Logo-print CƠ QUAN CỦA TRUNG ƯƠNG HỘI - TIẾNG NÓI CỦA CỰU CHIẾN BINH VIỆT NAM

Giữ vững vị trí, vai trò cơ quan tư pháp trong Quân đội vì lợi ích Quốc gia

Bài 2: Cần giữ nguyên vị trí pháp lý và vai trò tố tụng của cơ quan điều tra trong Quân đội (Tiếp theo kỳ trước)

Thượng tướng Bế Xuân Trường 17/07/2026 - 15:41

Duy trì thẩm quyền điều tra của Cơ quan điều tra hình sự trong Quân đội là yêu cầu khách quan để bảo đảm sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp của Đảng đối với Quân đội và nâng cao hiệu quả hoạt động tư pháp quân sự.

quansu-17333916223751248867223
Ảnh: baochinhphu

Một trong những đặc điểm cơ bản làm nên sự khác biệt của Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam so với nhiều mô hình quân đội trên thế giới là nguyên tắc Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với Quân đội. Đây không chỉ là nguyên tắc chính trị được khẳng định trong các văn kiện của Đảng mà còn được cụ thể hóa trong Hiến pháp, pháp luật về quốc phòng và hệ thống các quy định về tổ chức, hoạt động của Quân đội.

  Nguyên tắc này chi phối toàn bộ hoạt động xây dựng lực lượng, tổ chức chỉ huy, quản lý quân nhân và thực hiện nhiệm vụ quốc phòng. Do đó, hệ thống tư pháp quân sự nói chung và Cơ quan điều tra hình sự  (ĐTHS) trong Quân đội nói riêng không chỉ thực hiện chức năng tố tụng theo quy định của pháp luật mà còn là một bộ phận của cơ chế bảo đảm thực hiện hiệu quả nguyên tắc lãnh đạo của Đảng trong lĩnh vực quốc phòng.

  Điều cần nhấn mạnh là sự lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội không đồng nghĩa với sự can thiệp vào hoạt động điều tra, truy tố hoặc xét xử từng vụ án cụ thể. Ngược lại, trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa (XHCN), mọi hoạt động tư pháp đều phải tuân thủ Hiến pháp và pháp luật, bảo đảm tính độc lập trong việc đánh giá chứng cứ và ra các quyết định tố tụng. Tuy nhiên, sự lãnh đạo của Đảng được thể hiện ở việc định hướng xây dựng tổ chức bộ máy, xác lập nguyên tắc hoạt động, lựa chọn mô hình tổ chức phù hợp và bảo đảm để các cơ quan tư pháp quân sự thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị của Quân đội.

  Ở phương diện này, việc duy trì thẩm quyền điều tra của Cơ quan ĐTHS trong Quân đội có ý nghĩa quan trọng đối với công tác lãnh đạo, chỉ huy và quản lý lực lượng. Thông qua hoạt động điều tra, các cơ quan điều tra quân sự không chỉ làm rõ trách nhiệm hình sự của cá nhân phạm tội mà còn phát hiện những bất cập trong công tác lãnh đạo, quản lý, giáo dục, huấn luyện và tổ chức thực hiện nhiệm vụ của đơn vị. Những kết luận điều tra vì vậy trở thành nguồn thông tin quan trọng phục vụ việc hoàn thiện cơ chế quản lý, tăng cường kỷ luật quân đội và nâng cao chất lượng công tác xây dựng Đảng trong Quân đội.

  Nếu phần lớn các vụ án liên quan đến quân nhân được điều tra bởi cơ quan ngoài Quân đội, thông tin phản ánh từ quá trình điều tra đến cấp ủy, chỉ huy và các cơ quan chức năng trong Quân đội sẽ chủ yếu thông qua cơ chế phối hợp hoặc trao đổi nghiệp vụ.Điều đó có thể đáp ứng yêu cầu giải quyết vụ án ở góc độ tố tụng nhưng khó có thể thay thế vai trò của hoạt động điều tra quân sự trong việc tổng kết thực tiễn, đánh giá nguyên nhân hệ thống và kiến nghị hoàn thiện công tác quản lý nội bộ.

  Do đó, xét trên phương diện quản trị quốc phòng, thẩm quyền điều tra của Cơ quan ĐTHS trong Quân đội còn là một công cụ quan trọng giúp cấp ủy, chỉ huy các cấp nhận diện những nguy cơ ảnh hưởng đến kỷ luật, sức mạnh chiến đấu và chất lượng xây dựng đơn vị, từ đó có biện pháp phòng ngừa hiệu quả. Đây là giá trị mà một cơ chế điều tra mang tính ủy thác hoặc phối hợp khó có thể phát huy đầy đủ.

  Mục tiêu của việc sửa đổi Luật Tổ chức cơ quan ĐTHS là hoàn thiện tổ chức bộ máy, nâng cao hiệu quả điều tra, tránh chồng chéo về thẩm quyền và bảo đảm giải quyết vụ án nhanh chóng, khách quan, toàn diện. Tuy nhiên, đối chiếu với các mục tiêu này, quy định tại khoản 2 Điều 7 và khoản 2 Điều 17 của dự thảo Luật vẫn còn một số vấn đề cần được nghiên cứu kỹ hơn.

  Thứ nhất, tiêu chí xác định "tội phạm chính" chưa có cơ sở pháp lý rõ ràng. Khoản 2 Điều 7 dự thảo quy định trường hợp người phạm tội thực hiện nhiều tội phạm thuộc thẩm quyền của các cơ quan điều tra khác nhau thì cơ quan điều tra và Viện kiểm sát sẽ thống nhất xác định "tội phạm chính"; tội phạm chính thuộc thẩm quyền của cơ quan nào thì cơ quan đó điều tra toàn bộ vụ án.

  Quy định này có ưu điểm là hướng tới việc hạn chế chia tách vụ án. Tuy nhiên, khái niệm "tội phạm chính" hiện chưa phải là thuật ngữ pháp lý được định nghĩa trong pháp luật hình sự hoặc tố tụng hình sự. Dự thảo Luật cũng chưa đưa ra tiêu chí cụ thể để xác định tội phạm chính là căn cứ vào mức cao nhất của khung hình phạt, mức độ nguy hiểm cho xã hội, hậu quả của hành vi, mục đích phạm tội hay yếu tố khác. Sự thiếu hụt này có thể dẫn đến cách hiểu và áp dụng không thống nhất giữa các cơ quan THTT, làm phát sinh tranh luận hoặc kéo dài thời gian xác định thẩm quyền, trong khi một trong những yêu cầu quan trọng của tố tụng hình sự là nhanh chóng, kịp thời và rõ ràng ngay từ giai đoạn khởi tố. Đặc biệt, trong các vụ án liên quan đến quân nhân, yếu tố cần ưu tiên xem xét không chỉ là tính chất của từng tội danh mà còn là tác động của vụ án đối với kỷ luật Quân đội, bí mật quốc phòng và nhiệm vụ quân sự. Đây là những yếu tố mà tiêu chí "tội phạm chính" không phản ánh đầy đủ.

  Thứ hai, quy định giao Cơ quan CSĐT điều tra toàn bộ vụ án chỉ vì "tội phạm chính" thuộc thẩm quyền của mình chưa bảo đảm phù hợp với đặc thù của Quân đội. Trong thực tiễn, một vụ án có thể đồng thời bao gồm nhiều hành vi phạm tội khác nhau.Hành vi có khung hình phạt cao nhất chưa chắc đã là hành vi có ý nghĩa quyết định đối với việc bảo vệ kỷ luật Quân đội. Ví dụ, một vụ án có quân nhân thực hiện hành vi phạm tội ngoài xã hội đồng thời phát sinh các vi phạm nghiêm trọng về quản lý vũ khí, quản lý doanh trại hoặc thực hiện nhiệm vụ quân sự. Nếu chỉ căn cứ vào tội danh có mức hình phạt cao nhất để xác định thẩm quyền điều tra thì rất dễ bỏ qua yêu cầu điều tra toàn diện những nguyên nhân, điều kiện phát sinh vi phạm trong nội bộ Quân đội. Điều này không phù hợp với bản chất của hoạt động điều tra trong Quân đội, vốn không chỉ hướng tới xử lý người phạm tội mà còn nhằm phát hiện sơ hở trong quản lý, nâng cao hiệu quả phòng ngừa và củng cố sức mạnh chiến đấu.

  Thứ ba, quy định tại khoản 2 Điều 17 về cơ chế "ủy thác điều tra" chưa đáp ứng yêu cầu điều tra toàn diện, khách quan. Theo dự thảo, trong trường hợp vụ án không liên quan đến bí mật quân sự, không xảy ra trong doanh trại hoặc khu vực quân sự nhưng có bị hại hoặc người phạm tội là quân nhân thì Cơ quan  cảnh sát điều tra (CSĐT) Công an cấp tỉnh vẫn tiến hành điều tra, chỉ ủy thác cho Cơ quan ĐTHS điều tra các tình tiết liên quan đến quân nhân. Quy định này đặt ra một số vấn đề như sau:

  Một là, ĐTHS là quá trình nhận thức tổng thể đối với toàn bộ vụ án. Các chứng cứ không tồn tại độc lập mà có mối liên hệ hữu cơ với nhau. Việc chia cắt hoạt động điều tra theo từng nhóm tình tiết rất dễ làm mất đi cái nhìn tổng thể về diễn biến vụ án.

   Hai là, trong nhiều trường hợp, các tình tiết liên quan đến quân nhân không thể tách rời khỏi các tình tiết khác. Động cơ phạm tội, quan hệ đồng phạm, điều kiện phát sinh tội phạm, việc quản lý cán bộ, quản lý vũ khí hoặc thực hiện nhiệm vụ quân sự thường có mối liên hệ chặt chẽ với toàn bộ diễn biến vụ án. Nếu Cơ quan ĐTHS chỉ tham gia dưới hình thức ủy thác thì rất khó đánh giá đầy đủ bản chất của vụ án.

   Ba là, cơ chế ủy thác điều tra còn làm gia tăng thủ tục phối hợp giữa hai hệ thống cơ quan điều tra, kéo dài thời gian giải quyết vụ án, phát sinh nguy cơ trùng lặp hoặc bỏ sót hoạt động điều tra. Điều này trái với mục tiêu cải cách tư pháp là tinh gọn, hiệu quả và nâng cao chất lượng điều tra.

   Bốn là, quy định của dự thảo có thể làm thu hẹp vai trò của hệ thống tư pháp quân sự.Khi xảy ra oan sai, sót lọt tội phạm, rất khó để quy kết trách nhiệm thuộc cơ quan nào.

  Từ những phân tích trên có thể thấy, mặc dù dự thảo Luật hướng tới mục tiêu nâng cao hiệu quả phân định thẩm quyền điều tra, nhưng các quy định tại khoản 2 Điều 7 và khoản 2 Điều 17 dự thảo Luật vẫn cần được tiếp tục nghiên cứu, đánh giá tác động một cách toàn diện, đặc biệt đối với hoạt động của hệ thống tư pháp quân sự. Trong điều kiện hiện nay, việc tiếp tục duy trì cơ chế chuyển giao toàn bộ vụ án có liên quan đến quân nhân cho Cơ quan ĐTHS khi thuộc phạm vi thẩm quyền của tư pháp quân sự vẫn là phương án bảo đảm tốt hơn yêu cầu điều tra khách quan, toàn diện, giữ nghiêm kỷ luật Quân đội và bảo vệ sức mạnh chiến đấu của lực lượng vũ trang nhân dân.

  (Còn nữa)

Thượng tướng Bế Xuân Trường - Phó chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam, Chủ tịch Hội CCB Việt Nam

Đọc tiếp

Mới nhất

Bài 2: Cần giữ nguyên vị trí pháp lý và vai trò tố tụng của cơ quan điều tra trong Quân đội (Tiếp theo kỳ trước)