xã hội, luôn nêu cao tinh thần “tuổi cao - gương sáng”, làm trụ cột về đời sống tinh thần, giáo dục, động viên con cháu hăng hái lao động, học tập, chấp hành pháp luật, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống, xây dựng nếp sống văn minh. Người cao tuổi mong muốn được quan tâm chăm sóc tốt hơn, phát huy uy tín và kinh nghiệm trong cuộc sống.
Đồng bào các dân tộc thiểu số với gần 14 triệu người, chiếm 14% dân số cả nước, ngày càng có nhiều đóng góp trong sự nghiệp phát triển kinh tế, giữ gìn, phát huy bản sắc và sự đa dạng văn hóa của các dân tộc, bảo đảm quốc phòng, an ninh. Đời sống vật chất, tinh thần của đồng bàongày càng được cải thiện trên cơ sở thực hiện chính sách của Đảng, Nhà nước và nỗ lực, sáng tạo của đồng bào các dân tộc. Tuy nhiên, tỷ lệ hộ nghèo trong các dân tộc thiểu số còn khá cao, nhất là ở Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam bộ[2].
Đồng bào tín đồ các tôn giáo khoảng 24 triệu người, chiếm gần 27% dân số cả nước, tiếp tục phát huy truyền thống gắn bó, đồng hành cùng dân tộc, “sống tốt đời đẹp đạo”, tham gia các phong trào thi đua yêu nước, nỗ lực trong sản xuất, kinh doanh, hoạt động nhân đạo, từ thiện, phát huy những giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp của các tôn giáo, đóng góp tích cực vào công cuộc đổi mới đất nước. Tuy nhiên, vẫn còn hiện tượng kẻ xấu lợi dụng tôn giáo, tín ngưỡng, vi phạm pháp luật, gây mất trật tự, ổn định xã hội.
Cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài với hơn 4,5 triệu người sống và làm việc ở 103quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới, là bộ phận không thể tách rời của dân tộc Việt Nam, có nhiều nỗ lực trong học tập, lao động, chấp hành pháp luật nước sở tại, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam, nêu cao tinh thần đoàn kết gắn bó với quê hương, đất nước, tích cực đóng góp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc[3]; làm cầu nối thúc đẩy quá trình hội nhập, tăng cường quan hệ hữu nghị, hợp tác giữa Việt Nam với các nước trên thế giới. Cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài mong muốn được quan tâm, giúp đỡ nhiều hơn để gìn giữ, phát huy truyền thống văn hóa dân tộc, nhất là tiếng nói và chữ viết cho thế hệ trẻ, phát huy hơn nữa khả năng đóng góp của đội ngũ trí thức cho phát triển đất nước.
Các tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, hội quần chúng, nhiều thành phần xã hội như nhà giáo, thầy thuốc, hộ công thương cá thể, nhân viên thương mại dịch vụ, hộ sản xuất kinh doanh, lao động thời vụ, lao động tự do… hình thành và phát triển đa đạng, có nhiều đóng góp trên các lĩnh vực của đời sống xã hội. Trước những nhu cầu phong phú và lợi ích thiết thực của các tầng lớp nhân dân, Mặt trận Tổ quốc cùng Nhà nước và xã hội từng bước tạo điều kiện phát huy, đáp ứng những nguyện vọng chính đáng, tăng cường đồng thuận xã hội, thu hẹp những diễn biến phân tâm, cùng nhau đoàn kết, khắc phục khó khăn, ổn định và phát triển.
Bên cạnh những thành tựu phát triển đất nước trong thời gian qua nhân dân còn nhiều băn khoăn, bức xúc trước những yếu kém, tiêu cực kéo dài, như: tình trạng tham nhũng, suy thoái đạo đức, lối sống trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên; đạo đức xã hội xuống cấp; tệ nạn xã hội gia tăng; ô nhiễm môi trường ở nhiều nơi trầm trọng; an toàn thực phẩm chưa đảm bảo; tai nạn giao thông còn nghiêm trọng; bất cập trong quản lý và đảm bảo chất lượng giáo dục, dịch vụ y tế; chưa ngăn chặn được tình trạng sản xuất, tiêu thụ hàng hóa kém chất lượng và độc hại, nhập lậu quy mô lớn; gian dối trong thi công nhiều công trình giao thông, xây dựng, công nghiệp…
Năm năm qua, các thế lực thù địch tiếp tục gia tăng hoạt động chống phá cách mạng, xuyên tạc lịch sử, thành tựu công cuộc đổi mới đất nước, gây mất ổn định, chia rẽ các dân tộc, các tầng lớp nhân dân. Việc chủ quyền quốc gia trên biển Đông bị xâm phạm nghiêm trọng trong thời gian gần đây khiến nhân dân rất bất bình và quyết tâm đấu tranh để bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ.
II. KẾT QUẢ THỰC HIỆN CHƯƠNG TRÌNH HÀNH ĐỘNG CỦA MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM NHIỆM KỲ 2009 - 2014
Phần thứ hai
MỤC TIÊU VÀ CHƯƠNG TRÌNH HÀNH ĐỘNG
CỦA MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM NHIỆM KỲ 2014 - 2019
I. BỐI CẢNH TÌNH HÌNH THẾ GIỚI VÀ TRONG NƯỚC
Tình hình thế giới và khu vực tiếp tục diễn biến nhanh chóng, phức tạp và khó lường. Hòa bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn, nhưng xung đột sắc tộc và tôn giáo, tranh chấp lãnh thổ, chiến tranh cục bộ, khủng bố, bạo loạn, “diễn biến hòa bình” ở một số nơi vẫn diễn ra. Các nước đặt lợi ích quốc gia lên ưu tiên hàng đầu. Cục diện thế giới đa cực ngày càng rõ hơn, các nước lớn vẫn chi phối quan hệ quốc tế, mở rộng lợi ích và tầm ảnh hưởng của mình. Đang diễn ra quá trình tái cấu trúc quan hệ giữa các nước, hình thành các liên kết mới trên thế giới và ở các khu vực. Kinh tế thế giới đang chuyển sang một giai đoạn mới, tăng trưởng cao hơn nhưng tiềm ẩn nhiều nguy cơ, rủi ro. Những vấn đề toàn cầu ảnh hưởng đến đời sống con người như an ninh năng lượng, an ninh lương thực, biến đổi khí hậu, thiên tai, dịch bệnh... tiếp tục diễn biến phức tạp. Việc hình thành “Cộng đồng các nước Đông Nam Á” vào năm 2015 sẽ là một tiền đề quan trọng góp phần bảo vệ hòa bình, ổn định và thúc đẩy phát triển ở khu vực. Tuy nhiên, Việt Nam và một số nước khác đang trực tiếp đối mặt với nguy cơ bị xâm phạm chủ quyền quốc gia, lãnh thổ và vùng đặc quyền kinh tế. Tự do và an ninh hàng hải quốc tế bị đe dọa.
Ở trong nước, những thành tựu, kinh nghiệm trong gần 30 năm đổi mới đã tạo ra cho đất nước thế và lực mới, sức mạnh tổng hợp lớn hơn nhiều so với trước. Những hạn chế, yếu kém trong các lĩnh vực kinh tế - xã hội, xây dựng hệ thống chính trị tiếp tục được Đảng, Nhà nước và nhân dân quyết tâm khắc phục. Đổi mới mô hình tăng trưởng, tái cấu trúc nền kinh tế, hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa tiếp tục được đẩy mạnh. Sự đa dạng về điều kiện sống, nhu cầu và lợi ích khác nhau giữa các tầng lớp nhân dân đòi hỏi ở Mặt trận sự lắng nghe, cầu thị và cởi mở để tìm ra cách tạo đồng thuận xã hội trong tình hình mới. Đối ngoại nhân dân đang đứng trước những yêu cầu mới, cần mở rộng, tăng cường đoàn kết, hữu nghị và hợp tác, nhất là với các nước láng giềng và đối tác có lợi ích chiến lược chung. Bên cạnh đó vẫn diễn ra âm mưu và hoạt động “diễn biến hoà bình”, gây bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch.
Bối cảnh tình hình thế giới và trong nước đòi hỏi Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong nhiệm kỳ tới phải tự đổi mới mạnh mẽ, xác định rõ mục tiêu, nhiệm vụ và chương trình hành động, đáp ứng yêu cầu củng cố, phát huy khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, thực hiện sứ mệnh cao cả của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã được xác định trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên Chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) và quy định trong Hiến pháp năm 2013, đáp ứng những yêu cầu từ thực tiễn cuộc sống phong phú của các tầng lớp nhân dân.
II. MỤC TIÊU
Trong 5 năm tới, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tập trung đổi mới mạnh mẽ nội dung và phương thức hoạt động nhằm phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, thực hiện tốt chức năng đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân, tăng cường đồng thuận xã hội, phát huy dân chủ, thực hiện giám sát và phản biện xã hội, tích cực tham gia xây dựng Đảng, chính quyền vững mạnh, góp phần phát triển bền vững kinh tế - xã hội, đẩy nhanh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh, giữ vững hòa bình, bảo vệ vững chắc chủ quyền quốc gia, vì nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh và hạnh phúc.
III. CHƯƠNG TRÌNH HÀNH ĐỘNG CỦA MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM NHIỆM KỲ 2014 -2019
Để thực hiện mục tiêu nêu trên, trong nhiệm kỳ tới, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cần triển khai thực hiện 5 chương trình hành động sau đây:
CHƯƠNG TRÌNH 1: Nâng cao hiệu quả tuyên truyền, vận động, tập hợp các tầng lớp nhân dân, củng cố và phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc
Thực hiện chức năng đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân,Ủy ban Mặt trận các cấp thực hiện tốt nhiệm vụ “Mặt trận lắng nghe nhân dân nói”, tập hợp ý kiến, nguyện vọng, hiến kế của nhân dân, phản ánh định kỳ ít nhất 3 tháng một lần và đột xuất khi cần thiết, để các cơ quan Đảng, Nhà nước và Mặt trận kịp thời nắm vững, đầy đủ tình hình đất nước và đời sống nhân dân. Đồng thời, Mặt trận cần góp phần cung cấp đầy đủ thông tin cho nhân dân về tình hình đất nước và quốc tế, về chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, về kết quả giám sát và phản biện xã hội, về tiếp thu ý kiến và sáng kiến của nhân dân, nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền, vận động thông qua việc phối hợp đồng bộ với các thành viên, các cơ quan của Đảng, Nhà nước và truyền thông đại chúng. Đây là cơ sở quan trọng để Mặt trận các cấp xây dựng chương trình thông tin, tuyên truyền, vận động nhân dân phát huy sáng tạo, chủ động tham gia các cuộc vận động, phong trào do Mặt trận và các tổ chức thành viên triển khai, tạo sự thống nhất trong nhận thức và hành động, củng cố và phát huy khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tiếp tục triển khai sâu rộng việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, gắn với thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”, Kết luận Hội nghị Trung ương 5 về "Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí", Nghị quyết Trung ương 7 (Khóa XI) "Về tăng cường và đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác dân vận trong tình hình mới", Nghị quyết Trung ương 9 về “Xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước”. Tích cực triển khai Đề án “Phổ biến, học tập và thi đua cùng các điển hình tiên tiến” của Chính phủ nhằm phát hiện, biểu dương, nhân rộng các điển hình tiên tiến, gương người tốt, việc tốt trong cả nước.
Ủy ban Mặt trận các cấp và các tổ chức thành viên thường xuyên gặp gỡ, thăm hỏi, lắng nghe ý kiến, tâm tư nguyện vọng của các vị tiêu biểu, trí thức, người có uy tín ở cộng đồng dân cư, trong các dân tộc, tôn giáo. Tham gia xây dựng, phản biện và giám sát việc thực hiện các chủ trương, chính sách liên quan đến đồng bào dân tộc, tôn giáo. Đề xuất các cơ chế, chính sách hỗ trợ phát triển đối với đồng bào dân tộc thiểu số, tạo điều kiện để đồng bào các dân tộc, các tôn giáo tích cực tham gia xã hội hóa trong các lĩnh vực y tế, giáo dục, bảo vệ môi trường. Vận động các tầng lớpnhân dân đề cao cảnh giác, đấu tranh với các luận điệu xuyên tạc, kích động hòng thực hiện “diễn biến hòa bình”, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, gây mất ổn định chính trị, xã hội.
Tiếp tục vận động, tập hợp, đoàn kết người Việt Nam ở nước ngoài hướng về quê hương tham gia xây dựng phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc. Phối hợp với các đoàn thể, bộ ngành liên quan tích cực triển khai thực hiện Đề án của Chính phủ “Giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc trong cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài”; có biện pháp giúp đỡ, hỗ trợ hoạt động của các hội đoàn người Việt Nam ở nước ngoài; kiến nghị các cơ chế, chính sách phù hợp để người Việt Nam ở nước ngoài, nhất là lực lượng trí thức, chuyên gia trên các lĩnh vực tham gia các chương trình phát triển kinh tế, xã hội.
Tiếp tục phối hợp với các tổ chức thành viên tích cực tham gia xây dựng, củng cố và phát triển khối đại đoàn kết toàn dân tộc thông qua kết nạp thêm thành viên là tổ chức và các cá nhân tiêu biểu, kết nạp đoàn viên, hội viên nhằm thu hút đông đảo các tầng lớp nhân dân tham gia các các cuộc vận động, phong trào thi đua yêu nước, phù hợp với nhu cầu, nguyện vọng của các giai cấp, tầng lớp, thành phần đa dạng trong xã hội. Đặc biệt tăng cường củng cố, đoàn kết gắn bó trong từng cộng đồng dân cư, nâng cao chất lượng và hiệu quả tổ chức Ngày hội đại đoàn kết toàn dân tộc ở khu dân cư vào dịp kỷ niệm ngày truyền thống Mặt trận Tổ quốc Việt Nam hằng năm (18 tháng11),thực sự trở thành ngày hội của lòng dân, là đợt sinh hoạt chính trị - xã hội sâu rộng trong nhân dân,thắt chặt tình làng nghĩa xóm, gắn kết cán bộ, đảng viên với nhân dân.
CHƯƠNG TRÌNH 2: Phát huy tinh thần sáng tạo và tự quản của nhân dân, triển khai các cuộc vận động, các phong trào thi đua yêu nước
Trên cơ sở tổng kết 20 năm thực hiện cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư”, cần đổi mới nội dung phương thức để phù hợp với yêu cầu phát triển nông thôn mới, đô thị văn minh trên tinh thần phát huy mạnh mẽ sáng kiến và khả năng tự quản của nhân dân. Phấn đấu thực hiện có hiệu quả việc vận động nhân dân xây dựng cơ sở hạ tầng, giảm nghèo bền vững, sản xuất nông nghiệp năng suất cao, thu nhập cao; làm cho cư dân đô thị và nông thôn có cuộc sống hài hòa, phát triển bền vững trên tinh thần đẩy mạnh xây dựng nền văn hóa mà trọng tâm là xây dựng con người phát triển toàn diện. Nâng cao tính thuyết phục, chất lượng bình xét, công nhận các danh hiệu Gia đình văn hóa, Khu dân cư văn hóa. Mặt trận phối hợp với chính quyền, các đoàn thể tiến hành tổng kết, rút kinh nghiệm và nhân ra diện rộng trong phạm vi cả nước các loại mô hình nhân dân tự quản ở phường, xã, khu dân cư để giữ gìn và phát huy văn hóa dân tộc, bảo vệ môi trường, giữ gìn trật tự trị an, phát triển giáo dục, chăm lo sức khỏe nhân dân, giám sát đầu tư của động đồng, thanh tra nhân dân, thiết thực chăm lo đời sống vật chất và tinh thần, giải quyết tốt những vấn đề bức xúc của nhân dân ngay từ cơ sở. Định kỳ tổ chức các hoạt động vinh danh “Gương sáng vì cộng đồng”, tuyên dương khu dân cư và Trưởng ban công tác Mặt trận tiêu biểu.
Đổi mới phương thức thực hiện cuộc vận động “Vì người nghèo” với mục tiêu giảm nghèo bền vững, theo hướng: Mặt trận chủ trì hiệp thương phối hợp, giúp đỡ để mỗi đoàn thể chính trị - xã hội nhận giúp đỡ các hộ gia đình thoát nghèo theo địa chỉ, số lượng cụ thể từng năm ở mỗi phường, xã; rà soát và nhân rộng các mô hình hiệu quả của các đoàn thể, tổ chức thành viên trong xóa đói, giảm nghèo; Mặt trận tiếp tục chủ trì phát động tháng cao điểm vì người nghèo hằng năm, các tổ chức thành viên chủ động vận động và tiếp nhận các nguồn lực, đồng thời có sự hiệp thương thống nhất về mục tiêu phân bổ các nguồn lực theo yêu cầu của từng thời kỳ, cho từng đối tượng cụ thể. Tiếp tục thực hiện công tác cứu trợ, nhân đạo từ thiện, vận động giúp đỡ người có hoàn cảnh khó khăn, gặp thiên tai, hoạn nạn.
Tiếp tục thực hiện cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” có hiệu quả thiết thực hơn. Phối hợp với ngành Công thương triển khai Đề án Phát triển thị trường trong nước gắn với cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” giai đoạn 2014 - 2020, vừakhuyến khích, hỗ trợ doanh nghiệp trong nước sản xuất hàng hóa có chất lượng cao vừa thay đổi hành vi của người tiêu dùng, phát huy lòng tự hào dân tộc, đề cao trách nhiệm công dân đối với sự ổn định và phát triển kinh tế đất nước. Phát huy cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài trong quảng bá, xuất khẩu và tiêu dùng hàng Việt Nam. Tham mưu, phối hợp với các cấp ủy Đảng, chính quyền đề xuất các giải pháp đẩy mạnh cuộc vận động, đồng thời thực hiện tốt vai trò điều phối của Ban chỉ đạo Cuộc vận động đối với việc kiểm tra, theo dõi, đôn đốc, bổ sung các chính sách kịp thời thúc đẩy cuộc vận động. Vận động cán bộ, đảng viên nêu cao tinh thần gương mẫu trong việc ưu tiên tiêu dùng hàng Việt Nam.
Ủy ban Mặt trận các cấp và các tổ chức thành viên phối hợp chặt chẽ, hiệu quả với các cơ quan chính quyền cùng cấp triển khai lồng ghép các chương trình phối hợp thực hiện mục tiêu quốc gia về bảo đảm an sinh xã hội, bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu, nâng cao chất lượng dân số, phòng chống tội phạm và tệ nạn xã hội, bảo đảm trật tự an toàn giao thông, góp phần phát huy tính tự quản, bảo đảm sự phát triển bền vững ngay từ mỗi địa bàn dân cư. Chú trọng phong trào xây dựng nền quốc phòng toàn dân và phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc; thực hiện chính sách hậu phương quân đội, chăm sóc gia đình liệt sĩ, thương bệnh binh, phụng dưỡng Mẹ Việt Nam anh hùng; tổ chức động viên thanh niên nhập ngũ, dạy nghề, giải quyết việc làm cho thanh niên xuất ngũ. Mở rộng các mô hình đoàn kết, kết nghĩa quân dân, kịp thời động viên lực lượng đang làm nhiệm vụ nơi biên giới, hải đảo.
CHƯƠNG TRÌNH 3: Phát huy dân chủ, đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân; giám sát và phản biện xã hội, tham gia xây dựng Đảng và chính quyền vững mạnh
Ủy ban Mặt trận các cấp và các tổ chức thành viên phối hợp tuyên truyền, phổ biến Hiến pháp năm 2013 tới các tầng lớp nhân dân, nhất là những nội dung quy định về Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên, về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân; đề xuấtNhà nước cụ thể hóa các nội dung trong Hiến pháp thành các quy định pháp luật; phối hợp tổ chức các diễn đàn nhân dân, hội nghị tiếp xúc cử tri của đại biểu dân cử, đa dạng hóa các kênh tiếp nhận, tập hợp ý kiến, kiến nghị của cử tri và nhân dân với Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; theo dõi, giám sát việc giải quyết các đề nghị chính đáng của nhân dân.
Mặt trận chủ động phối hợp với chính quyền và các tổ chức thành viên trong công tác giám sát và phản biện xã hội. Theo đó, những vấn đề lớn liên quan đến lợi ích của đông đảo các tầng lớp nhân dân sẽ do Mặt trận giữ vai trò chủ trì, hiệp thương với các đoàn thể, tổ chức thành viên để cùng tham gia. Các vấn đề thuộc chức năng, nhiệm vụ của các tổ chức chính trị - xã hội thì chủ động công việc giám sát, phản biện. Mặt trận và các đoàn thể chính trị - xã hội chủ động đề xuất, phối hợp với các cấp chính quyền liên quan lựa chọn giám sát các nội dung, lĩnh vực phù hợp, thiết thực với đời sống nhân dân. Có nhiều hình thức huy động trí tuệ của các tầng lớp nhân dân tham gia phản biện xã hội. Đề xuất bổ sung trong Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (sửa đổi) quy định cụ thể về giám sát, phản biện xã hội.
Tổ chức góp ý và tập hợp ý kiến của các tầng lớp nhân dân tham gia vào các dự thảo văn kiện và đề xuất sáng kiến xây dựng Đảng, xây dựng đất nước vào dịp Đại hội Đảng lần thứ XII. Đề xuất sớm ban hành quy định về việc Đảng vừa là thành viên, vừa lãnh đạo Mặt trận. Vận động nhân dân thực hiện đúng và đầy đủ quyền hạn, trách nhiệm trong Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2016 - 2021. Tổ chức các diễn đàn và các phương thức phù hợp để phát huy sáng kiến của nhân dân, nhất là đội ngũ trí thức ở trong và ngoài nước hiến kế xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Vận động nhân dân chủ động, tích cực tham gia cuộc đấu tranh phòng chống tham nhũng, lãng phí. Phối hợp đề xuất, xây dựng các cơ chế, phương thức phù hợp phản ánh tới cấp ủy Đảng, chính quyền và trực tiếp đấu tranh phòng chống tham nhũng, lãng phí ở ngay tại mỗi địa bàn dân cư, cơ quan, đơn vị. Tích cực tham gia đẩy mạnh cải cách hành chính, nhất là ở phường, xã, nơi giải quyết những công việc liên quan trực tiếp đến quyền lợi và nghĩa vụ của nhân dân. Phối hợp và đề nghị chính quyền cùng cấp thực hiện trách nhiệm giải trình, công khai, minh bạch những vấn đề nhân dân yêu cầu. Hình thành cơ chế đánh giá sự hài lòng của người dân đối với sự phục vụ của chính quyền cơ sở. Tham gia giám sát thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở, nâng cao chất lượng hoạt động tiếp công dân, tham gia giải quyết và giám sát các cơ quan chính quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân; nâng cao hiệu quả hoạt động của Ban Thanh tra nhân dân, Ban Giám sát đầu tư của cộng đồng và hoạt động hòa giải ở cơ sở.
Tiếp tục thực hiện tốt vai trò của Mặt trận trong thực hiện sáng kiến pháp luật, tham gia hoạch định chính sách, xây dựng, tuyên truyền phổ biến và thực thi pháp luật. Tập trung triển khai thực hiện có kết quả Đề án tiếp tục xây dựng và đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động chấp hành pháp luật trong cộng đồng dân cư giai đoạn 2013 - 2016.
CHƯƠNG TRÌNH 4: Mở rộng và nâng cao hiệu quả hoạt động đối ngoại nhân dân, tăng cường đoàn kết hữu nghị và hợp tác quốc tế
Ủy ban Mặt trận các cấp và các tổ chức thành viên, Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam phối hợp xây dựng chương trình, phân công trách nhiệm, đẩy mạnh các hoạt động đối ngoại nhân dân theo phương châm “chủ động, linh hoạt, sáng tạo, hiệu quả”, góp phần tăng cường tình hữu nghị và đoàn kết, hợp tác giữa nhân dân Việt Nam với nhân dân các nước trên thế giới. Có biện pháp thiết thực, hiệu quả hơn trong quan hệ hợp tác với nhân dân các nước láng giềng và cộng đồng ASEAN, góp phần giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, vì sự phát triển của mỗi quốc gia.
Tuyên truyền, vận động các tầng lớp nhân dân thực hiện chủ trương đối ngoại của Đảng, chính sách ngoại giao của Nhà nước. Triển khai việc nghiên cứu về đối ngoại nhân dân của Mặt trận và các tổ chức thành viên. Xây dựng chương trình thông tin, tuyên truyền đối ngoại về hình ảnh đất nước và con người Việt Nam. Tăng cường đoàn kết quốc tế, tranh thủ sự ủng hộ của Chính phủ và nhân dân các nước trên thế giới trong đấu tranh bảo vệ chủ quyền quốc gia. Phát huy vai trò của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài đóng góp có hiệu quả vào các hoạt động đoàn kết, hữu nghị, thúc đẩy các mối quan hệ hợp tác góp phần xây dựng và phát triển đất nước.
Mặt trận và các tổ chức thành viên mở rộng các hoạt động giao lưu, trao đổi thông tin, chia sẻ kinh nghiệm, ủng hộ và giúp đỡ lẫn nhau với tổ chức nhân dân các nước bạn; nâng cao chất lượng các hoạt động phối hợp xây dựng đường biên giới hòa bình hữu nghị, hợp tác cùng phát triển; từng bước thiết lập và mở rộng quan hệ hợp tác với các tổ chức nhân dân tương đồng ở các nước trên thế giới; tiếp tục tham gia đóng góp tích cực vào hoạt động của Hiệp hội quốc tế các Hội đồng Kinh tế xã hội và các tổ chức tương đương; khuyến khích, hỗ trợ các tổ chức thành viên tham gia các hội đồng, ủy ban, các cơ chế tư vấn của Liên hợp quốc; mở rộng việc tham gia các cơ chế hợp tác, diễn đàn đa phương.
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tăng cường trao đổi thông tin và quan hệ phối hợp với các cơ quan đại diện ngoại giao, các cơ quan của Liên hợp quốc, các tổ chức quốc tế và các tổ chức phi chính phủ nước ngoài tại Việt Nam để tăng cường hiểu biết, cơ hội hợp tác, thu hút thêm nguồn lực, tham khảo kinh nghiệm quốc tế góp phần thực hiện các chương trình phát triển kinh tế - xã hội, giúp đỡ người nghèo, hoạt động nhân đạo từ thiện.
CHƯƠNG TRÌNH 5: Hoàn thiện cơ chế, nâng cao năng lực hoạt động của hệ thống Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn mới
Kế thừa, phát huy những bài học kinh nghiệm đạt được, đổi mới mạnh mẽ, mang tính đột phá trong việc thiết lập các cơ chế và phương thức hoạt động theo hướng phát huy cao độ vai trò chủ động, sáng tạo và sự đóng góp của các tổ chức thành viên, thực hiện vai trò chủ trì của Mặt trận theonguyên tắc hiệp thương dân chủ, phối hợp và thống nhất hành động, tránh chồng chéo, không gây quá tải cho cơ sở. Thực hiện các quy chế, chương trình phối hợp, nhất là thực hiện tốt chức năng giám sát, phản biện xã hội và tham gia xây dựng Đảng, chính quyền trong sạch, vững mạnh. Mở rộng các phương thức phối hợp truyền thông, phổ biến các điển hình tiên tiến, kịp thời động viên, khen thưởng các tập thể và cá nhân xuất sắc, góp phần nâng cao hiệu quả các phong trào thi đua của các tổ chức thành viên và Ủy ban Mặt trận các cấp.
Kiện toàn Ủy ban Mặt trận các cấp để vừa bảo đảm tính đại diện, tiêu biểu cho khối đoàn kết toàn dân tộc, vừa nâng cao năng lực tổ chức thực tiễn. Quy định rõ quyền hạn và trách nhiệm của thành viên là tổ chức và cá nhân tiêu biểu khi tham gia Ủy ban Mặt trận các cấp.
Củng cố, kiện toàn tổ chức bộ máy phù hợp với chức năng, nhiệm vụ mới theo hướng tinh gọn, hoạt động có hiệu quả. Bố trí cán bộ chuyên trách đủ về số lượng, đảm bảo chất lượng và cơ cấu phù hợp với nhiệm vụ mới của Mặt trận trong giai đoạn hiện nay. Xây dựng tiêu chuẩn cán bộ chuyên trách của từng cấp và tiêu chuẩn chức danh phù hợp. Thực hiện quy hoạch và phối hợp luân chuyển cán bộ Mặt trận ở các cấp; coi trọng công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ chuyên trách để có năng lực hoàn thành tốt nhiệm vụ. Thực hành phong cách của cán bộ Mặt trận theo phương châm:trọng dân, gần dân, học dân và có trách nhiệm với nhân dân. Tiếp tục thực hiện việc “Rèn luyện tư cách người cán bộ Mặt trận”. Tham mưu hoàn thiện cơ chế tài chính cho hoạt động của Mặt trận các cấp, sớm khắc phục những bất hợp lý về lương, phụ cấp, điều kiện làm việc đối với cán bộ chuyên trách, Ủy viên Ủy ban Mặt trận các cấp, Trưởng Ban công tác Mặt trận ở khu dân cư.
Đổi mới và nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của các Hội đồng tư vấn, Ban tư vấn của Ủy ban Mặt trận các cấp. Phát huy mạnh mẽ vai trò của đội ngũ chuyên gia, cộng tác viên nhằm nâng cao năng lực tham mưu và tổ chức triển khai công việc của Ủy ban Mặt trận các cấp, nhất là công tác giám sát, phản biện xã hội. Đẩy mạnh tổng kết và nghiên cứu lý luận về công tác Mặt trận. Mặt trận các cấp cần nhận thức đúng về vị trí, vai trò của công tác Mặt trận ở cơ sở: xác định phường xã và khu dân cư là địa bàn quan trọng nhất của Mặt trận. Quan tâm hướng dẫn hoạt động,bồi dưỡng phương pháp công tác, bảo đảm điều kiện hoạt động và chế độ chính sách phù hợp cho Ban Công tác Mặt trận ở khu dân cư.
*
Đại hội lần thứ VIII Mặt trận Tổ quốc Việt Nam diễn ra trong thời điểm lịch sử quan trọng của công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc với những thời cơ thuận lợi đan xen cùng khó khăn, thách thức. Hơn bao giờ hết, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam có sứ mệnh phát huy truyền thống dựng nước và giữ nước hàng ngàn năm của dân tộc, sức mạnh đại đoàn kết của hơn 90 triệu người Việt Nam ở trong và ngoài nước tạo nên nội lực ngày càng mạnh mẽ và bền vững để phát triển đất nước, cùng nhân dân yêu chuộng hòa bình, công lý giữ vững hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển ở khu vực và trên toàn thế giới.
Với tinh thần “Đoàn kết - Dân chủ - Đổi mới - Phát triển”, Đại hội đại biểu toàn quốc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ VIII kêu gọi toàn thể đồng bào Việt Nam ta ở trong nước và nước ngoài đoàn kết, đồng lòng, chung sức, tận dụng thời cơ, vượt qua thách thức, quyết tâm thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, toàn vẹn lãnh thổ, dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh và hạnh phúc./.
UỶ BAN TRUNG ƯƠNG
MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM KHÓA VII
________________________________________
[1] Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”; Nghị quyết về lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp bầu hoặc phê chuẩn; tổ chức lấy ý kiến rộng rãi các tầng lớp nhân dân vào Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992; Bộ Chính trị ban hành Quy chế Giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị - xã hội, Quy định về việc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể chính trị - xã hội và nhân dân tham gia góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền...
[2] Tỷ lệ nghèo cả nước năm 2013 là 7,8%, ở Tây Bắc là 21,54%, Tây Nguyên là 12,50% và Tây Nam Bộ là 7,41%.
[3] Hằng năm có khoảng 500 nghìn lượt kiều bào về nước, trong đó khoảng hơn 300 chuyên gia, trí thức về làm việc và hàng nghìn người về tìm hiểu cơ hội đầu tư, kinh doanh. Hiện có trên 3.500 doanh nghiệp trong nước do kiều bào thành lập hoặc góp vốn của kiều bào với tổng số vốn đăng ký khoảng 8,4 tỷ USD. Kiều hối gửi về nước tăng trung bình 10-15%/năm, Năm 2009 là 6,83 tỷ USD, năm 2010 đạt mức 8,6 tỷ USD, năm 2011 là 9 tỷ USD, năm 2012 đạt 10 tỷ USD, năm 2013 đạt gần 11 tỷ USD.
[4] Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã triển khai 02 Đề án quan trọng về công tác dân tộc, công tác tôn giáo; phối hợp tổng kết 5 năm thực hiện Chỉ thị số 06/2008/CT-TTg ngày 01/02/2008 của Thủ tướng Chính phủ về phát huy vai trò của người có uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; đề xuất với Thủ tướng Chính phủ phê duyệt và ban hành Chương trình 135 về hỗ trợ đầu tư cơ sở hạ tầng, hỗ trợ phát triển sản xuất cho các xã đặc biệt khó khăn, xã biên giới, xã an toàn khu, các thôn, bản đặc biệt khó khăn (gọi tắt là Chương trình 135 giai đoạn III); rà soát các Chương trình phát triển kinh tế - xã hội cho các xã đặc biệt khó khăn và đề xuất Chính phủ bổ sung các chính sách mới…
[5] Đến nay, cả nước đã có 19 địa phương thành lập được Hội Liên lạc và Thân nhân kiều bào gồm: Bà Rịa - Vũng Tàu, Bình Thuận, Kiên Giang, Sóc Trăng, Tây Ninh, Vĩnh Long, Phú Thọ, Phú Yên, Quảng Ninh, Hải Dương, Đắk Lắk, Đồng Tháp, Hòa Bình, Thừa Thiên - Huế, TP.Hồ Chí Minh, TP.Cần Thơ, TP.Đà Nẵng, TP.Hà Nội, TP.Hải Phòng.
[6] Chỉ thị 1869/CT-TTg ngày 10/10/2010 của Thủ tướng chính phủ về việc tăng cường phối hợp với Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đẩy mạnh cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư” trong giai đoạn mới; Chương trình phối hợp chỉ đạo thực hiện nâng cao chất lượng cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư” trong giai đoạn mới (số 12/CTrPH-MTTW-BVHTTDL ngày 29/9/2011); Thông tư quy định chi tiết về tiêu chuẩn, trình tự, thủ tục, hồ sơ công nhận Danh hiệu “Gia đình văn hóa”; “Thôn văn hóa”, “Làng văn hóa”, “Ấp văn hóa”, “Bản văn hóa”, “Tổ dân phố văn hóa” và tương đương (số: 12/2011/TT-BVHTTDL ngày 10/10/2011)…
[7] Hưởng ứng phong trào “Cả nước chung sức xây dựng nông thôn mới”, trong 3 năm qua nhân dân đã tự nguyện hiến hơn 12 triệu m2 đất để làm đường, công trình công cộng… Nhiều tổ chức thành viên của Mặt trận đã có các chương trình, phong trào tham gia xây dựng nông thôn mới: Đoàn TNCS Hồ Chí Minh tiếp tục triển khai cuộc vận động “Tuổi trẻ chung tay xây dựng nông thôn mới”. Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam lấy cuộc vận động xây dựng "Gia đình 5 không 3 sạch” làm nòng cốt nhằm thực hiện có hiệu quả các tiêu chí xây dựng nông thôn mới. Hội Nông dân Việt Nam tổ chức Phong trào “Nông dân thi đua xây dựng nông thôn mới”. Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam tổ chức “Phong trào liên kết phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa- hiện đại hóa nông nghiệp và phát triển nông thôn”. Hội Cựu chiến binh Việt Nam tổ chức phong trào “Cựu chiến binh hiến kế, hiến công xây dựng quê hương, đất nước” góp phần xây dựng nông thôn mới...
[8] Các mô hình tự quản về phòng, chống tội phạm và tệ nạn xã hội được nhân rộng ở nhiều địa phương như “Tổ liên gia”, “Tổ tự quản”, trong đó tiêu biểu là mô hình “Gia đình, dòng họ tự quản”. TP. Hà Nội với phong trào “Vào từng ngõ, gõ từng nhà, rà từng đối tượng”; tỉnh Bình Phước với Chương trình “5 giảm”; tỉnh Đồng Nai với Chương trình “4 giảm” (tội phạm, ma túy, mại dâm, tai nạn giao thông); tỉnh Hưng Yên phát động phong trào thi đua xây dựng “Khu dân cư 3 không” (không tội phạm, ma túy, mại dâm) gắn với xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh; tỉnh Bình Dương thực hiện mô hình “Chủ nhà trọ văn hoá”; 50% phường xã ở Bắc Giang có mô hình tự quản về trật tự an toàn xã hội…
[9] Đến cuối năm 2013 cả nước đã có 17.168.976 gia đình đạt chuẩn danh hiệu Gia đình văn hoá, chiếm tỷ lệ trên 60%; 67.258/105.429 khu dân cư đạt danh hiệu khu dân cư văn hoá, chiếm tỷ lệ 63,79%. Tỉnh Quảng Nam triển khai mô hình “Tộc văn hoá”, “5 đoàn kết - 3 trong sạch”. Tỉnh Thanh Hoá ban hành Kế hoạch “3 không” (khu dân cư: không có tội phạm, không ô nhiêm môi trường, không vi phạm hương ước xây dựng nếp sống văn hoá); xây dựng được trên 21.600 tổ tự quản bảo vệ môi trường. Mặt trận TP. Đà Nẵng tổ chức phong trào xây dựng “Thành phố 5 không” và “3 có”. Mặt trận tỉnh Quảng Ngãi xây dựng “Điểm sáng khu dân cư sáu không”, họ tộc “ba không”, mô hình “ba giảm, bốn giữ”. TP.Hà Nội vận động “Toàn dân thực hiện tang văn minh tiến bộ”, triển khai 3.751 mô hình điểm khu dân cư tự quản về môi trường ở 29 quận, huyện, thị xã...
[10] Đợt vận động “Mái ấm cho người nghèo nơi biên giới, hải đảo” đã xây dựng được 3.460 nhà Đại đoàn kết, 146 công trình dân sinh, tổng trị giá gần 150 tỷ đồng.
[11]Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tham gia tổng kết 4 vấn đề: (1) Giải quyết các vấn đề xã hội trong tình hình mới; (2) Đổi mới hệ thống chính trị; xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa; (3) Xây dựng Đảng cầm quyền, đổi mới nội dung và phương thức lãnh đạo của Đảng; (4) Việc thực hiện giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị - xã hội qua 30 năm đổi mới.
[12] Mỗi năm Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tham gia góp ý kiến cho khoảng 60 dự án luật, pháp lệnh và nghị định.
[13] Dự án Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam dự kiến sẽ được trình Quốc hội khóa XIII cho ý kiến tại kỳ họp thứ 8 và thông qua tại kỳ họp thứ 9.
[14] Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã hướng dẫn các địa phương triển khai thực hiện Đề án "Tiếp tục xây dựng và đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động chấp hành pháp luật trong cộng đồng dân cư giai đoạn 2013-2016"; Đề án “Tăng cường công tác phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm nâng cao ý thức pháp luật cho thanh thiếu niên”; Đề án “Tuyên truyền, phổ biến pháp luật về phòng, chống tham nhũng, Công ước của Liên hiệp quốc về chống tham nhũng trong cán bộ, công chức, viên chức và nhân dân”; Đề án “Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật trong nước về quyền con người” lồng ghép vào Cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư”...
[15] Tính đến nay, tổng số Ban thanh tra nhân dân toàn quốc là: 11.139 ban/11.144 xã, phường, thị trấn, chiếm tỷ lệ 99,95%. Số ban đảm nhiệm vai trò giám sát đầu tư của cộng đồng là 6.443. Có 8.041 Ban giám sát đầu tư của cộng đồng.
[16] Cả nước có 112.638 tổ hòa giải. Bình quân mỗi năm nhận hòa giải trên 335.000 vụ, việc. Số vụ hòa giải thành công đạt trên 80%.
[17] “Việc thi hành Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong sử dụng nguồn vốn trái phiếu Chính phủ cho đầu tư xây dựng cơ bản, giai đoạn 2006-2012”; “Việc thực hiện chính sách pháp luật về giảm nghèo giai đoạn 2005- 2012 tại các địa phương”; “Việc thực hiện chính sách, pháp luật về bảo hiểm y tế giai đoạn 2009 - 2012”; “Việc thực hiện chính sách, pháp luật trong công tác tuyển dụng, đào tạo, bổ nhiệm đối với đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức”; “Việc thực hiện chính sách pháp luật về đất ở, đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số”…
[18] Vụ việc ông Đoàn Văn Vươn ở Tiên Lãng, Hải Phòng; Vụ Nông trường Sông Hậu; việc quản lý giá sữa cho trẻ em dưới 6 tuổi; chấn chỉnh việc khai thác cát trái pháp luật tại một số địa phương…
[19] Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tham gia tổ chức các hoạt động “Năm đoàn kết, hữu nghị Việt Nam - Lào 2012” và “Năm hữu nghị Việt Nam - Campuchia 2012”; phối hợp tổ chức lễ kỷ niệm 35 năm Ngày chiến thắng chiến tranh biên giới Tây-Nam và cùng quân, dân Campuchia chiến thắng chế độ diệt chủng; phối hợp tổ chức "Hội nghị quốc tế Xây dựng đường biên giới hòa bình hữu nghị Việt Nam - Lào", "Hội nghị quốc tế xây dựng đường biên giới hòa bình hữu nghị Việt Nam-Campuchia"; ký kết bản ghi nhớ với Chính hiệp Trung Quốc… Uỷ ban Mặt trận nhiều tỉnh, thành phố như: Thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Quảng Ninh, Lạng Sơn, Sơn La, Nghệ An, Thanh Hóa, Thừa Thiên Huế, Gia Lai, Bà Rịa - Vũng Tàu, Lâm Đồng, Kom Tum, Kiên Giang, An Giang… đã tăng cường các hình thức vận động, xây dựng quan hệ hữu nghị, hợp tác với nhân dân các nước láng giềng, các nước trong khu vực và trên thế giới; duy trì tốt các hoạt động đối ngoại về xây dựng đường biên giới hoà bình, hữu nghị; phối hợp tuyên truyền nâng cao nhận thức của nhân dân về chủ quyền quốc gia và tham gia bảo đảm an ninh biên giới; đẩy mạnh phong trào bảo vệ an ninh Tổ quốc tại các xã khu vực biên giới.
[20] Tổng số Uỷ viên Uỷ ban Mặt trận các cấp là 393.980 người (trong đó cấp TW là 356 người, cấp tỉnh là 5.163 người, cấp huyện là 35.541 người, cấp xã là 360.695 người); Số lượng tổ chức thành viên cấp Trung ương tăng: 2, cấp tỉnh: tăng 89, cấp huyện: tăng 225; Số lượng cá nhân tiêu biểu tham gia Uỷ ban Mặt trận cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã tăng tương ứng là 55 người, 2.582 người và 15.939 người.
[21] Chủ tịch Mặt trận các cấp: cấp tỉnh có 56/63 Chủ tịch Mặt trận chuyên trách, 07 kiêm nhiệm; 62 Chủ tịch Mặt trận tham gia cấp ủy; trong đó 41 là Thường vụ cấp ủy (so với đầu nhiệm kỳ tăng 58,5 %); Cấp huyện** **có 580/695 Chủ tịch chuyên trách, 115 kiêm nhiệm, 652 là Huyện ủy viên, trong đó 405 là Thường vụ (so với đầu nhiệm kỳ tăng 58 %); Cấp xã: có 3.160/11.109 Chủ tịch Mặt trận là Thường vụ Đảng ủy (so với đầu nhiệm kỳ tăng 18%).
[22] Trung tâm Bồi dưỡng cán bộ và Nghiên cứu khoa học Mặt trận Tổ quốc Việt Nam được thành lập và đi vào hoạt động từ 01/01/2013. Trong nhiệm kỳ, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã tổ chức bồi dưỡng, tập huấn cho 2.500 lượt cán bộ; Ủy ban Mặt trận các địa phương tổ chức được 4.130 lớp tập huấn cho 123.900 lượt cán bộ.
[23] Hội đồng tư vấn: cấp Trung ương: 07 Hội đồng với tổng số 159 người; cấp tỉnh: 52/63 tỉnh, thành phố thành lập 140 Hội đồng tư vấn với 1.350 người; cấp huyện 299 Ban tư vấn với tổng số 2.634 người.
[24] Tổng số Ban Công tác Mặt trận là 102.968, trong đó 60.818 Trưởng ban Công tác Mặt trận chuyên trách (chiếm tỷ lệ 59%); 33.853 Trưởng ban do Bí thư Chi bộ kiêm (chiếm tỷ lệ 32,87%); 1.522 Trưởng ban do Trưởng thôn hoặc Tổ trưởng dân phố kiêm (chiếm tỷ lệ 1,47%); 6.770 Trưởng ban do các chức danh khác kiêm *(chiếm tỷ lệ 6,57%). *Đã có 62/63 tỉnh, thành phố có chế độ phụ cấp cho Trưởng ban Công tác Mặt trận ở khu dân cư.
[25] Ban hành Quy chế phối hợp thống nhất hành động của các tổ chức thành viên trong Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (thay thế cho Quy chế cũ ban hành từ năm 1997); ban hành Chương trình phối hợp hằng năm giữa Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và Trung ương các đoàn thể chính trị-xã hội; phối hợp rà soát, thống nhất các phong trào, cuộc vận động để tránh chồng chéo về nội dung, đối tượng, nhất là ở địa bàn dân cư; thống nhất nội dung, cách thức triển khai, có phân công, phân nhiệm giữa Mặt trận và các tổ chức thành viên trong triển khai một số hoạt động giám sát;tăng cường phối hợp giữa các cơ quan báo chí, truyền thông của Mặt trận và các tổ chức thành viên trong tuyên truyền, phản ánh về công tác Mặt trận và tình hình các tầng lớp nhân dân…