Logo-print CƠ QUAN CỦA TRUNG ƯƠNG HỘI - TIẾNG NÓI CỦA CỰU CHIẾN BINH VIỆT NAM

Trở lại bài viết “Thi hành án đối với Công ty Melvgruop”: “Lý do tài sản lớn” có phải là lá chắn cho sự chậm trễ?

Bài, ảnh:  Doanh Chính 20/04/2026 - 10:49

Trong khi tài sản đã được xác định, thậm chí đã ban hành quyết định cưỡng chế kê biên, thì việc thi hành án vẫn tiếp tục kéo dài với lý do “giá trị tài sản lớn hơn nghĩa vụ”. Lập luận này liệu có đúng tinh thần pháp luật, hay đang bị vận dụng theo hướng trì hoãn, làm “treo” quyền lợi chính đáng của người được thi hành án?

ban-doc-1640
Trụ sở Thi hành án dân sự TP. Hà Nội.

Đã có tài sản, vì sao chưa thi hành?

Vụ việc thi hành án giữa Công ty cổ phần cung ứng kỹ thuật ATT và Công ty TNHH Giải pháp công nghiệp Melvgroup đã kéo dài qua nhiều giai đoạn, với hàng loạt quyết định được ban hành. Theo nội dung quyết định, Công ty Melvgroup có nghĩa vụ thanh toán cho Công ty ATT số tiền nợ gốc hơn 5,59 tỷ đồng, chưa kể lãi phát sinh theo quy định tại Điều 468 Bộ luật Dân sự cho đến khi thanh toán xong.

Đáng chú ý, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại lô đất V5A, ô số 31 khu nhà ở Văn Phú, phường Phú La, quận Hà Đông, TP. Hà Nội (nay là phường Kiến Hưng), TP. Hà Nội đã bị áp dụng biện pháp cưỡng chế kê biên theo quyết định của Chấp hành viên Phùng Thị Kim Liên.

Điều này đồng nghĩa với việc: Tài sản để thi hành án không còn là “ẩn số”, mà đã được xác định rõ ràng về pháp lý.

Thế nhưng, thay vì tiến hành các bước tiếp theo như định giá, bán đấu giá để thu hồi tiền thi hành án, cơ quan thi hành án lại đưa ra phương án... tiếp tục xác minh tài sản khác. Lý do được nêu trong văn bản trả lời Công ty ATT ngày 8-4-2026 của Chấp hành viên Phùng Thị Kim Liên là giá trị quyền sử dụng đất “lớn hơn nghĩa vụ thi hành án”, nên cần lựa chọn biện pháp phù hợp.

Câu hỏi đặt ra là: Khi tài sản đã rõ, đã kê biên, thì việc không xử lý ngay có còn phù hợp với quy định pháp luật hay không?

Theo Luật Thi hành án dân sự, khi người phải thi hành án có điều kiện thi hành thì Chấp hành viên phải tổ chức thi hành kịp thời. Việc đã kê biên tài sản chính là một biểu hiện rõ ràng “có điều kiện thi hành án” (nhất là khi người phải thi hành án không tự nguyện phối hợp thi hành án). Khi đó, việc chậm trễ chuyển sang giai đoạn xử lý tài sản là điều khó có thể lý giải nếu không có căn cứ pháp lý thực sự thuyết phục.

“Tài sản lớn” không phải lý do trì hoãn

Trong văn bản trả lời, Chấp hành viên Phùng Thị Kim Liên viện dẫn quy định tại Nghị định 62/2015/NĐ-CP (sửa đổi, bổ sung năm 2020), cho rằng cần lựa chọn biện pháp cưỡng chế tương ứng với nghĩa vụ thi hành án, tránh xử lý tài sản có giá trị quá lớn.

Về nguyên tắc, lập luận này không sai. Pháp luật quả thật yêu cầu việc áp dụng biện pháp cưỡng chế phải phù hợp, tránh gây thiệt hại không cần thiết.

Tuy nhiên, cũng cần nhìn nhận đầy đủ hơn là pháp luật không hề cấm việc xử lý tài sản có giá trị lớn. Ngược lại, Luật Thi hành án dân sự quy định rõ rằng “nếu xử lý tài sản có giá trị lớn hơn nghĩa vụ thi hành án, thì phần giá trị còn lại sẽ được hoàn trả cho người phải thi hành án”.

Nói cách khác, “tài sản lớn” không phải là rào cản pháp lý. Vấn đề nằm ở chỗ nếu không có tài sản nào khác đủ để thi hành nghĩa vụ, thì tài sản đã kê biên dù lớn đến mấy vẫn phải được xử lý theo quy định. Việc “né” tài sản này để đi tìm tài sản khác chỉ có ý nghĩa khi việc xác minh đó thực sự hiệu quả và có thời hạn rõ ràng.

Trong trường hợp này, văn bản của Chấp hành viên lại đưa ra một mốc thời gian “dự kiến 45 ngày để tiếp tục xác minh”. Đây là điểm gây nhiều băn khoăn.

Bởi lẽ, pháp luật không có quy định nào cho phép kéo dài việc xác minh theo kiểu “ấn định thêm thời gian” như vậy. Trách nhiệm của Chấp hành viên là phải xác minh kịp thời, liên tục và gắn với tiến độ thi hành án, chứ không phải thiết lập các khoảng thời gian “chờ đợi”.

Nếu sau 45 ngày vẫn không tìm được tài sản khác, thì sao? Câu trả lời cuối cùng vẫn là quay lại xử lý tài sản đã kê biên. Khi đó, toàn bộ quãng thời gian kéo dài trước đó sẽ trở nên vô nghĩa, thậm chí gây thiệt hại trực tiếp cho người được thi hành án.

Dấu hiệu thiếu quyết liệt, trách nhiệm thuộc về ai?

Từ diễn biến thực tế và nội dung văn bản trả lời, có thể thấy một điểm chung là quá trình thi hành án đang có dấu hiệu thiếu quyết liệt.

Việc đã ban hành quyết định cưỡng chế kê biên nhưng không triển khai các bước tiếp theo; việc tiếp tục kéo dài xác minh tài sản khác mà chưa có kết quả cụ thể; việc không đưa ra thời hạn dứt điểm rõ ràng... tất cả tạo nên một vòng luẩn quẩn trong tổ chức thi hành án.

Trong khi đó, Luật Thi hành án dân sự quy định rất rõ nguyên tắc thi hành án phải kịp thời, nghiêm minh, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các bên. Mọi sự chậm trễ, thiếu tích cực, nếu không có lý do chính đáng, đều có thể bị xem xét trách nhiệm.

Ở đây, vấn đề không chỉ là đúng hay sai về mặt viện dẫn pháp luật, mà là cách vận dụng pháp luật. Khi một quy định được sử dụng theo hướng làm chậm tiến độ thi hành án, thay vì thúc đẩy nó, thì cần phải đặt dấu hỏi về trách nhiệm công vụ.

Trách nhiệm đó trước hết thuộc về Chấp hành viên trực tiếp tổ chức thi hành án, mà trong trường hợp này là bà Phùng Thị Kim Liên. Đồng thời, trách nhiệm cũng đặt ra đối với cơ quan quản lý thi hành án trong việc kiểm tra, giám sát, chấn chỉnh kịp thời.

Một bản án đã có hiệu lực không thể bị chậm trễ chỉ vì những cách hiểu và vận dụng thiếu nhất quán. Quyền lợi của người được thi hành án không thể tiếp tục bị trì hoãn bởi những lý do mang tính kỹ thuật nhưng lại thiếu tính thuyết phục.

Câu hỏi cần được trả lời rõ ràng: nếu không phải là vướng mắc pháp lý, thì sự chậm trễ này xuất phát từ đâu? Và ai sẽ chịu trách nhiệm nếu việc thi hành án tiếp tục kéo dài?

Liên quan đến vụ việc nêu trên, trao đổi với luật sư Phan Thị Tĩnh - Đoàn luật sư TP. Hà Nội, bà cho biết: Thi hành án không thể là quá trình “lựa chọn thuận lợi”, càng không thể là cuộc thử nghiệm kéo dài. Một khi bản án đã có hiệu lực, đã có quyết định thi hánh án, có quyết định cưỡng chế thi hành án và tài sản đã xác định rõ ràng, thì trách nhiệm của Chấp hành viên không phải là tìm thêm lý do, mà là tổ chức thi hành dứt điểm, đúng pháp luật, đúng thời hạn.

Chấp hành viên đã xác định rõ tài sản kê biên là thửa đất, đã ban hành quyết định kê biên thì không thể quay lại “tìm tài sản khác trước”. Điều này sẽ tạo ra vòng lặp: Đã có tài sản, nhưng không xử lý mà lại đi tìm tài sản khác sẽ làm kéo dài việc thi hành án. Dấu hiệu trì hoãn có hệ thống! - Luật sư Tĩnh nói.

Đọc tiếp

Mới nhất

Trở lại bài viết “Thi hành án đối với Công ty Melvgruop”: “Lý do tài sản lớn” có phải là lá chắn cho sự chậm trễ?