CƠ QUAN CỦA TRUNG ƯƠNG HỘI - TIẾNG NÓI CỦA CỰU CHIẾN BINH VIỆT NAM TẦM VÓC VĨ NHÂN VÀ DI SẢN VĂN HÓA TRƯỜNG TỒN CỦA THÁI ÚY LÝ THƯỜNG KIỆT TRONG DÒNG CHẢY LỊCH SỬ DÂN TỘC
Trải qua khoảng lùi lịch sử gần một thiên niên kỷ, tên tuổi và đức nghiệp của Việt quốc công Lý Thường Kiệt chưa bao giờ phai nhạt trong tâm thức hậu thế. Tuy nhiên, nếu các nghiên cứu trước đây thường chú trọng nhiều đến khía cạnh thao lược trận mạc, phá Tống bình Chiêm, thì bài nghiên cứu này hướng tới một cái nhìn toàn diện, sâu sắc và đa chiều hơn, mong muốn đi sâu phân tích, hệ thống hóa và làm nổi bật những cống hiến vĩ đại của ông trên phương diện Văn hóa.
Trong biên niên sử hào hùng của dân tộc Việt Nam, vương triều Lý (1009 - 1225) được xem là thời kỳ bản lề phục hưng toàn diện quốc gia Đại Việt sau hơn một ngàn năm Bắc thuộc trầm luân. Đó là kỷ nguyên của những đỉnh cao về cả võ công lẫn văn trị, nơi khẳng định vị thế độc lập vững chắc của một quốc gia tự chủ ở phương Nam. Trên nền trời rực rỡ của thời đại ấy, Thái úy Lý Thường Kiệt nổi lên như một trong những ngôi sao chói lọi nhất. Ông không chỉ là một nhà quân sự kiệt xuất với chiến lược “tiên phát chế nhân” chấn động sử sách, một nhà chính trị và ngoại giao lỗi lạc qua ba triều vua Lý, mà vượt lên trên tất cả, ông còn là một nhà văn hóa lớn- người đặt nền móng và định hình một cách sâu sắc cho hệ ý thức tự chủ dân tộc và lòng yêu nước thiết tha của người Việt cổ.
Trải qua khoảng lùi lịch sử gần một thiên niên kỷ, tên tuổi và đức nghiệp của Việt quốc công Lý Thường Kiệt chưa bao giờ phai nhạt trong tâm thức hậu thế. Tuy nhiên, nếu các nghiên cứu trước đây thường chú trọng nhiều đến khía cạnh thao lược trận mạc, phá Tống bình Chiêm, thì bài nghiên cứu này hướng tới một cái nhìn toàn diện, sâu sắc và đa chiều hơn, mong muốn đi sâu phân tích, hệ thống hóa và làm nổi bật những cống hiến vĩ đại của ông trên phương diện Văn hóa. Từ tư duy khẳng định chủ quyền lãnh thổ đến nghệ thuật quy tụ lòng dân qua tín ngưỡng tâm linh, và đặc biệt là sự nghiệp trung hưng Phật giáo, kiến tạo di sản kiến trúc - tất cả đã hợp thành một pho lịch sử sống động, chứng minh rằng Lý Thường Kiệt không chỉ bảo vệ bờ cõi bằng thanh gươm mà còn bằng chính sức mạnh nội sinh bền bỉ của nền văn hiến Đại Việt.
1. Chí khí phi thường và cuộc đời quan lộ vĩ đại qua ba triều vua Lý
Lý Thường Kiệt (1019 - 1105), quê ở làng Cơ Xá, kinh thành Thăng Long, sinh trưởng trong một gia đình có truyền thống võ quan. Cuộc đời ông là một bản tráng ca về sự vượt lên nghịch cảnh, biến những bi kịch cá nhân ngặt nghèo thành nguồn năng lượng cống hiến vô bờ bến cho giang sơn xã tắc. Bước vào chốn cung đình từ thời thiếu niên, bằng tài năng xuất chúng, ý chí can trường và một nhân cách cao đẹp, ông đã trải qua chặng đường quan lộ kéo dài hơn nửa thế kỷ, phụng sự tuyệt đối trung thành và xuất sắc qua 3 đời vua liên tiếp: Lý Thái Tông (1028 – 1054), Lý Thánh Tông (1054 – 1072) và Lý Nhân Tông (1072 – 1127).
Dưới triều vua Lý Thái Tông, ông từng bước khẳng định năng lực điều hành và tư duy nhạy bén trong các công việc nội chính và thị vệ. Đến thời Lý Thánh Tông, tài năng quân sự và chính trị của ông nở rộ, được phong chức Thái úy - vị trí tổng chỉ huy quân đội toàn quốc, trở thành cánh tay phải đắc lực cùng nhà vua xây dựng quân đội Đại Việt chính quy, tinh nhuệ. Đặc biệt, bước sang triều Lý Nhân Tông, khi hoàng đế còn nhỏ tuổi, Thái úy Lý Thường Kiệt cùng Linh nhân Hoàng hậu Ỷ Lan đã gánh vác trọng trách nhiếp chính, chèo lái con thuyền quốc gia vượt qua những cơn sóng gió thử thách mang tính sống còn của lịch sử. Đánh giá về đức nghiệp lẫy lừng của ông, vị Hải Chiếu đại sư Pháp Bảo - một bậc cao tăng danh tiếng, đồng thời là người từng làm việc dưới quyền ông trong những năm ông làm trấn thủ Châu Ái - đã kính cẩn viết trong văn bia cổ: “Giúp chính sự cho ba triều, dẹp yên loạn biên tái, chỉ khoảng vài năm mà tám phương yên lặng, công thật to lớn”.
Sự tận hiến của Lý Thường Kiệt không hề bị giới hạn bởi quy luật tuổi tác. Lịch sử đã ghi nhận một hành trình phi thường: làm việc ở Châu Ái suốt 19 năm trời, đến năm 1101, khi vua Lý Nhân Tông mời ông trở về triều giữ chức Tể tướng, lúc này ông đã ở tuổi 82. Dù tóc đã bạc, sức đã mỏi nhưng lòng trung quân ái quốc và chí khí nam nhi vẫn rực cháy, ông tiếp tục tình nguyện cầm quân đi đánh giặc Lý Giác ở Diễn Châu (năm 1103) và dẹp giặc Chiêm Thành quấy nhiễu ở Bố Chính (năm 1104). Không dừng lại ở đó, ông còn tự tay tổ chức lại quân đội, duyệt đổi lại các đơn vị từ cấm binh đến dân quân, củng cố vững chắc tiềm lực quốc phòng Đại Việt trước khi về cõi vĩnh hằng vào năm 1105, hưởng thọ 86 tuổi. Khi mất, ông được triều đình phong tặng danh hiệu cao quý: Kiểm hiệu Thái úy bình chương quân quốc trọng sự, Việt quốc công, và được lập đền thờ ở nhiều nơi. Ghi nhận công lao to lớn ấy, các triều đại phong kiến về sau đã truy tặng cho Lý Thái úy tới 258 mỹ tự - một con số kỷ lục minh chứng cho sự kính ngưỡng tuyệt đối của lịch sử đối với một vĩ nhân.
2. Di sản văn hóa Lý Thường Kiệt: Đỉnh cao ý thức tự chủ dân tộc
Bên cạnh những chiến công hiển hách làm kinh tâm động phách đối phương, giá trị trường tồn và đóng góp đắt giá nhất của Thái úy Lý Thường Kiệt nằm ở những di sản văn hóa tinh thần vô giá mà ông để lại cho hậu thế. Tư duy văn hóa của ông không tách rời hiện thực quốc gia mà gắn liền chặt chẽ với ý thức tự chủ, tự cường dân tộc, được biểu hiện sinh động qua ba trục cốt lõi: văn chương chính trị, văn hóa tâm linh và sự nghiệp phát triển Phật giáo.
Là đóng góp văn hóa đỉnh cao, mang tầm vóc xuyên suốt nghìn năm lịch sử của bậc vĩ nhân Lý Thường Kiệt chính là việc sử dụng bài thơ thần Nam quốc sơn hà trong bối cảnh phù hợp, thời điểm tối ưunhất, giữa lúc cuộc kháng chiến chống quân Tống bước vào giai đoạn cam go, khốc liệt nhất trên phòng tuyến sông Như Nguyệt, tác phẩm đã vang lên đầy uy nghiêm, làm chấn động cả một khúc sông biên giới. Dưới góc độ quân sự, đây là một đòn tâm lý chiến bậc thầy, bẻ gãy ý chí xâm lược ngay từ trong tâm trí đối phương, đồng thời thổi bùng ngọn lửa quyết chiến của quân dân Đại Việt. Nhưng trên hết, xét dưới nhãn quan văn hóa và chính trị, tác phẩm này chính là bản Tuyên ngôn Độc lập đầu tiên của dân tộc. Bản hùng ca mang trọn khí phách và tinh thần ái quốc của người Việt, mà khi soi chiếu vào, mỗi câu từ như được đúc bằng lửa: ngọn lửa thiêng của lòng kiên trung và ý chí bất khuất từ thuở cha ông, biểu thị trọn vẹn chủ quyền cùng sức mạnh dân tộc. Sự xuất hiện của hai chữ “Nam Đế” ở đây mang giá trị vô cùng đắt giá; nó là lời tuyên bố đanh thép rằng chúng ta chưa từng và không bao giờ là kẻ chư hầu, nước Nam có Hoàng đế riêng với tư thế độc lập, ngang hàng hoàn toàn với các triều đại phương Bắc.
Ý nghĩa tối thượng ấy là niềm tự tôn dân tộc sâu sắc được bảo chứng vững chắc bởi “sách Trời”, biến lời thơ không chỉ dừng lại ở sự khẳng định chủ quyền trên giấy trắng mực đen, mà còn khéo léo mượn uy linh thần thánh để đập tan dã tâm quân bạo ngược. Bài thơ khẳng định một cách đanh thép, tuyệt đối chủ quyền lãnh thổ quốc gia không chỉ dựa trên thực tế địa giới mà còn được kết tinh thành chân lý tối cao, bất khả xâm phạm qua hai chữ “thiên thư”. Đặc biệt, danh xưng “Nam đế” được sử dụng đầy kiêu hãnh, định vị người đứng đầu giang sơn phương Nam ở thế đối trọng sòng phẳng với các hoàng đế phương Bắc. Trong một kỷ nguyên mà các thế lực phong kiến phương Bắc luôn sản sinh tư duy bành trướng và coi các quốc gia xung quanh là phục dịch, việc khẳng định tư thế bình đẳng “Nam đế” chính là một bước đột phá vĩ đại về cả hệ tư tưởng chính trị lẫn văn hóa độc lập. Tác phẩm nhờ đó đã trở thành biểu tượng tinh thần bất tử, là bệ đỡ tư tưởng vững chắc cho khát vọng tự chủ dân tộc của muôn đời hậu thế.
Một đóng góp văn hóa mang tính nghệ thuật lãnh đạo thiên tài của Lý Thường Kiệt là việc ông đã khéo léo gắn kết văn hóa tâm linh bản địa với lòng yêu nước thiết tha. Trong cuộc chiến bảo vệ giang sơn, ông đã chủ động mượn uy linh của hai vị thần Trương Hống, Trương Hát (Đức Thánh Tam Giang) - những vị anh hùng có công được nhân dân thờ phụng, để khích lệ sĩ khí quân dân. Bằng cách hòa quyện niềm tinthiêng liêng vào công lý chính nghĩa với sức mạnh của thế giới tâm linh, ông đã biến tín ngưỡng dân gian mộc mạc thành một thứ vũ khí tinh thần vô song, kiến tạo nên sức mạnh đoàn kết toàn dân chống giặc ngoại xâm.
Dưới tầm nhìn của nhà văn hóa Lý Thường Kiệt, thế giới tâm linh không mang màu sắc mị dân hay mê tín dị đoan, mà trái lại, nó trở thành chất keo gắn kết khối đại đoàn kết quốc gia. Ông thấu hiểu sâu sắc rằng, khi lòng dân đã hòa cùng ý chí của thần linh, khi niềm tin vào chính nghĩa được linh thiêng hóa, thì sức mạnh của khối đại đoàn kết ấy sẽ trở thành một thành trì bất khả xâm phạm. Đây là một đóng góp quan trọng vào dòng chảy văn hóa quân sự và văn hóa chính trị Việt Nam, thể hiện sự tôn trọng sâu sắc đối với các giá trị văn hóa bản địa của nhân dân.
Dựa trên các tư liệu lịch sử quý báu và các văn bia cổ còn lưu lại, các nhà nghiên cứu khẳng định Thái úy Lý Thường Kiệt là một người cực kỳ mộ đạo Phật. Tuy nhiên, lòng mộ đạo của ông không dừng lại ở đức tin cá nhân mà được hiện thực hóa bằng một sự nghiệp xây dựng, tu bổ đền chùa và phát triển Phật giáo vô cùng rộng lớn, biến Phật giáo thời bấy giờ trở thành một nét đẹp văn hóa tín ngưỡng sâu sắc, thành chỗ dựa tinh thần vững chắc cho nhân dân Đại Việt.
Trong 19 năm trấn thủ Châu Ái, ông đã để lại những dấu ấn đậm nét trong việc trùng tu cổ tự và trung hưng Phật giáo tại vùng đất biên viễn này. Điển hình như ngôi chùa Hương Nghiêm giáp Bối Lý (thuộc xã Thiệu Trung, huyện Thiệu Hóa ngày nay) - một ngôi chùa có lịch sử lâu đời từ thời nhà Đinh và Tiền Lê, từng được các vua Lê Đại Hành, Lý Thái Tông tuần du và ban lệnh tu bổ. Đến năm Đinh Mão (1087), khi chùa bị hư hỏng nặng, nhận được đề xuất tu bổ từ địa phương, Lý Thường Kiệt đã không ngần ngại đứng ra tự mình sắm sửa gỗ lạt, huy động thợ thuyền khởi công đại trùng tu, trả lại sự uy nghiêm, tráng lệ cho ngôi cổ tự. Hành động ấy không chỉ cứu vãn một di sản kiến trúc mà còn củng cố niềm tin tôn giáo của nhân dân vùng đất Thanh Hóa.
Đặc biệt nhất phải kể đến sự kiện kiến tạo chùa Linh Xứng trên núi Ngưỡng Sơn vào năm 1126. Theo nội dung văn bia chùa Linh Xứng do đại sư Thích Pháp Bảo soạn (trong tác phẩm “Thơ văn Lý Trần”, do GS. Nguyễn Huệ Chi dịch), tư duy văn hóa và tầm nhìn vĩ đại của Lý Thường Kiệt đã được lưu danh thiên cổ qua lời tự sự đầy minh triết:“Cái mà kẻ trí người nhân ưa thích là núi, là sông; cái mà thế đại lưu truyền là danh, là đạo. Nếu mở núi mà làm cho “đạo” và “danh” rạng rỡ thì không đáng quý hay sao?”
Chùa Linh Xứng dưới bàn tay kiến tạo của ông đã trở thành ngôi chùa cổ nhất khai sáng đạo Phật cho xứ Thanh, và tấm bia chùa Linh Xứng cũng chính là một trong những bảo vật quý hiếm bậc nhất thuộc loại cổ còn lưu lại đến ngày nay. Thông qua văn bia này, hậu thế không chỉ thấy được một pho lịch sử cách đây gần một ngàn năm, mà đặc biệt còn được chiêm ngưỡng tấm lòng bao dung, tầm nhìn văn hóa vĩ mô và công tích vĩ đại của vị danh nhân. Ông đã biến các ngôi chùa không chỉ thành nơi thờ tự, mà thành các trung tâm văn hóa giáo dục, nơi xoa dịu những đau thương mất mát của chiến tranh và nuôi dưỡng thiện tâm cho trăm họ.
3. Tầm nhìn kinh tế - xã hội gắn liền với văn hóa dân sinh
Một khái niệm độc đáo khác chứng minh tư duy đại văn hóa của Lý Thường Kiệt chính là tầm nhìn quản lý kinh tế - xã hội dựa trên nền tảng triết lý nhân văn “lấy dân làm gốc”. Văn bia chùa Linh Xứng đã ghi lại một nhận thức vô cùng sâu sắc và tiến bộ của ông: “Thái úy biết dân lấy no ấm làm đầu, nước lấy nghề nông làm gốc cho nên không để lỡ thời vụ”. Sự quan tâm sâu sắc đến nông vụ của một vị tổng trấn tối cao không chỉ là chính sách kinh tế mà đã nâng tầm thành một nét đẹp trong văn hóa cai trị - văn hóa dân sinh.
Giải quyết dân sự: Ông thân chinh đến tận giáp Bối Lý để trực tiếp xử lý các vụ tranh chấp ruộng đất của người dân, mang lại sự công bằng, ổn định cho làng xã.
Phát triển làng nghề: Đốc suất thuộc hạ tìm ra nguồn đá quý ở núi Nhồi, tạo điều kiện phát triển nghề đá thủ công mỹ nghệ truyền thống ở Thanh Hóa, mở mang nghề đục đá và khắc chạm mỹ nghệ vang danh cho đến tận ngày nay.
Giao thông và Thủy lợi: Trực tiếp chỉ huy công việc đào vét, khơi thông kênh nhà Lê (tuyến kênh Đồng Cổ được đào từ thời vua Lê Hoàn), nối liền sông Mã với sông Lương tại địa bàn xã Yên Trung (Yên Định ngày nay), tạo mạng lưới giao thông thủy huyết mạch phục vụ thông thương và tưới tiêu nông nghiệp.
Khai hoang lập ấp: Cho lập ra trang A Đô ở thời kỳ này, mở rộng không gian sinh tồn và thúc đẩy sản xuất cho cư dân đương thời.
Chính nhờ vào lòng đức độ bao la, sự khoan dung và trí tuệ sáng suốt của Lý Thường Kiệt, người dân không chỉ được hưởng lợi ích to lớn trên nhiều lĩnh vực đời sống mà còn có thêm động lực mạnh mẽ để đẩy mạnh sản xuất, hăng hái xây dựng và bảo vệ đất nước. Ông đã chứng minh một chân lý văn hóa sâu sắc: một quốc gia chỉ thực sự mạnh khi lòng dân an yên, kinh tế hưng thịnh và văn hóa xã hội phát triển hài hòa.
4. Nghìn năm sau nhớ Lý Thường Kiệt - Sức sống của một di sản trường tồn
Hơn chín thế kỷ trôi qua, hình tượng Thái úy Lý Thường Kiệt vẫn vẹn nguyên sự linh thiêng và lòng tôn kính trong tâm khảm nhân dân. Về xã Hà Ngọc, huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa vào những ngày xuân lộng gió, chúng ta sẽ được chiêm bái Di tích quốc gia đền thờ Lý Thường Kiệt - ngôi đền tọa lạc trên một khuôn viên rộng lớn, uy nghiêm hướng mặt ra dòng sông Lèn lịch sử, xưa kia nằm giáp bên ngôi chùa Linh Xứng tự danh tiếng.
Trải qua bao thăng trầm của thời gian và chiến tranh, nhờ tấm lòng “nghìn năm sau nhớ Lý Thường Kiệt”, người dân qua nhiều thế hệ đã chung tay góp công, góp của để trùng tu, tôn tạo nên một ngôi đền khang trang như ngày hôm nay. Kiến trúc gian chính ngôi đền được xây dựng theo lối kiến trúc truyền thống 5 gian, 2 chái, mái lợp ngói âm dương trầm mặc. Hệ thống cột kèo và các “vì” được chạm khắc vô cùng tinh xảo với các họa tiết hoa văn về tứ linh, cây cỏ thiên nhiên, thể hiện đỉnh cao của nghệ thuật kiến trúc dân gian. Từ những tên gọi ban đầu trong lịch sử như miếu Ngưỡng Sơn, đền Ngưỡng Sơn, đền Lý Thái úy đến đền Lý Đại vương... ngôi đền vẫn lưu giữ được nhiều hiện vật cổ, văn bia đá quý hiếm.
Người dân vùng đất Hà Trung vẫn luôn truyền tai nhau những câu chuyện linh thiêng xung quanh ngôi đền này. Đặc biệt, trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, khi khúc sông Lèn là “địa đầu sóng gió”, là huyết mạch giao thông tiếp tế vận chuyển vào mặt trận phía Nam chịu hàng ngàn trận bom cày xới, thì riêng ngôi đền thờ Thái úy Lý Thường Kiệt vẫn đứng vững vàng, không hề bị bom đạn dội trúng. Sức sống ấy, sự kỳ diệu ấy như một minh chứng biểu tượng rằng: tinh thần độc lập, ý chí tự chủ văn hóa mà ông kiến tạo sẽ mãi mãi được chở che, trường tồn cùng sông núi.
Kết luận
Thái úy Lý Thường Kiệt là một nhân cách lớn, một anh hùng dân tộc vĩ đại bậc nhất của lịch sử Việt Nam với tầm nhìn văn hóa vĩ mô vượt thời đại. Những đóng góp của ông - từ bản Tuyên ngôn độc lập đầu tiên khẳng định chủ quyền đến sự nghiệp trung hưng Phật giáo và kiến tạo di sản dân sinh - đã trở thành mạch nguồn nuôi dưỡng khí phách Việt Nam.
Nhằm tiếp tục soi chiếu toàn diện và sâu sắc hơn tầm vóc của bậc vĩ nhân, vừa qua, vào ngày 28/06/2026, Trung tâm Nghiên cứu & Bảo tồn Văn hóa Tín ngưỡng Việt Nam cùng Ban khánh tiết Đền Cơ Xá đã long trọng tổ chức Hội thảo khoa học "Đền Cơ Xá và việc thờ phụng Thái úy Lý Thường Kiệt trong không gian văn hóa Thăng Long - Hà Nội xưa và nay" tại Giảng đường Ngụy Như Kon Tum (Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, ĐHQG Hà Nội).Sự kiện ý nghĩa này không chỉ khẳng định giá trị trường tồn của di sản tinh thần mà Lý Thường Kiệt để lại, mà còn là bài học sâu sắc cho thế hệ hôm nay trong công cuộc xây dựng, phát triển đất nước và bảo vệ vững chắc chủ quyền dân tộc trên trường quốc tế.Ông vinh dự là một trong 14 vị anh hùng dân tộc tiêu biểu nhất lịch sử. Tầm vóc vĩ đại cùng di sản vô giá của ông mãi là niềm tự hào, sống mãi trong tâm thức nhân dân.
Di sản văn hóa tinh thần của ông chính là ngọn đuốc soi đường, là bài học sâu sắc cho thế hệ hôm nay và mai sau trong công cuộc xây dựng, phát triển đất nước, bảo vệ vững chắc chủ quyền và phát huy nền văn hiến Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc trên trường quốc tế, như mạch cảm xúccháy mãi ngàn năm:
Như Nguyệt sóng rền vang ý Chúa,
Ngưỡng Sơn chuông vọng rạng lòng dân.
Gươm thần, thơ thánh nghìn năm cũ,
Vẫn độ giang sơn vạn đại xuân.”
Đọc tiếp
- Ngày 11/9 tại không gian Hồ Văn thuộc di tích Quốc gia đặc biệt Văn Miếu- Quốc Tử Giám, Hà Nội. Trung tâm Hoạt động Văn...
- Lễ hội Đền Minh Lương năm 2026, diễn ra từ ngày 06/9 đến ngày 08/9, là dịp để không gian văn hóa, tín ngưỡng nơi đây...
- Trong khuôn khổ các hoạt động giao lưu, tìm hiểu văn hóa Việt Nam, Đại sứ Đặc mệnh toàn quyền Cộng hòa Pháp Olivier...
- Tối 2/9, chương trình “Hello Vietnam - Hello World” đã diễn ra tại Quảng trường 2 tháng 4 (phường Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa)....
- Theo thông tin của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Thanh Hóa cho biết: Trong 5 ngày nghỉ lễ Quốc khánh 2/9/2026 (từ ngày...
Mới nhất
- Nhận lời mời của Chủ tịch Tổ chức phúc lợi xã hội - Hội CCB Hàn Quốc tham chiến tại Việt Nam, từ ngày 6 đến...
- Phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đang bước sang một giai đoạn mới, khi yêu cầu đặt ra không dừng ở việc...
- Tiếp tục hành trình tri ân các gia đình thân nhân liệt sĩ có hoàn cảnh khó khăn, với đạo lý dân tộc Việt Nam “Uống...
- Bộ CHQS tỉnh Phú Thọ và Hội Cựu chiến binh tỉnh vừa tổ chức hội nghị ký kết quy chế phối hợp giai đoạn 2026-2030. Hai...
- Những lá đơn tình nguyện nhập ngũ đang lan tỏa tinh thần trách nhiệm trong tuổi trẻ xã Hải Lựu. Đó không chỉ là sự...
- Ngày 10/9, tại Thao trường Suối Cối, xã Phú Mỡ (tỉnh Đắk Lắk), Quân khu 5 tổ chức thực binh bắn đạn thật và bế mạc...
- Sở GD&ĐT Thanh Hóa vừa ban hành Công văn số 4754/SGDĐT-KHTC hướng dẫn thực hiện các khoản thu, chi trong các cơ sở giáo dục...
- Sáng 10/9 (theo giờ địa phương), tại Cung Nhà nước ở thủ đô Ulan Bator, ngay sau hội đàm, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh...
- Qua đối chiếu nhiều nguồn tư liệu lịch sử, lời kể nhân chứng và kết quả khảo sát thực địa, Hội thảo xác minh,...
- Tối 9/9 (giờ địa phương), Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cùng Phu nhân và Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam rời thủ...
- Nhân chuyến thăm cấp Nhà nước của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cùng Phu nhân và Đoàn Đại biểu cấp cao Việt...
- Ngày 9/9, tại Điện Kremlin, sau Lễ đón trọng thị với nghi thức cấp nhà nước, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng...
- Ngày 9-9, Đảng ủy Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Trung ương tổ chức Hội nghị nghiên cứu, học tập, quán triệt,...
- Trong khuôn khổ chuyến thăm chính thức Mông Cổ, chiều 9/9 theo giờ địa phương, tại thủ đô Ulan Bator, Chủ tịch Quốc...
- Cỡ chữ Mặc định


















