Logo-print CƠ QUAN CỦA TRUNG ƯƠNG HỘI - TIẾNG NÓI CỦA CỰU CHIẾN BINH VIỆT NAM

Thành tựu 40 năm đổi mới của Việt Nam

Tiến sĩ Nguyễn Minh Phong 19/02/2026 - 23:03

Năm 2025, Việt Nam ghi nhận nhiều mốc son đỉnh cao mới về kinh tế, với tốc độ tăng trưởng kinh tế đứng đầu khu vực và liên tục 5 năm qua thuộc top đầu thế giới.

 

khu-do-thi-hien-dai-tai-trung-tam-tp-ho-chi-minh
Khu đô thị hiện đại tại trung tâm TP. Hồ Chí Minh.

Theo Cục Thống kê, GDP cả nước tăng ước đạt 8,02%, cao nhất châu Á, trong đó, GRDP của các địa phương tăng từ 5,84-11,89%, với 23/34 địa phương tăng từ 7-10%, 6 địa phương bứt phá trên 10%, dẫn đầu là Quảng Ninh 11,89% và Hải Phòng 11,81%; quy mô GDP đạt hơn 514 tỷ USD. Kinh tế vĩ mô ổn định, kiểm soát lạm phát ở mức 3,31%. Thu ngân sách nhà nước đạt kỷ lục, đến ngày 31-12-2025 đạt khoảng 2,65 triệu tỷ đồng, vượt dự toán tới 34,74% và tăng 30,3% so với cùng kỳ năm 2024. Tổng vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam năm 2025 đạt 38,4 tỷ USD, vốn thực hiện đạt 27,62 tỷ USD, nhiều nhất từ khi có vốn đầu tư nước ngoài. Quy mô thương mại quốc tế đạt kỷ lục hơn 930 tỷ USD năm 2025, thuộc nhóm 20 quốc gia dẫn đầu thế giới; xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ tăng 16,27% và xuất siêu hàng hoá ghi dấu mốc 10 năm liên tục và đạt trên 20 tỷ USD; năng suất lao động ước tương đương 9.809 USD/lao động (tăng 626 USD so với năm 2024) và tăng 6,83% theo giá so sánh; tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng, chứng chỉ ước đạt 29,2% (cao hơn 0,8% so với năm 2024)...

Công nghiệp công nghệ số Việt Nam duy trì tốc độ tăng trưởng cao, là nền tảng cho sự phát triển của kinh tế số nhanh nhất Đông Nam Á trong 3 năm liên tiếp gần đây, với khoảng 20%/năm, cao gấp 3 lần tốc độ tăng trưởng GDP. Chỉ số đổi mới sáng tạo của Việt Nam xếp hạng 44/139 quốc gia và nền kinh tế, giữ nguyên thứ hạng như năm 2024.

Tổng thu ngân sách nhà nước ước đạt trên 9,6 triệu tỷ đồng, gấp 1,36 lần nhiệm kỳ trước, vượt xa mục tiêu 8,3 triệu tỷ đồng; trong khi miễn, giảm, gia hạn thuế, phí, lệ phí... khoảng 1,1 triệu tỷ đồng; tăng thu, tiết kiệm chi 1,57 triệu tỷ đồng. Mặt bằng lãi suất cho vay bình quân giảm 2,5% so với năm 2022. Nợ công giảm từ 44,3% GDP năm 2020 xuống còn khoảng 35 -36% năm 2025 (giới hạn là 60% GDP); bội chi ngân sách nhà nước bình quân giảm từ 3,53% GDP giai đoạn 2016 - 2020 xuống 3,1 - 3,2% GDP. Tổ chức FTSE đã nâng hạng thị trường chứng khoán Việt Nam từ cận biên lên mới nổi thứ cấp.

Quy mô thương mại tăng mạnh 1,7 lần, từ 545,4 tỷ USD năm 2020 lên mức kỷ lục trên 930 tỷ USD năm 2025 (kim ngạch xuất khẩu hàng hóa đạt 475,04 tỷ USD, tăng 17,0% và nhập khẩu đạt 455,01 tỷ USD, tăng 19,4% so với năm trước), thuộc nhóm 20 quốc gia dẫn đầu thế giới; xuất siêu lớn, đạt trên 88,3 tỷ USD, tăng hơn 2 lần nhiệm kỳ trước. Du lịch phục hồi, năm 2025 đón khoảng 22 triệu lượt khách quốc tế, cao nhất từ trước đến nay. Quyết liệt phòng, chống buôn lậu, gian lận thương mại, vi phạm quyền sở hữu trí tuệ; đặc biệt, năm 2025, lần đầu tiên cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam chạm mốc 1 triệu doanh nghiệp sau 5 năm lỡ hẹn, tăng trên 20% so với năm 2020. Kinh tế tư nhân hiện đóng góp trên 50% GDP, 90% số việc làm và 40% tổng đầu tư toàn xã hội.

Việt Nam tham gia ngày càng sâu hơn vào một số chuỗi cung ứng mới của thế giới và liên tục cải thiện nhiều chỉ số xếp hạng quốc tế quan trọng, như: Chỉ số năng lực cạnh tranh toàn cầu (GCI); chỉ số nền kinh tế có đóng góp lớn nhất vào tăng trưởng toàn cầu; chỉ số nước đáng sống nhất thế giới; chỉ số các nước an toàn nhất; chỉ số quốc gia hạnh phúc, chỉ số xếp hạng bảo vệ nhà đầu tư; chỉ số các nước “tốt nhất thế giới” và chỉ số quyền lực mềm toàn cầu (Brand Finance Global Soft Power Index Report).

Việt Nam đã chính thức được xếp vào nhóm các nền kinh tế có “tự do trung bình” (Moderately Free), đứng thứ 90/184 nền kinh tế trên thế giới trong bảng xếp hạng Chỉ số tự do kinh tế (Index of Economic Freedom 2021) của Heritage Foundation (Mỹ). Việt Nam còn được Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO) - cơ quan chuyên môn của Liên hợp quốc - xếp thứ 44 (tức nằm trong khoảng tin cậy từ khoảng 42 đến 47) của thứ hạng này.

Việt Nam là một trong 7 quốc gia thu nhập trung bình đạt được nhiều tiến bộ nhất về Chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu (GII) trong thập kỷ qua, xếp thứ thứ 4 khu vực Đông Nam Á, thứ 2 trong nhóm 36 nền kinh tế thu nhập trung bình thấp và thứ 44/139 quốc gia và nền kinh tế trong năm 2024 và năm 2025.

Công nghiệp công nghệ số Việt Nam duy trì tốc độ tăng trưởng cao, là nền tảng cho sự phát triển của kinh tế số nhanh nhất Đông Nam Á trong 3 năm liên tiếp gần đây, với khoảng 20%/năm, cao gấp 3 lần tốc độ tăng trưởng GDP.

Việt Nam cũng xếp thứ 30 trong bảng xếp hạng các quốc gia hùng mạnh nhất thế giới. “Chỉ số sẵn sàng trí tuệ nhân tạo” (AI) của Việt Nam xếp hạng 55 toàn cầu và xếp thứ 6/10 trong ASEAN. “Chỉ số tích hợp phát triển bưu chính” (2IPD) của Việt Nam công bố trong tháng 10-2023 tăng 4,5 điểm, thuộc nhóm các nước đạt cấp độ 6/10, lên 1 cấp độ so với kỳ đánh giá trước và đứng thứ 7/30 trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương. Truyền thông số, thanh toán số và kinh tế số cũng ngày càng phát triển.

Theo StartupBlink, chỉ số hệ sinh thái khởi nghiệp toàn cầu năm 2025 của Việt Nam xếp thứ 55/100 quốc gia, vùng lãnh thổ.

Việt Nam hiện có quan hệ ngoại giao với tất cả (194/194) các nước và quốc gia thành viên Liên hợp quốc; chính thức trở thành thành viên thứ 150 của WTO từ ngày 11-1-2007, Việt Nam đã có quan hệ thương mại, xuất khẩu hàng hoá tới trên 230 nước và vùng lãnh thổ; tham gia hơn 500 hiệp định song phương và đa phương trong nhiều lĩnh vực, trong đó có 17 hiệp định thương mại tự do (FTA) thế hệ mới; Việt Nam hiện ký kết 90 Hiệp định thương mại song phương, gần 60 Hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư, 54 Hiệp định chống đánh thuế hai lần và nhiều Hiệp định hợp tác về văn hoá song phương với các nước và các tổ chức quốc tế; ký và triển khai 17 FTA, đang đàm phán 4 FTA khác và nhiều khuôn khổ hội nhập quốc tế đa dạng...

Hiện nay, gần 30 quỹ đầu tư nước ngoài đang hoạt động tại Việt Nam. Tổng ODA từ năm 1993 đến nay đạt trên 80 tỷ USD vốn cam kết, trên 40 tỷ USD giải ngân. Việt Nam nằm trong top 10 nước nhận kiều hối lớn nhất thế giới và tăng đều qua các năm.

Tổng vốn FDI giai đoạn 2021-2025 đạt đạt 185 tỷ USD, tăng gần 9% so với giai đoạn 5 năm trước và thuộc nhóm 15 nước đang phát triển thu hút FDI lớn nhất thế giới.

Từ nước nhận đầu tư một chiều, gần đây đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài cũng tăng nhanh, với tổng cộng hàng nghìn dự án và khoảng 20 tỷ USD vốn đăng ký và tăng thêm.

 Tiềm lực quốc phòng - an ninh được củng cố, tăng cường; độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ quốc gia được giữ vững; trật tự an toàn xã hội được bảo đảm, uy tín và vị thế quốc tế của Việt Nam được nâng cao; Việt Nam tái đắc cử Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2026-2028;

Tỷ lệ nghèo đa chiều chỉ còn dưới 2% vào cuối năm 2025, so với mức 22% năm 2006. Chỉ số phát triển bền vững (SDG) của Việt Nam đã liên tục gia tăng và các lĩnh vực văn hóa, xã hội có bước tiến bộ cả về nhận thức, hành động và kết quả; đời sống của Nhân dân được nâng lên; tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động luôn dưới 3% và tuổi thọ trung bình đạt 74,7 tuổi. Chất lượng giáo dục và đào tạo tiếp tục được nâng lên; tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế trên 95,2% năm 2025.

Theo Liên hợp quốc, chỉ số quốc gia hạnh phúc của Việt Nam năm 2025 xếp thứ 46, tăng 37 bậc so với năm 2020. Chỉ số phát triển con người (HDI) tăng 18 bậc, xếp hạng 93/193 quốc gia và vùng lãnh thổ. Chỉ số phát triển bền vững của Việt Nam xếp hạng 51/165, tăng 37 bậc so với năm 2016...

Những thành tựu đó là kết quả của quá trình Đảng thống nhất và trực tiếp lãnh đạo toàn diện hệ thống chính trị, toàn quân và toàn dân ta tiến hành công cuộc cách mạng, bảo vệ tổ quốc, đổi mới và xây dựng đất nước đầy nỗ lực, bền bỉ và kiên định, với sự triển khai đồng bộ nhiều chính sách cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng; sửa đổi các quy định pháp luật; thúc đẩy cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh theo hướng hiện đại, minh bạch, tạo sự cạnh tranh công bằng, bình đẳng cho doanh nghiệp và tiệm cận với chuẩn mực quốc tế; xây dựng nền dân chủ, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; thực hiện chính sách ngoại giao độc lập tự chủ, đa dạng hóa, đa phương hóa, là bạn, đối tác tin cậy, trách nhiệm vì mục tiêu hòa bình, hợp tác, phát triển; hướng đến con người, lấy con người là trung tâm, chủ thể, nguồn lực và mục tiêu của phát triển... Tất cả tạo nền tảng và động năng mạnh mẽ để Việt Nam vươn mình phát triển kinh tế bền vững, hướng tới trở thành nước phát triển có thu nhập cao vào năm 2045...

Đọc tiếp

Mới nhất

Thành tựu 40 năm đổi mới của Việt Nam