Logo-print CƠ QUAN CỦA TRUNG ƯƠNG HỘI - TIẾNG NÓI CỦA CỰU CHIẾN BINH VIỆT NAM

Tự chủ chiến lược về quốc phòng: Tầm nhìn của Đảng trong kỷ nguyên mới

Bài 2: Hiện thực hóa những mục tiêu then chốt (Tiếp theo và hết)

Thượng tá, TS Nguyễn Văn Phương và Đại úy QNCN Trương Minh Khôi 02/09/2026 - 16:44

Tự chủ chiến lược về quốc phòng không thể dừng ở nhận thức hay quyết tâm chính trị. Một tư duy chiến lược chỉ chứng minh đầy đủ sức sống khi được chuyển hóa thành thể chế, lực lượng, tiềm lực, thế trận, công nghiệp quốc phòng và năng lực hành động thực tế.

anh-bai-2

Tổ hợp tên lửa phòng không S-125-VT là phiên bản do Việt Nam hiện đại hóa của hệ thống tên lửa phòng không S-125M. Ảnh: laodong.vn 

Đại hội XIV của Đảng đã phát triển rõ tư duy bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, từ khi nước chưa nguy. Văn kiện khẳng định: “Từ yêu cầu của thực tiễn, Đảng ta đã từng bước phát triển, hoàn thiện nhận thức lý luận về bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, từ khi nước chưa nguy” (1). Cùng với đó, Đảng nhấn mạnh tư tưởng chỉ đạo là đề cao tính “tích cực, chủ động”; kết hợp chặt chẽ xây dựng với bảo vệ, lấy xây dựng để bảo vệ; tích cực, chủ động xây dựng, chuẩn bị đất nước vững mạnh về mọi mặt ngay từ trong thời bình…(2) Đây là chuyển biến rất quan trọng: Bảo vệ Tổ quốc không đợi đến khi nguy cơ hiện hình mới ứng phó, mà phải chủ động tạo lập thế ổn định chiến lược, ngăn ngừa nguy cơ từ gốc, từ xa, từ lúc còn là mầm mống.

Từ yêu cầu đó, hiện thực hóa tự chủ chiến lược về quốc phòng cần tập trung vào ba đột phá có quan hệ chặt chẽ với nhau: Đột phá về nhận thức, thể chế và năng lực dự báo chiến lược; đột phá về xây dựng lực lượng vũ trang tinh, gọn, mạnh, hiện đại; đột phá về phát triển công nghiệp quốc phòng, an ninh chủ động, tự lực, tự cường, lưỡng dụng, hiện đại gắn với đối ngoại quốc phòng linh hoạt, hiệu quả. Khi ba đột phá ấy được triển khai đồng bộ, tự chủ chiến lược sẽ từng bước được vật chất hóa thành cấu trúc sức mạnh thực tế của quốc gia.

Một là, nâng cao nhận thức, năng lực dự báo chiến lược và hoàn thiện thể chế để giữ vững quyền tự quyết quốc phòng

Nhận thức đúng luôn là điểm khởi đầu của mọi chuyển biến thực chất trong quốc phòng. Quốc phòng trong điều kiện mới không thể chỉ được hiểu theo nghĩa hẹp là tổ chức lực lượng và chuẩn bị tác chiến, mà phải được đặt trong chỉnh thể chiến lược bảo đảm và bảo vệ cao nhất lợi ích quốc gia, dân tộc.

Khi nguy cơ an ninh có thể hình thành từ dữ liệu, không gian mạng, hạ tầng số, chuỗi cung ứng, công nghệ lõi, an ninh con người, an ninh môi trường và trạng thái đồng thuận xã hội, tư duy quốc phòng cũng phải được mở rộng tương ứng. Không nhận diện đúng hình thái đe dọa mới thì không thể chuẩn bị đúng nguồn lực bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

Thể chế hóa là bước chuyển quyết định để biến nhận thức đúng thành năng lực hành động. Một chủ trương đúng sẽ khó phát huy hiệu lực nếu không được tổ chức bằng hệ thống pháp luật, cơ chế phối hợp, quy trình điều hành và chế độ đầu tư tương ứng. Tự chủ chiến lược về quốc phòng vì thế đòi hỏi tiếp tục hoàn thiện đồng bộ thể chế liên quan đến quốc phòng, an ninh, dữ liệu, không gian mạng, công nghệ lưỡng dụng, chuỗi bảo đảm kỹ thuật và xử lý các tình huống chiến lược.

Giá trị thực chất của thể chế hóa nằm ở chỗ biến định hướng thành cơ chế vận hành có hiệu lực, có phân công rõ, có trách nhiệm rõ và có khả năng phản ứng nhanh trước biến động. Quan trọng hơn, thể chế phải tạo được kỷ luật phối hợp thống nhất, bảo đảm mọi lực lượng, nguồn lực và phương án xử trí vận hành thông suốt.

Năng lực dự báo chiến lược là thành tố không thể thiếu của quyền tự chủ quốc phòng. Một nền quốc phòng tự chủ không chỉ mạnh ở khả năng ứng phó, mà trước hết phải mạnh ở khả năng nhận diện sớm xu thế, phát hiện sớm rủi ro, đánh giá đúng tác động và chuẩn bị trước phương án xử lý. Trong thời đại hiện nay, dự báo chiến lược phải được nâng lên ở trình độ phân tích liên ngành, bởi nguy cơ an ninh thường hình thành từ sự đan xen giữa công nghệ, dữ liệu, kinh tế, không gian mạng, truyền thông, đối ngoại và trạng thái xã hội. Chỉ khi dự báo đúng và chuẩn bị sớm, đất nước mới không rơi vào bị động chiến lược. Dự báo càng sớm, đối sách càng chủ động, khả năng huy động nguồn lực càng kịp thời, quyền tự quyết quốc phòng càng được củng cố trong cả thời bình và khi tình huống phức tạp xuất hiện.

Hai là, xây dựng lực lượng vũ trang tinh, gọn, mạnh, hiện đại, làm chủ các không gian tác chiến và an ninh mới

Đại hội XIV xác định nhiệm vụ “Xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại” (3). Yêu cầu đó cho thấy tự chủ chiến lược về quốc phòng không thể đứng vững nếu việc hiện đại hóa lực lượng bảo vệ Tổ quốc chậm hơn tốc độ biến đổi của chiến tranh hiện đại và môi trường an ninh mới. Lực lượng vũ trang hôm nay không chỉ cần sức mạnh chiến đấu theo nghĩa truyền thống, mà còn phải có năng lực xử lý những tình huống đan xen giữa quân sự, công nghệ, dữ liệu, không gian mạng và các yếu tố xã hội.

Nội hàm “tinh, gọn, mạnh” cần được hiểu như một yêu cầu tái cấu trúc sức mạnh, không phải một công thức hành chính. Tinh, gọn là giảm khâu trung gian không cần thiết, tăng tốc độ chỉ huy, nâng cao hiệu quả phối hợp và tập trung nguồn lực cho những năng lực cốt lõi. Mạnh không chỉ là mạnh về số lượng, mà trước hết là mạnh về bản lĩnh chính trị, chất lượng huấn luyện, năng lực số, khả năng làm chủ công nghệ và sức phản ứng trước tình huống phức tạp. Một lực lượng đông nhưng chậm, trang bị nhiều nhưng thiếu đồng bộ, hiện đại cục bộ mà không tích hợp tốt thì chưa thể tạo thành sức mạnh tự chủ chiến lược.

Không gian tác chiến và không gian an ninh của thời đại số buộc lực lượng vũ trang phải được xây dựng theo yêu cầu mới. Quốc phòng hiện đại phải đủ năng lực phòng vệ mạng, bảo vệ dữ liệu chiến lược, bảo vệ hạ tầng số, chống gây nhiễu thông tin, chống tấn công mạng quy mô lớn, ứng phó hiệu quả với chiến tranh thông tin, chiến tranh tâm lý và các thủ đoạn thao túng nhận thức. Con người vẫn là yếu tố quyết định chiều sâu của đột phá này. Công nghệ không tự chuyển hóa thành sức mạnh nếu không có đội ngũ đủ năng lực làm chủ, khai thác, tích hợp vào thực tiễn chỉ huy, tác chiến và bảo đảm.

Đại hội XIV đồng thời nhấn mạnh lực lượng bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa là “Toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và cả hệ thống chính trị, cả nhân dân trong nước và người Việt Nam ở nước ngoài, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý, điều hành thống nhất của Nhà nước, lấy lực lượng vũ trang nhân dân làm nòng cốt” (4). Chính vì vậy, xây dựng lực lượng vũ trang tinh, gọn, mạnh, hiện đại phải luôn gắn với xây dựng nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân và thế trận lòng dân vững chắc.

Ba là, phát triển công nghiệp quốc phòng, an ninh chủ động, tự lực, tự cường, lưỡng dụng, hiện đại gắn với đối ngoại quốc phòng linh hoạt, hiệu quả

Công nghiệp quốc phòng, an ninh là nền tảng vật chất trực tiếp của tự chủ chiến lược về quốc phòng. Đại hội XIV xác định yêu cầu “Xây dựng nền công nghiệp quốc phòng, an ninh chủ động, tự lực, tự cường, lưỡng dụng, hiện đại” (5). Quyền tự quyết chiến lược của quốc gia không thể được bảo đảm đầy đủ nếu những khâu cốt lõi của bảo đảm quốc phòng còn lệ thuộc kéo dài vào bên ngoài. Một nền quốc phòng chưa làm chủ được công nghệ, khí tài, phụ tùng, phần mềm, dữ liệu và chuỗi bảo đảm kỹ thuật sẽ rất khó giữ vững thế chủ động trong những tình huống phức tạp.

Công nghiệp quốc phòng trong giai đoạn mới không thể chỉ dừng ở sản xuất một số trang bị đơn lẻ hay sửa chữa kỹ thuật theo yêu cầu trước mắt. Công nghiệp quốc phòng hiện đại phải từng bước đi vào những khâu có giá trị chiến lược cao hơn như nghiên cứu, thiết kế, tích hợp, cải tiến, làm chủ dữ liệu và tiếp cận công nghệ nền tảng. Tính lưỡng dụng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, vì đó không chỉ là cách nâng cao hiệu quả đầu tư, mà còn là con đường kết nối quốc phòng với công nghiệp quốc gia, kết nối nghiên cứu quân sự với đổi mới sáng tạo dân sự và kết nối công nghệ quốc phòng với sức chống chịu của nền kinh tế.

Tự lực, tự cường trong công nghiệp quốc phòng không đồng nghĩa với khép kín. Đối ngoại quốc phòng linh hoạt, hiệu quả là phương thức quan trọng để phục vụ tự chủ. Hợp tác quốc tế giúp tranh thủ tri thức, công nghệ phù hợp, kinh nghiệm đào tạo, hợp tác nghiên cứu, đồng thời góp phần tăng lòng tin chiến lược, giảm nguy cơ hiểu lầm và mở rộng không gian giữ nước từ sớm, từ xa. Giá trị của đối ngoại quốc phòng chỉ được khẳng định đầy đủ khi mọi hợp tác đều hướng vào mục tiêu làm mạnh thêm nội lực, mở rộng năng lực tự chủ và không tạo ra những lệ thuộc mới.

Tự chủ chiến lược về quốc phòng chỉ thật sự thành hiện thực khi tinh thần của Đại hội XIV được chuyển hóa thành đột phá ở nhận thức, thể chế, dự báo chiến lược, tổ chức lực lượng, công nghiệp quốc phòng và đối ngoại quốc phòng. Khi những đột phá ấy được triển khai đồng bộ, quốc phòng Việt Nam sẽ có thêm năng lực tự quyết, tự bảo vệ và tự phát triển; đủ sức giữ nước từ sớm, từ xa, từ khi nước chưa nguy; đồng thời tạo lá chắn vững chắc cho khát vọng đưa đất nước tiến mạnh trong kỷ nguyên mới.

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

1, Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, tập II, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2026, tr.73.

2, Đảng Cộng sản Việt Nam, Sđd, tr.75.

3, Đảng Cộng sản Việt Nam, Sđd, tr.264.

4, Đảng Cộng sản Việt Nam, Sđd, tr.75-76.

5, Đảng Cộng sản Việt Nam, Sđd, tr.264.

Đọc tiếp

Mới nhất

Bài 2: Hiện thực hóa những mục tiêu then chốt (Tiếp theo và hết)