CƠ QUAN CỦA TRUNG ƯƠNG HỘI - TIẾNG NÓI CỦA CỰU CHIẾN BINH VIỆT NAM QUÁN TRIỆT NGHỊ QUYẾT TRUNG ƯƠNG 2 KHÓA XIV:
Thống nhất nhận thức, quyết liệt hành động vì mục tiêu phát triển bền vững
Sáng 13-4, Ban Bí thư Trung ương Đảng chủ trì tổ chức Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV. Đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm dự và phát biểu chỉ đạo Hội nghị.
Tham dự Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập và triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương 2 có: Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm; nguyên Chủ tịch nước Trương Tấn Sang (dự tại điểm cầu Tây Ninh), nguyên Chủ tịch nước Lương Cường; Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng, nguyên Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính; nguyên Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng; Thường trực Ban Bí thư Trần Cẩm Tú; các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, nguyên Bí thư Trung ương Đảng; các đồng chí Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng; lãnh đạo các ban, bộ, ngành Trung ương, địa phương, cơ quan, đơn vị;…
Hội nghị được kết nối trực tuyến tới 36.323 điểm cầu ở Trung ương, cấp tỉnh, cấp xã, cơ quan, đơn vị với gần 2,2 triệu đảng viên tham dự tại các điểm cầu. Tại điểm cầu Trung ương Hội Cựu chiến binh Việt Nam, Trung tướng Khuất Việt Dũng - Phó bí thư Đảng uỷ, Phó chủ tịch Hội Cựu chiến binh Việt Nam chủ trì cùng sự tham dự của lãnh đạo, cán bộ Ban Công tác Cựu chiến binh Trung ương Hội, Báo Cựu Chiến binh Việt Nam, Làng Hữu nghị Việt Nam.
Hội nghị được tổ chức với mục tiêu tạo sự thống nhất cao cả về nhận thức lẫn hành động trong toàn hệ thống chính trị đối với các chủ trương, quyết sách quan trọng của Trung ương. Thông qua hội nghị, đội ngũ cán bộ, đảng viên có điều kiện tiếp cận, nghiên cứu và nắm vững những nội dung cốt lõi, những điểm mới nổi bật cũng như các nhiệm vụ trọng tâm được nêu trong Nghị quyết. Đây là cơ sở quan trọng để bảo đảm việc quán triệt Nghị quyết không chỉ dừng lại ở mức độ lý luận mà còn được chuyển hóa thành hành động cụ thể, thiết thực.
Trên nền tảng nhận thức đầy đủ và sâu sắc, các cấp ủy, tổ chức đảng và cơ quan, đơn vị sẽ chủ động xây dựng chương trình, kế hoạch hành động phù hợp với điều kiện thực tiễn. Việc cụ thể hóa này cần bảo đảm tính khả thi, sát với tình hình thực tế, đồng thời hướng đến hiệu quả rõ rệt trong quá trình triển khai. Qua đó, Nghị quyết không chỉ mang ý nghĩa định hướng mà còn trở thành kim chỉ nam cho mọi hoạt động lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện ở từng cấp, từng ngành.
Hội nghị quán triệt nội dung cốt lõi, điểm mới, trọng tâm các Nghị quyết, Quy định, Kết luận của Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV gồm: Chuyên đề 1 “Quy định về thi hành Điều lệ Đảng” do đồng chí Nguyễn Duy Ngọc - Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tổ chức Trung ương trình bày; Chuyên đề 2 “Nghị quyết về đổi mới, nâng cao hiệu lực công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật đảng; Quy định về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng” do đồng chí Trần Sỹ Thanh - Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương; Chuyên đề 3 “Những nội dung cơ bản của Quy định về công tác chính trị, tư tưởng trong Đảng” do đồng chí Trịnh Văn Quyết - Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương trình bày; Chuyên đề 4 “Nghị quyết về tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực trong giai đoạn mới” - do đồng chí Lê Minh Trí - Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Nội chính Trung ương; Chuyên đề 5 “Kết luận về Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, tài chính quốc gia và vay, trả nơi công, đầu tư công trung hạn 5 năm 2026-2030 gắn với thực hiện mục tiêu phấn đấu tăng trưởng “2 con số” do đồng chí Nguyễn Thanh Nghị - Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Chính sách, chiến lược Trung ương trình bày.
Chuyên đề 1 “Quy định về thi hành Điều lệ Đảng”
Việc ban hành Quy định số 20-QĐ/TW về thi hành Điều lệ Đảng là một dấu mốc quan trọng, thể hiện rõ quyết tâm chính trị của Ban Chấp hành Trung ương trong việc cụ thể hóa Nghị quyết Đại hội XIV và đáp ứng yêu cầu cấp thiết của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong bối cảnh mới. Không chỉ kế thừa những giá trị đã được thực tiễn kiểm nghiệm, Quy định còn bổ sung nhiều nội dung mang tính đổi mới, tạo động lực nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức đảng.
Trước hết, Quy định được xây dựng trên nền tảng tuân thủ chặt chẽ Điều lệ Đảng, đồng thời tiếp thu có chọn lọc ý kiến từ các cấp ủy, tổ chức đảng và cơ quan Trung ương. Điều này thể hiện sinh động nguyên tắc tập trung dân chủ, bảo đảm mọi quy định đều xuất phát từ thực tiễn và phục vụ thực tiễn. Những nội dung sửa đổi liên quan đến tiêu chuẩn đảng viên, quy trình kết nạp, quản lý và sinh hoạt đảng cho thấy sự linh hoạt cần thiết nhưng vẫn giữ vững kỷ luật, kỷ cương của Đảng.
Một điểm nổi bật của Quy định là định hướng đổi mới tổ chức bộ máy và phương thức lãnh đạo theo hướng tinh gọn, hiệu quả. Việc thí điểm thành lập đảng bộ trong khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước và phân cấp mạnh mẽ hơn cho các tổ chức đảng đủ điều kiện đã mở ra hướng đi phù hợp với sự phát triển của nền kinh tế nhiều thành phần. Những đổi mới này không chỉ tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng mà còn nâng cao tính chủ động, giảm tải cho các cấp quản lý.
Bên cạnh đó, Quy định thể hiện tư duy đổi mới trong tổ chức các cơ quan tham mưu, giúp việc của Đảng khi trao quyền chủ động cho Bộ Chính trị, Ban Bí thư trong việc quyết định mô hình tổ chức và chức năng nhiệm vụ. Đây là cơ sở quan trọng để xây dựng bộ máy tinh gọn, linh hoạt, thích ứng với yêu cầu thực tiễn.
Đáng chú ý, Quy định đã tạo nền tảng thúc đẩy chuyển đổi số trong Đảng thông qua việc số hóa hồ sơ đảng viên, xây dựng cơ sở dữ liệu tập trung và triển khai sinh hoạt đảng trên môi trường số. Đây là bước tiến tất yếu, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý, tăng tính minh bạch và tiết kiệm nguồn lực.
Trong công tác cán bộ, nhiều cơ chế linh hoạt được bổ sung như việc chỉ định nhân sự trong trường hợp đặc biệt hay thực hiện kiêm nhiệm chức danh. Chủ trương bí thư đồng thời là người đứng đầu cơ quan, đơn vị góp phần tăng cường sự lãnh đạo thống nhất, khắc phục tình trạng chồng chéo, phân tán trách nhiệm. Đồng thời, việc đẩy mạnh phân cấp, ủy quyền cho thường trực cấp ủy giúp nâng cao tính kịp thời, hiệu quả trong xử lý công việc.
Việc thống nhất nhiệm kỳ chi bộ là 5 năm cũng là bước đi quan trọng, tạo sự đồng bộ trong toàn hệ thống, giúp các tổ chức cơ sở đảng chủ động hơn trong xây dựng kế hoạch dài hạn, gắn với nhiệm vụ phát triển của địa phương, đơn vị.
Tổng thể, Quy định số 20-QĐ/TW không chỉ mang ý nghĩa kỹ thuật mà còn thể hiện tư duy đổi mới, sáng tạo trong công tác xây dựng Đảng. Đây là bước chuẩn bị quan trọng cho chặng đường phát triển tiếp theo, góp phần củng cố vai trò lãnh đạo toàn diện của Đảng trong sự nghiệp cách mạng của đất nước.
Chuyên đề 2 “Nghị quyết về đổi mới, nâng cao hiệu lực công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật đảng; Quy định về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng”
Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV đã diễn ra thành công, đánh dấu bước phát triển quan trọng trong tư duy và hành động của Đảng về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật. Việc thông qua hai văn bản có ý nghĩa chiến lược không chỉ tạo lập “hành lang pháp lý” đồng bộ mà còn đặt nền móng vận hành cho toàn bộ hoạt động kiểm tra, giám sát trong nhiệm kỳ mới, đáp ứng yêu cầu xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển với nhiều thời cơ và thách thức đan xen.
Trên cơ sở tổng kết thực tiễn 20 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 khóa X, Nghị quyết mới về đổi mới, nâng cao hiệu lực công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật Đảng đã thể hiện rõ bước tiến về nhận thức lý luận. Trong bối cảnh quốc tế và khu vực diễn biến phức tạp, cùng với quá trình đổi mới mạnh mẽ trong nước, đặc biệt là yêu cầu phát triển nhanh, bền vững, nguy cơ phát sinh tham nhũng, tiêu cực cũng gia tăng. Điều đó đặt ra yêu cầu cấp thiết phải nâng cao chất lượng công tác kiểm tra, giám sát như một công cụ kiểm soát quyền lực hiệu quả.
Điểm nổi bật của Nghị quyết là xác định kiểm tra, giám sát không chỉ là chức năng lãnh đạo mà còn là cơ chế để Đảng tự chỉnh đốn, tự hoàn thiện. Đây là nhiệm vụ thường xuyên của toàn Đảng, gắn liền với trách nhiệm của mỗi cấp ủy, tổ chức đảng và từng đảng viên, đặc biệt là người đứng đầu. Đồng thời, công tác này phải được đặt trong mối quan hệ chặt chẽ với công tác chính trị, tư tưởng, tổ chức và cán bộ, nhằm bảo đảm tính thống nhất trong phương thức lãnh đạo của Đảng.
Không dừng lại ở việc phát hiện và xử lý vi phạm, Nghị quyết còn nhấn mạnh vai trò kiến tạo của công tác kiểm tra, giám sát. Theo đó, việc kiểm tra phải góp phần thúc đẩy đổi mới, bảo vệ những cán bộ dám nghĩ, dám làm vì lợi ích chung, đồng thời kiên quyết xử lý nghiêm các hành vi suy thoái, tham nhũng, tiêu cực với tinh thần “không có vùng cấm, không có ngoại lệ”. Đây chính là sự kết hợp hài hòa giữa tính nghiêm minh và tính phát triển, giữa kỷ luật và động lực đổi mới.
Về mục tiêu, Nghị quyết hướng tới nâng cao hiệu lực kiểm soát quyền lực, ngăn chặn suy thoái và củng cố kỷ luật, kỷ cương trong Đảng; đồng thời tăng cường giám sát từ sớm, từ xa để phòng ngừa vi phạm ngay từ khi mới manh nha. Để hiện thực hóa các mục tiêu đó, hệ thống giải pháp được đề ra toàn diện, từ nâng cao nhận thức, hoàn thiện thể chế, đổi mới phương pháp đến đẩy mạnh chuyển đổi số và kiện toàn tổ chức bộ máy.
Song song với Nghị quyết, việc ban hành Quy định mới về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng đã cụ thể hóa các quan điểm chỉ đạo thành các nguyên tắc, cơ chế và thẩm quyền rõ ràng. Những điểm mới như tăng cường phân cấp, mở rộng quyền hạn cho ủy ban kiểm tra, ứng dụng công nghệ trong giám sát, hay hoàn thiện cơ chế phối hợp liên ngành đã tạo điều kiện để công tác kiểm tra, giám sát trở nên chủ động, hiệu quả hơn. Đặc biệt, việc cho phép khai thác dữ liệu liên thông và áp dụng các biện pháp nghiệp vụ hiện đại thể hiện quyết tâm chuyển đổi số toàn diện trong lĩnh vực này.
Có thể khẳng định, hai văn bản được thông qua tại Hội nghị Trung ương lần này không chỉ hoàn thiện thể chế mà còn tạo ra bước chuyển căn bản trong phương thức kiểm soát quyền lực của Đảng. Đây là cơ sở quan trọng để nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng, củng cố niềm tin của Nhân dân và bảo đảm cho các chủ trương, đường lối được triển khai hiệu quả trong thực tiễn.
Trong bối cảnh mới, yêu cầu đặt ra là các cấp ủy, tổ chức đảng phải nhanh chóng quán triệt, cụ thể hóa và tổ chức thực hiện nghiêm túc các nội dung của Nghị quyết và Quy định. Chỉ khi công tác kiểm tra, giám sát thực sự trở thành “tai mắt” của Đảng, là công cụ sắc bén để giữ vững kỷ luật, kỷ cương, thì mục tiêu xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh toàn diện mới có thể đạt được một cách bền vững.
Chuyên đề 3 “Những nội dung cơ bản của Quy định về công tác chính trị, tư tưởng trong Đảng”
Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV đã ban hành Quy định số 19-QĐ/TW ngày 08/4/2026 về công tác chính trị, tư tưởng trong Đảng, đánh dấu một bước phát triển quan trọng trong tư duy lý luận và quyết tâm chính trị của Đảng ta. Đây là lần đầu tiên công tác chính trị, tư tưởng được thể chế hóa một cách toàn diện, hệ thống, phản ánh rõ yêu cầu cấp thiết của công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong bối cảnh mới.
Trong suốt tiến trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn xác định công tác chính trị, tư tưởng là nền tảng, giữ vai trò quyết định đến sự vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ. Thực tiễn gần một thế kỷ qua đã chứng minh, sức mạnh của Đảng không chỉ nằm ở tổ chức mà trước hết là ở sự thống nhất về nhận thức, ý chí và hành động. Chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh đều khẳng định vai trò đặc biệt của lý luận và công tác tư tưởng đối với một đảng cách mạng. Trong bối cảnh hiện nay, khi tình hình thế giới và khu vực diễn biến nhanh chóng, phức tạp, cùng với sự bùng nổ của thông tin trên không gian mạng, yêu cầu nâng cao chất lượng công tác chính trị, tư tưởng càng trở nên cấp bách.
Thực tiễn cho thấy, bên cạnh những kết quả đạt được, công tác chính trị, tư tưởng vẫn còn những hạn chế đáng lo ngại. Một bộ phận cán bộ, đảng viên còn thiếu bản lĩnh chính trị, có biểu hiện suy thoái về tư tưởng, đạo đức, lối sống; việc học tập, quán triệt nghị quyết ở một số nơi còn mang tính hình thức; công tác nắm bắt, dự báo và định hướng dư luận xã hội có lúc chưa kịp thời, nhất là trên không gian mạng. Nếu không được khắc phục, những hạn chế này sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến năng lực lãnh đạo và uy tín của Đảng.
Trong bối cảnh đó, việc ban hành Quy định về công tác chính trị, tư tưởng là yêu cầu khách quan, cấp thiết, mang ý nghĩa chiến lược lâu dài. Quy định không chỉ dừng lại ở định hướng mà đã chuyển mạnh sang cơ chế ràng buộc trách nhiệm, xác lập rõ nguyên tắc, nội dung, phương thức và cơ chế kiểm tra, giám sát. Điểm nổi bật là công tác chính trị, tư tưởng được tiếp cận như một hệ thống quản trị hiện đại, có tiêu chí cụ thể, có thể đo lường và đánh giá bằng hiệu quả thực chất.
Nội dung của Quy định thể hiện rõ tinh thần đổi mới, toàn diện và đồng bộ. Công tác chính trị, tư tưởng không còn chỉ là hoạt động tuyên truyền đơn thuần mà trở thành quá trình quản trị, dẫn dắt và định hình nhận thức trong điều kiện chuyển đổi số. Quy định nhấn mạnh yêu cầu gắn chặt công tác tư tưởng với thực tiễn, với lợi ích của Nhân dân; đồng thời tăng cường ứng dụng khoa học công nghệ để nâng cao hiệu quả nắm bắt và định hướng dư luận xã hội.
Đặc biệt, Quy định xác định rõ trách nhiệm của cấp ủy, người đứng đầu và từng cán bộ, đảng viên. Trong đó, người đứng đầu phải chịu trách nhiệm trực tiếp và toàn diện; cán bộ, đảng viên không chỉ là đối tượng mà còn là chủ thể tích cực trên mặt trận tư tưởng. Nguyên tắc “không có vùng cấm, không có ngoại lệ” được quán triệt trong kiểm tra, giám sát và xử lý vi phạm, bảo đảm tính nghiêm minh và kỷ luật của Đảng.
Tuy nhiên, giá trị của Quy định chỉ thực sự được khẳng định thông qua quá trình tổ chức thực hiện. Điều quan trọng là phải biến nhận thức thành hành động cụ thể, lấy kết quả thực tiễn làm thước đo. Việc triển khai phải bảo đảm tính đồng bộ, quyết liệt, gắn với đổi mới phương thức lãnh đạo, đặc biệt là trong môi trường số. Đồng thời, cần xây dựng hệ thống tiêu chí đánh giá khoa học, lượng hóa rõ ràng để kiểm soát và nâng cao hiệu quả công tác.
Có thể khẳng định, Quy định số 19-QĐ/TW là bước tiến quan trọng trong công tác xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng. Với quyết tâm chính trị cao và sự vào cuộc đồng bộ của toàn hệ thống chính trị, Quy định sẽ góp phần củng cố niềm tin của Nhân dân, tăng cường sức mạnh nội sinh, đưa Đảng ta ngày càng trong sạch, vững mạnh, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Chuyên đề 4 “Nghị quyết về tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực trong giai đoạn mới”
Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu tăng trưởng nhanh và bền vững, việc tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực mang ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Nghị quyết mới của Trung ương không chỉ kế thừa những thành quả sau 20 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 3 khóa X, mà còn bổ sung nhiều nội dung mang tính đột phá, đáp ứng yêu cầu thực tiễn.
Thực tiễn 20 năm qua cho thấy, cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực đã đạt được những kết quả toàn diện và sâu sắc. Với quyết tâm chính trị cao, tinh thần “không có vùng cấm, không có ngoại lệ”, công tác này đã trở thành phong trào rộng khắp, nhận được sự đồng tình, ủng hộ mạnh mẽ của Nhân dân. Kỷ luật, kỷ cương trong Đảng được tăng cường; cơ chế kiểm soát quyền lực từng bước hoàn thiện; nhiều vụ án tham nhũng lớn, phức tạp đã được phát hiện, xử lý nghiêm minh. Đặc biệt, tư duy xử lý có bước chuyển quan trọng theo hướng vừa nghiêm khắc, vừa nhân văn, chú trọng thu hồi tài sản và khuyến khích khắc phục hậu quả, qua đó nâng cao hiệu quả thực tiễn của công tác phòng, chống tham nhũng.
Từ thực tiễn đó, nhiều bài học kinh nghiệm có giá trị đã được đúc kết. Trước hết là sự kiên trì, kiên quyết trong đấu tranh, gắn với giữ vững và củng cố niềm tin của Nhân dân. Bên cạnh đó, công tác này phải đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp, toàn diện của Đảng, lấy lợi ích quốc gia - dân tộc làm mục tiêu cao nhất. Đồng thời, cần chú trọng hoàn thiện thể chế, tăng cường kiểm soát quyền lực để phòng ngừa từ gốc; phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội, đưa cuộc đấu tranh đến tận cơ sở.
Trên nền tảng đó, Nghị quyết mới xác định rõ mục tiêu xuyên suốt là kiên quyết, kiên trì ngăn chặn, đẩy lùi tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, đồng thời phục vụ hiệu quả nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội. Điểm mới nổi bật là yêu cầu gắn công tác phòng, chống tham nhũng với mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số và xây dựng quốc gia phát triển, thu nhập cao vào năm 2045. Điều này thể hiện tư duy phát triển toàn diện, coi phòng, chống tham nhũng không chỉ là nhiệm vụ chính trị mà còn là động lực thúc đẩy phát triển.
Một nội dung cốt lõi khác là quan điểm xử lý sai phạm theo hướng nghiêm minh nhưng linh hoạt, nhân văn. Việc xem xét bối cảnh lịch sử, ưu tiên thu hồi tài sản, khuyến khích khắc phục hậu quả và bảo vệ người dám nghĩ, dám làm vì lợi ích chung đã tạo ra hành lang chính sách phù hợp, vừa bảo đảm kỷ cương, vừa khuyến khích đổi mới sáng tạo. Đặc biệt, trong bối cảnh đẩy mạnh khoa học công nghệ và chuyển đổi số, Nghị quyết đã đề cập cơ chế xử lý phù hợp đối với rủi ro trong quá trình đổi mới, qua đó tháo gỡ tâm lý e ngại, thúc đẩy phát triển.
Bên cạnh đó, Nghị quyết nhấn mạnh yêu cầu chuyển mạnh từ “chống” sang “phòng ngừa từ gốc”. Các giải pháp được triển khai đồng bộ nhằm xây dựng môi trường “không muốn, không thể, không dám và không cần” tham nhũng. Trọng tâm là hoàn thiện thể chế, tăng cường minh bạch, kiểm soát quyền lực, xây dựng đội ngũ cán bộ liêm chính, đồng thời cải cách hành chính, ứng dụng công nghệ để hạn chế tiêu cực.
Để Nghị quyết đi vào cuộc sống, yêu cầu đặt ra là phải tổ chức thực hiện nghiêm túc, đồng bộ, có trọng tâm, trọng điểm. Các cấp ủy, tổ chức đảng cần chủ động xây dựng chương trình hành động cụ thể, tăng cường kiểm tra, giám sát, bảo đảm mỗi nhiệm vụ đều có kết quả rõ ràng, thực chất.
Có thể khẳng định, Nghị quyết lần này là bước phát triển quan trọng trong tư duy và hành động của Đảng về phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực. Đây không chỉ là công cụ làm trong sạch bộ máy, mà còn là động lực thúc đẩy phát triển đất nước, củng cố niềm tin của Nhân dân, hướng tới mục tiêu xây dựng một quốc gia liêm chính, minh bạch và thịnh vượng.
Chuyên đề 5 “Kết luận về Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, tài chính quốc gia và vay, trả nơi công, đầu tư công trung hạn 5 năm 2026-2030 gắn với thực hiện mục tiêu phấn đấu tăng trưởng “2 con số”
Kết luận số 18-KL/TW ngày 02/4/2026 của Hội nghị lần thứ 2 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV là văn kiện có ý nghĩa chiến lược, cụ thể hóa các định hướng lớn của Nghị quyết Đại hội XIV về phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2026-2030. Trên cơ sở tích hợp các giải pháp thúc đẩy tăng trưởng “2 con số”, Kết luận thể hiện quyết tâm chính trị mạnh mẽ của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân trong việc đưa đất nước phát triển nhanh, bền vững, nâng cao vị thế quốc gia trong bối cảnh quốc tế đầy biến động.
Giai đoạn 2021-2025 diễn ra trong điều kiện thế giới nhiều bất ổn, thách thức đan xen cơ hội, song Việt Nam vẫn đạt được những thành tựu toàn diện. Kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định, tăng trưởng phục hồi mạnh mẽ, quy mô nền kinh tế không ngừng mở rộng, đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt. Tuy nhiên, những hạn chế như năng suất lao động chưa cao, nền tảng đổi mới sáng tạo còn yếu, cơ chế huy động nguồn lực chưa đủ mạnh vẫn là những điểm nghẽn cần khắc phục.
Bước sang giai đoạn 2026-2030, tình hình quốc tế tiếp tục diễn biến phức tạp, đòi hỏi Việt Nam phải kiên định mục tiêu tăng trưởng cao. Kết luận đặt ra mục tiêu đến năm 2030 đưa Việt Nam trở thành quốc gia đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao, thuộc nhóm 30 nền kinh tế lớn nhất thế giới. Đặc biệt, chỉ tiêu tăng trưởng GDP bình quân từ 10%/năm trở lên thể hiện khát vọng bứt phá mạnh mẽ, đi đôi với ổn định kinh tế vĩ mô và nâng cao chất lượng đời sống nhân dân.
Để hiện thực hóa mục tiêu đó, Trung ương xác định các quan điểm chỉ đạo cốt lõi: Đổi mới quản trị quốc gia, phát huy sức mạnh toàn dân, khơi thông mọi nguồn lực, kiên định tăng trưởng nhanh nhưng bền vững và bảo đảm an toàn tài chính quốc gia. Đây là nền tảng tư duy xuyên suốt cho việc hoạch định và triển khai các chính sách phát triển.
Kết luận đề ra hệ thống nhiệm vụ và giải pháp toàn diện, trong đó trọng tâm là hoàn thiện thể chế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng dựa trên khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; phát triển đồng bộ hạ tầng hiện đại; nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; bảo đảm an sinh xã hội và phát triển văn hóa; quản lý hiệu quả tài nguyên, bảo vệ môi trường. Đồng thời, các chính sách tài chính quốc gia, quản lý nợ công và đầu tư công được nhấn mạnh theo hướng an toàn, hiệu quả, tập trung, tránh dàn trải, lấy đầu tư công dẫn dắt đầu tư tư.
Một điểm nổi bật là yêu cầu đổi mới mạnh mẽ trong tổ chức thực hiện, đề cao trách nhiệm người đứng đầu, gắn nhiệm vụ với nhiệm vụ cụ thể, tăng cường kiểm tra, giám sát và phát huy vai trò của toàn xã hội, đặc biệt là khu vực doanh nghiệp. Điều này cho thấy sự chuyển biến từ tư duy hoạch định sang tư duy hành động, lấy hiệu quả thực tiễn làm thước đo.
Với quyết tâm chính trị cao, tư duy đổi mới và hệ thống giải pháp đồng bộ, Việt Nam có cơ sở vững chắc để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng “2 con số”, tạo bước đột phá trong tiến trình phát triển nhanh và bền vững.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm phát biểu chỉ đạo
Phát biểu chỉ đạo Hội nghị, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm định hướng những nhiệm vụ trọng tâm trong thời gian tới, góp phần thống nhất nhận thức và hành động trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân. Đất nước đang bước vào một giai đoạn phát triển mới với khát vọng lớn lao: Tăng trưởng nhanh hơn, bền vững hơn, nâng cao toàn diện đời sống Nhân dân, củng cố vững chắc tự chủ chiến lược và từng bước hiện thực hóa mục tiêu đến năm 2030 trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao, tiến tới năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao. Đó không chỉ là tầm nhìn, mà còn là mệnh lệnh hành động đặt ra cho toàn Đảng, toàn hệ thống chính trị.
Trong bối cảnh quốc tế có nhiều biến động phức tạp, việc xây dựng các kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, tài chính quốc gia và đầu tư công trung hạn không thể chỉ dừng ở tư duy quản lý thông thường, mà phải đặt trong tầm nhìn chiến lược dài hạn. Cần phân bổ nguồn lực đúng trọng tâm, tạo động lực tăng trưởng mới, đồng thời nâng cao năng lực tự chủ chiến lược của nền kinh tế. Đặc biệt, việc tổ chức chính quyền địa phương hai cấp phải được thiết kế để vận hành hiệu quả, sáng tạo, gần dân, phục vụ tốt hơn cho người dân và doanh nghiệp.
Một nhiệm vụ trọng tâm, cấp bách được đặt ra là tìm ra phương thức để đạt tốc độ tăng trưởng GDP trên 10% trong cả nhiệm kỳ 2026-2031 và các năm tiếp theo. Đây không chỉ là chỉ tiêu kinh tế, mà là thước đo năng lực lãnh đạo, điều hành và tổ chức thực hiện của toàn hệ thống. Muốn đạt được mục tiêu này, cần xác định đúng mô hình phát triển, khơi thông các nguồn lực, tạo động lực mới cho tăng trưởng, đồng thời chủ động ứng phó với các nguy cơ như khủng hoảng kinh tế và xung đột quốc tế - những yếu tố có thể tác động trực tiếp đến quá trình phát triển của đất nước.
Một yêu cầu quan trọng khác được đặt ra là bảo đảm Nghị quyết được triển khai một cách đồng bộ, thống nhất và thông suốt từ Trung ương đến cơ sở. Điều này đòi hỏi sự liên kết chặt chẽ giữa các cấp, các ngành, cũng như sự giám sát, kiểm tra thường xuyên nhằm kịp thời phát hiện và khắc phục những khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện. Khi mọi chủ trương được thực hiện nhất quán, hiệu quả sẽ được nâng lên rõ rệt, tạo nên sức mạnh tổng hợp trong toàn hệ thống.
Thông qua việc tuyên truyền, quán triệt sâu rộng, các tầng lớp nhân dân sẽ hiểu rõ hơn về ý nghĩa, tầm quan trọng của Nghị quyết, từ đó tích cực tham gia và ủng hộ quá trình thực hiện. Đây chính là nền tảng quan trọng để khơi dậy quyết tâm chính trị, tinh thần đổi mới và sáng tạo trong toàn Đảng, toàn dân và toàn quân.
Tất cả những nỗ lực đó nhằm hướng đến việc thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển nhanh và bền vững của đất nước trong giai đoạn mới. Đồng thời, việc triển khai hiệu quả Nghị quyết cũng góp phần giữ vững ổn định chính trị, tăng cường quốc phòng, an ninh và nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế.
Đọc tiếp
- Phong trào “Kế hoạch nhỏ” từng là một biểu tượng giáo dục giàu tính nhân văn của thiếu nhi Việt Nam. Trải qua hơn 60...
- Nhằm tăng cường mối quan hệ đoàn kết, phối hợp hoạt động giữa 2 đơn vị Lữ đoàn 171 và Trung tâm Nghệ thuật Thành...
- Thực hiện Công văn số 435/MTTQ- BTT, ngày 27/3/2026 của UBMTTQ tỉnh và Thông báo kết luận số 10/TB-CCB ngày 30/3/2026 của...
- Trong cùng một ngày, lực lượng chức năng tỉnh Quảng Trị đã liên tiếp phát hiện, bắt giữ 2 vụ vận chuyển xăng, dầu...
- Ngày 11 và 12/4, tại đặc khu Phú Quốc, tỉnh An Giang, Tiểu đoàn 563 và Tiểu đoàn 563b (Vùng 5 Hải quân) tổ chức cho hàng trăm...
- Trong bối cảnh chuyển đổi số, không gian mạng đã trở thành “mặt trận tư tưởng mới” - nơi tin giả, thông tin sai...
Mới nhất
- Di sản thiên nhiên thế giới Vườn quốc gia Phong Nha-Kẻ Bàng tiếp tục ghi dấu ấn khi chính thức được đề cử ở hai...
- Trong 2 ngày 11 và 12/4, các đơn vị huấn luyện chiến sĩ mới của Vùng 4 Hải quân tổ chức đón thân nhân chiến sĩ mới nhập...
- Công ty Điện lực Huế quyết tâm bảo đảm cấp điện an toàn, liên tục, ổn định trong mùa khô năm 2026, đáp ứng nhu cầu...
- Sáng ngày 13/4 tại Phường Hòa Bình, TP Hải Phòng, Lữ đoàn Đặc công 126 long trọng tổ chức Lễ kỷ niệm 60 năm Ngày truyền...
- Không gian mạng đã trở thành một bộ phận không thể tách rời của đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội. Đây...
- Ngày 12-4-2026, tại Trụ sở Trung ương Hội Cựu chiến binh (CCB) Việt Nam, Hội CCB Đội điều trị 38-44, Quân đoàn 26, Quân khu...
- Cỡ chữ Mặc định













