Logo-print CƠ QUAN CỦA TRUNG ƯƠNG HỘI - TIẾNG NÓI CỦA CỰU CHIẾN BINH VIỆT NAM

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG: Những điểm chưa rõ trong một bản án về thừa kế

TƯ MỖ 12/08/2026 - 10:10

Trong vụ tranh chấp quyền sử dụng đất của gia đình cựu chiến binh (CCB) Vũ Văn Bậc, hai cấp Tòa án đã xác định một phần diện tích đất là di sản của người cha để lại và tuyên vô hiệu một phần giao dịch được lập từ năm 2006. Tuy nhiên, hồ sơ vụ án vẫn còn những tình tiết chưa được phân tích đầy đủ, số liệu về thừa kế chưa thống nhất và vấn đề pháp lý cần tiếp tục được làm rõ.

bd-1657-1005
Bản án phúc thẩm số 177 của Tòa phúc thẩm TAND tối cao tại Hà Nội có một số chi tiết chưa chính xác về tên đương sự Lê Thị Thoan hay Nguyễn Thị Thoan, ký hiệu bản án sơ thẩm và số liệu diện tích...

CCB Vũ Văn Bậc, sinh năm 1956, hiện cư trú tại thành phố Hải Phòng, có đơn đề nghị xem xét theo thủ tục giám đốc thẩm đối với bản án giải quyết vụ tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất giữa các thành viên trong gia đình.

Theo hồ sơ, tài sản tranh chấp là thửa đất số 251, tờ bản đồ số 7 tại thôn An Xá, trước đây thuộc huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho cụ Vũ Văn Tích ghi diện tích 237m². Kết quả đo đạc hiện trạng trong quá trình giải quyết vụ án xác định diện tích thực tế là 252,1m².

Cụ Vũ Văn Tích và cụ Vũ Thị Bóp có nhiều người con, trong đó có ông Vũ Văn Bậc. Cụ Tích chết năm 1995, không để lại di chúc. Năm 2006, cụ Bóp lập hồ sơ khai nhận di sản, sau đó ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông Bậc. Cơ quan có thẩm quyền đã hoàn tất thủ tục và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Bậc.

Đến nhiều năm sau, một số người con của cụ Tích, cụ Bóp khởi kiện yêu cầu chia thừa kế, tuyên vô hiệu hợp đồng chuyển nhượng và hủy giấy chứng nhận đã cấp cho ông Bậc.

Bản án sơ thẩm và phúc thẩm xác định quyền sử dụng đất là tài sản chung của cụ Tích và cụ Bóp. Sau khi cụ Tích chết, một nửa diện tích đất thuộc quyền của cụ Tích trở thành di sản. Cụ Bóp chỉ có quyền định đoạt phần đất của mình và phần di sản cụ được hưởng, không có quyền chuyển giao toàn bộ thửa đất cho ông Bậc.

Trên cơ sở đó, Tòa án tuyên hợp đồng năm 2006 vô hiệu một phần, hủy các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp và phân chia phần di sản cho các đồng thừa kế.

Việc xác định cụ Bóp không thể một mình định đoạt toàn bộ phần tài sản thuộc quyền của cụ Tích có cơ sở pháp lý nhất định. Tuy nhiên, đối chiếu nội dung bản án với đơn kiến nghị và các tài liệu liên quan, một số vấn đề quan trọng dường như chưa được phân tích, lý giải đầy đủ.

Cụ Tích đã cho đất khi còn sống hay chưa?

Vấn đề có ý nghĩa quyết định trong vụ án không chỉ là năm 2006 cụ Bóp có quyền chuyển nhượng toàn bộ thửa đất hay không, mà còn là trước khi chết, cụ Tích đã chuyển giao phần quyền sử dụng đất của mình cho ông Bậc trên thực tế hay chưa.

Ông Bậc trình bày rằng khoảng năm 1990, cha mẹ đã thống nhất cho vợ chồng ông sử dụng toàn bộ khu đất để xây dựng nhà ở, chăm sóc cha mẹ và làm nơi thờ cúng của gia đình. Năm 1991, vợ chồng ông xây nhà trên đất đó. Cụ Tích, cụ Bóp biết việc xây dựng, đồng ý và tiếp tục cùng sinh sống với gia đình ông.

Sau khi cụ Tích chết năm 1995, gia đình ông Bậc tiếp tục sử dụng đất công khai, ổn định. Đến năm 2015, ông tiếp tục xây dựng nhà kiên cố. Theo ông Bậc, trong thời gian dài, mẹ và những người anh, chị, em trong gia đình không phản đối việc sử dụng đất, xây nhà.

Nếu những trình bày trên được chứng minh bằng lời khai nhân chứng, hồ sơ xây dựng, tài liệu quản lý đất đai và các chứng cứ khác thì đây là tình tiết đặc biệt quan trọng.

Bởi lẽ, nếu cụ Tích đã cho đất và giao đất trên thực tế khi còn sống, ông Bậc đã nhận đất, xây dựng nhà, quản lý công khai với sự đồng ý của cha mẹ thì cần làm rõ phần quyền sử dụng đất đó có còn là di sản tại thời điểm cụ Tích chết hay không.

Tuy nhiên, phần nhận định của bản án phúc thẩm chủ yếu tập trung vào hồ sơ khai nhận di sản và hợp đồng chuyển nhượng được lập năm 2006. Bản án phân tích việc cụ Bóp có điểm chỉ vào hợp đồng, việc giao dịch ghi là chuyển nhượng nhưng thực chất là cho đất và giới hạn quyền định đoạt của cụ Bóp.

 Trong khi đó, nội dung ông Bậc cho rằng đã được cụ Tích cho đất từ năm 1990 chưa được tách thành một vấn đề độc lập để phân tích toàn diện.

Bản án chưa thể hiện rõ lời khai của những người biết hoặc chứng kiến việc cho đất được đánh giá như thế nào; việc ông Bậc xây nhà từ năm 1991 có được cụ Tích đồng ý hay không; cụ Tích đã cùng sinh sống trong ngôi nhà đó trong thời gian bao lâu; vì sao việc xây nhà, sử dụng đất công khai khi cụ Tích còn sống không đủ căn cứ xác định có sự chuyển giao đất trên thực tế.

Việc chưa phân tích rõ nhóm tình tiết này có thể dẫn đến nguy cơ xác định khối di sản chỉ dựa trên giấy chứng nhận và quan hệ huyết thống, nhưng chưa xem xét đầy đủ quá trình định đoạt, sử dụng tài sản trước khi người để lại di sản chết.

Vụ án cũng có những tình tiết cần được đối chiếu với Án lệ số 03/2016/AL của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao. Án lệ này đề cập trường hợp cha mẹ cho đất, người con đã xây dựng nhà kiên cố, quản lý và sử dụng công khai, các thành viên trong gia đình biết mà không phản đối.

Tình tiết của hai vụ việc không hoàn toàn giống nhau. Tuy nhiên, khi ông Bậc viện dẫn việc được cha cho đất, xây nhà và sử dụng ổn định từ khi cha còn sống, Tòa án cần phân tích vụ án có thuộc trường hợp pháp lý tương tự để áp dụng án lệ hay không. Nếu không áp dụng thì cần chỉ rõ những điểm khác biệt có tính chất quyết định.

Bản án phúc thẩm chưa thể hiện rõ quá trình đối chiếu và lập luận này.

Diện tích tăng thêm thuộc về ai?

Một vấn đề khác cần làm rõ là sự chênh lệch giữa diện tích đất ghi trong giấy chứng nhận và diện tích đo đạc thực tế.

Giấy chứng nhận mang tên cụ Vũ Văn Tích ghi 237m², trong khi đo đạc hiện trạng xác định 252,1m², tăng 15,1m².

Tòa án xác định toàn bộ 252,1m² là tài sản chung của cụ Tích và cụ Bóp, với nhận định đất có ranh giới ổn định và không tranh chấp với các hộ liền kề.

Tuy nhiên, việc không có tranh chấp ranh giới mới chỉ chứng minh tình trạng quản lý, sử dụng hiện tại. Yếu tố này chưa đương nhiên chứng minh toàn bộ diện tích tăng thêm đã tồn tại và thuộc quyền của cụ Tích, cụ Bóp từ trước năm 1995.

Để có căn cứ đưa 15,1m² tăng thêm vào khối tài sản chung và sau đó tính một phần vào di sản, cần xác định rõ vị trí phần đất tăng thêm; hình thể thửa đất qua các thời kỳ; nguyên nhân chênh lệch diện tích; thời điểm hình thành; đây là sai số đo đạc hay có sự thay đổi ranh giới, đổi đất hoặc nhận chuyển giao thêm.

Trong trường hợp diện tích tăng thêm hình thành sau khi cụ Tích chết, do gia đình ông Bậc quản lý, cải tạo hoặc nhận chuyển giao, việc đưa toàn bộ phần đất này vào khối di sản sẽ cần được xem xét lại.

Bản án chưa giải thích cụ thể nguồn gốc của 15,1m² mà chủ yếu dựa vào việc đất không có tranh chấp với hộ liền kề. Cách lập luận này chưa trả lời được câu hỏi quan trọng: Không tranh chấp với hàng xóm có đồng nghĩa phần đất tăng thêm là di sản của cụ Tích hay không?

Ngoài ra, cách tính diện tích cụ Bóp được quyền định đoạt trong bản án cũng có dấu hiệu chưa thống nhất.

Bản án xác định tổng diện tích thực tế là 252,1m², trong đó phần quyền của cụ Bóp là một nửa, tương đương 126,05m². Sau khi trích công sức quản lý cho gia đình ông Bậc, phần di sản còn lại của cụ Tích là 120m², được chia thành tám kỷ phần, mỗi kỷ phần 15m².

Như vậy, nếu cụ Bóp vừa có 126,05m² thuộc phần tài sản của mình, vừa được hưởng 15m² thừa kế của cụ Tích thì tổng diện tích cụ có quyền định đoạt là 141,05m².

Thế nhưng, tại một phần nhận định, bản án lại xác định cụ Bóp chỉ được quyền định đoạt 135,6m², mà không giải thích cách tính.

Chênh lệch này không đơn thuần là một con số kỹ thuật. Nó liên quan trực tiếp đến phần hợp đồng được công nhận, phần bị tuyên vô hiệu, diện tích được đưa ra chia thừa kế và quyền lợi của từng đương sự.

Nếu đây là lỗi ghi chép thì cần được đính chính. Nếu là kết quả tính toán của Tòa án thì cần công khai rõ phương pháp, căn cứ và các phần diện tích đã được khấu trừ.

Công sức quản lý và tài sản trên đất đã được tính đủ?

Ông Bậc và gia đình đã sinh sống, quản lý, sử dụng thửa đất trong thời gian dài. Bản án cũng ghi nhận gia đình ông có công sức quản lý, bảo quản di sản và trích cho vợ chồng ông 6,05m² đất, trị giá hơn 13,5 triệu đồng.

Tuy nhiên, phần nhận định chưa lý giải vì sao công sức quản lý trong nhiều năm lại được quy đổi chính xác thành 6,05m² (?!).

Tòa án chưa nêu rõ thời gian quản lý được tính từ năm nào; công sức chăm sóc cha mẹ, bảo quản đất, sửa chữa nhà cửa, duy trì hiện trạng, thực hiện nghĩa vụ tài chính được đánh giá theo tiêu chí nào; phần đóng góp của vợ chồng ông Bậc trong việc làm tăng giá trị tài sản được tính ra sao.

Việc xác định công sức thuộc quyền đánh giá của Hội đồng xét xử, nhưng kết quả phải được lập luận rõ để các đương sự hiểu và có thể kiểm tra tính hợp lý.

Tương tự, ông Bậc phản ánh trên đất còn có nhà tắm, nhà vệ sinh, bể nước và một số công trình phụ do gia đình ông xây dựng. Trong khi đó, bản án chỉ đề cập một số tài sản như nhà cũ, cây nhãn, mái tôn, bếp và sân.

Cần kiểm tra lại biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ, biên bản định giá và sơ đồ phân chia để xác định toàn bộ công trình đã được thống kê hay chưa; có tài sản nào bị bỏ sót; việc xác định giá trị một số công trình bằng 0 đồng có phù hợp thực tế hay không.

Nếu một phần đất có công trình do ông Bậc tạo lập được giao cho người khác thì quyền lợi của người tạo lập tài sản phải được giải quyết đầy đủ.

Bản án phúc thẩm còn có một số chi tiết chưa chính xác về tên đương sự, ký hiệu bản án sơ thẩm và số liệu diện tích. Những sai sót kỹ thuật này có thể không phải căn cứ để hủy bản án, nhưng cần được đính chính nhằm tránh khó khăn trong quá trình thi hành.

Từ những vấn đề trên, có thể thấy vụ án không chỉ là tranh chấp giữa các thành viên trong một gia đình, mà còn đặt ra yêu cầu phải đánh giá đầy đủ quá trình sử dụng đất, ý chí của người có tài sản, chứng cứ về việc cho đất trên thực tế và nguồn gốc từng phần diện tích.

Báo Cựu chiến binh Việt Nam cho rằng, để bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự, các cơ quan có thẩm quyền cần kiểm tra toàn bộ hồ sơ; làm rõ việc cụ Vũ Văn Tích có cho ông Vũ Văn Bậc đất khi còn sống hay không; xem xét việc áp dụng Án lệ số 03/2016/AL; xác định nguồn gốc 15,1m² đất tăng thêm; kiểm tra lại cách tính phần đất cụ Vũ Thị Bóp được định đoạt và việc xác định công sức quản lý di sản.

Trường hợp phát hiện có căn cứ cho rằng kết luận của bản án chưa phù hợp với tình tiết khách quan, chứng cứ quan trọng chưa được đánh giá đầy đủ hoặc có sai lầm trong áp dụng pháp luật, Chánh án TAND tối cao, Viện trưởng VKSND tối cao cần xem xét kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm.

Việc xem xét lại vụ án không nhằm phủ nhận toàn bộ quá trình xét xử, mà nhằm bảo đảm mọi tình tiết có ý nghĩa quyết định đều được phân tích, mọi con số đều có căn cứ và quyền lợi của các bên được xác định trên sự thật khách quan của vụ việc.

Đọc tiếp

Mới nhất

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG: Những điểm chưa rõ trong một bản án về thừa kế