Logo-print CƠ QUAN CỦA TRUNG ƯƠNG HỘI - TIẾNG NÓI CỦA CỰU CHIẾN BINH VIỆT NAM

QUÂN ĐỘI THAM GIA LAO ĐỘNG SẢN XUẤT - NHỮNG GIÁ TRỊ VÀ ƯU THẾ VƯỢT TRỘI KHÔNG THỂ PHỦ NHẬN

 Đại tá Nguyễn Văn Phương, Chủ nhiệm Chính trị Binh đoàn 20 06/04/2026 - 20:47

Hơn 80 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, Quân đội ta đã xây đắp nên truyền thống “Bộ đội Cụ Hồ”, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước và Nhân dân giao phó. Trong bối cảnh mới, cùng với việc thực hiện thắng lợi chức năng của đội quân chiến đấu, đội quân công tác, Quân đội luôn tích cực tham gia lao động sản xuất, kết hợp quốc phòng với kinh tế, văn hóa, xã hội, góp phần quan trọng vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Thế nhưng, các thế lực thù địch đã cố tình xuyên tạc chức năng đội quân lao động sản xuất của Quân đội, chúng cho rằng, quân đội chỉ có nhiệm vụ chiến đấu. Vì vậy, nhận diện đúng và phản bác hiệu quả quan điểm này là rất cần thiết.  

 Kế thừa truyền thống và vận dụng hiệu quả kế sách “ngụ binh ư nông” “biên thịnh quốc cường” trong lịch sử hàng nghìn năm giữ nước của dân tộc; đồng thời, quán triệt sâu sắc và thực hiện nghiêm túc quan điểm chủ nghĩa Mác - Lênin về mối quan hệ giữa kinh tế với bạo lực; vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về mối quan hệ giữa kinh tế - xã hội với quốc phòng - an ninh, lý luận đường lối đổi mới về kết hợp phát triển kinh tế - xã hội với quốc phòng, an ninh và đối ngoại; xuất phát từ tình hình thế giới, khu vực, trong nước…, dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý, điều hành của Nhà nước, Quân đội  ta đã và đang phấn đấu hoàn thành tốt các chức năng, nhiệm vụ là đội quân chiến đấu, đội quân công tác và đội quân lao động sản xuất; kết hợp chặt chẽ giữa củng cố quốc phòng với phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội. Các tập đoàn, binh đoàn, đoàn kinh tế - quốc phòng, tổng công ty, công ty, xí nghiệp, các đơn vị hoạt động theo mô hình đơn vị sự nghiệp công lập, hoạt động tăng gia sản xuất của các cơ quan, đơn vị đã được tổ chức có kế hoạch, vừa nâng cao hiệu quả sản xuất - kinh doanh vừa thực hiện tốt nhiệm vụ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện, thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc.

Cùng với chức năng, nhiệm vụ là đội quân chiến đấu, đội quân công tác, chức năng lao động sản xuất của Quân đội được xác lập trên cơ sở chính trị, lịch sử và pháp lý vững chắc; đã góp phần quan trọng vào việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế quốc gia, đóng góp cho ngân sách Nhà nước,  xóa đói, giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới, củng cố chính quyền địa phương, cơ sở; xóa các điểm trắng về y tế, giáo dục; từng bước nâng cao thu nhập cho quân nhân, viên chức, lao động quốc phòng, xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn chặt với xây dựng "thế trận lòng dân” vững chắc, làm nền tảng tăng cường tiềm lực, sức mạnh quân sự, quốc phòng, bảo vệ vững chắc Tổ quốc trong tình hình mới; không để bị động, bất ngờ, nhất là trên các hướng, các địa bàn chiến lược, vùng biên cương, hải đảo, vùng dân tộc ít người.

 Hiện nay và trong những năm tới, bối cảnh tình hình thế giới, khu vực và trong nước tiếp tục có những diễn biến nhanh chóng, phức tạp, khó lường với sự đan xen tác động đa chiều, cả tích cực và tiêu cực, thuận lợi và khó khăn, thời cơ và thách thức, đòi hỏi Quân đội ta phải thực hiện tốt “bốn kiên định” mà Hội nghị Trung ương 2, khóa XIV của Đảng đã xác định. Trong đó, kiên định quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, truyền thống dân tộc và quan điểm của Đảng về nhận thức đúng và giải quyết hiệu quả mối quan hệ giữa xây dựng và bảo vệ Tổ quốc để vừa chiến đấu, sẵn sàng chiến đấu, vừa tham gia lao động sản xuất, không ngừng nâng cao tiềm lực, sức mạnh quân sự nhà nước, sức mạnh quốc phòng, sẵn sàng nhận và hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước và Nhân dân giao phó.

Để thống nhất nhận thức và hành động, luôn đề cao trách nhiệm, không ngừng nâng cao chất lượng, hiệu quả lao động sản xuất, phát triển kinh tế, kết hợp quốc phòng với kinh tế, văn hóa, xã hội của Quân đội, ngày 16/01/2026, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 109/QĐ-TTg phê duyệt Đề án “Giáo dục, tuyên truyền nâng cao nhận thức về Quân đội tham gia lao động sản xuất, kết hợp quốc phòng với kinh tế - xã hội giai đoạn 2026 - 2030”. Quán triệt và thực hiện nghiêm túc chủ trương của Đảng, Nhà nước về kết hợp quốc phòng với kinh tế - xã hội, bên cạnh nhưng thuận lợi cơ bản cũng gặp không ít khó khăn, thách thức; trong đó, sự chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch về mối quan hệ này không thể xem thường.

1. Xuyên tạc chức năng, nhiệm vụ Quân đội tham gia lao động sản xuất, kết hợp quốc phòng với kinh tế - xã hội, âm mưu, thủ đoạn xảo quyệt của các thế lực thù địch

Xuất phát từ lập trường và lý luận về xây dựng quân đội tư sản, những người có quan điểm đối lập với Đảng cho rằng, “quân đội chỉ có một chức năng chiến đấu, không thể có chức năng lao động sản xuất”. Họ lập luận rằng, Quân đội nhân dân Việt Nam tham gia lao động sản xuất, kết hợp quốc phòng với kinh tế, văn hóa, xã hội là làm sai chức năng, nhiệm vụ, “tự quân đội làm suy yếu sức mạnh của mình”, vì như thế, “quân đội đã thành đội quân ô hợp”. Theo họ, “Quân đội tham gia lao động sản xuất là làm thay chức năng của người dân, không tập trung huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, dẫn đến buông lỏng kỷ luật, xa rời nhiệm vụ chiến đấu, sẵn sàng chiến đấu bảo vệ Tổ quốc”. Từ đó, họ cho rằng, phát triển kinh tế - xã hội là công việc của các thành phần, lực lượng kinh tế dân sự, tuân theo quy luật thị trường. Hiện nay là thời bình, cần tinh giảm quân đội, chuyển một bộ phận lớn quân nhân sang dân sự, do nhà nước quản lý, những người này được tổ chức như hợp tác xã nông nghiệp, hay xí nghiệp để tập trung phát triển kinh tế - xã hội; làm như thế vừa giảm được ngân sách quốc phòng chi cho quân đội, đỡ gây tốn kém một khoản ngân sách khổng lồ chi cho quân đội; đây là nguồn lực, sức mạnh có lợi cho nước, cho dân. Theo quan điểm của họ, quốc phòng và kinh tế, văn hóa, xã hội là những lĩnh vực riêng biệt, hoạt động theo những mục đích, cách thức vận hành khác nhau. Quân đội tham gia lao động sản xuất, kết hợp quốc phòng với kinh tế, văn hóa, xã hội “là bất khả thi, không cần thiết, không có cơ sở để thực hiện”, “chỉ sinh lời cho một số quan chức, tướng lĩnh”. Do đó, họ kiến nghị với Đảng, Nhà nước: không nên để quân đội tham gia lao động sản xuất vì như thế, “quân đội sinh hư”, “mất sức chiến đấu”, quân đội không có trách nhiệm và không có khả năng kết hợp quốc phòng với phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội như đang hành sự.

tan-cang-2-2045
Tổng công ty Tân cảng Sài Gòn (Binh đoàn 20) nhận danh hiệu thương hiệu Quốc gia.

Loạt ý kiến khác lại cho rằng, trước đây, đất nước nghèo nàn, lạc hậu, thì Quân đội vừa chiến đấu, vừa tăng gia sản xuất để bảo đảm nguồn lương thực, thực phẩm tại chỗ cho cán bộ, chiến sĩ, điều đó là cần thiết, có thể chấp nhận. Tuy nhiên, ngày nay, sau 40 năm đổi mới đất nước, vị thế của Việt Nam đã khác, đã có đủ điều kiện cung cấp ngân sách, cơ sở vật chất cho các đơn vị Quân đội hoạt động chính quy. Hơn nữa, Đảng, Nhà nước Việt Nam cũng xác định đã có nguồn ngân sách hằng năm cho nhiệm vụ quân sự, quốc phòng và các đơn vị quân đội. Nghĩa là, Việt Nam đã có đủ tiềm lực để xây dựng quân đội nhà nghề, hiện đại, nên Quân đội không cần lao động sản xuất nữa, mà chỉ tập trung vào nhiệm vụ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu theo gương quân đội nhà nghề ở các nước phương Tây.

Họ đã tung ra những tin đồn sai trái và biện luận rằng, Quân đội tham gia lao động sản xuất, kết hợp quốc phòng với kinh tế - xã hội thực chất là “sự mị dân của tập đoàn Hà Nội”, “là bức màn che chắn cho các hành vi tham ô, tham nhũng, lợi dụng nguồn lực của toàn dân như đất đai, cảng biển, cơ sở hạ tầng, nguồn vốn nhà nước và nguồn nhân lực miễn phí để làm giàu cho những nhóm lợi ích và một số cá nhân có chức vụ, quyền hạn”, là “tham nhũng biến tướng”. Với lý lẽ ấy, họ cho rằng cơ chế hạch toán, phân phối trong Quân đội không rõ ràng, thiếu minh bạch, còn nhiều hiện tượng xin - cho “rất nặng”. Quân đội tham gia lao động sản xuất sẽ làm sai lệch bản chất kinh tế quốc gia, dùng mệnh lệnh để thực hiện các nhiệm vụ kinh tế, lợi dụng sức lao động của chiến sĩ thực hiện nghĩa vụ quân sự để làm kinh tế; quyền, lợi ích sẽ rơi vào một số nhóm có đặc quyền, đặc lợi là sĩ quan, tướng lĩnh.

Hơn thế, việc làm kinh tế, sản xuất, kinh doanh của Quân đội là lợi dụng đất quốc phòng cũng như hệ thống cơ sở vật chất được đầu tư cho nhiệm vụ quân sự, quốc phòng để thu lợi riêng. Lợi dụng các vụ việc sai phạm trong quản lý kinh tế, chuyển mục đích sử dụng đất quốc phòng, trong xây dựng cơ bản, họ tung tin rằng, Quân đội tham gia lao động sản xuất, kết hợp quốc phòng với phát triển kinh tế - xã hội là sai nguyên tắc, nhất là “những sai phạm thì cho vào quản lý theo chế độ mật”, dẫn đến mất dân chủ, gây ra thiệt hại, tổn thất nghiêm trọng về kinh tế, tác động tiêu cực đến xã hội, làm ảnh hưởng đến phẩm chất, hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ”; gây thiệt hại cho quốc kế, dân sinh. Quân đội tham gia lao động sản xuất là cạnh tranh không bình đẳng với các thành phần kinh tế khác; trong đó, các doanh nghiệp quân đội được đầu tư về vốn, đất đai và các nguồn lực khác, sẽ dẫn đến cạnh tranh không lành mạnh trong nền kinh tế, “chẳng lẽ đội quân từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu lại đi ăn chặn miếng cơm, manh áo của nhân dân”, v.v..

Một số ý kiến khác cho rằng, có thể cán bộ, chiến sĩ quân đội tăng gia sản xuất, trồng rau, nuôi gà thì được; nhưng trước sự phát triển của nền kinh tế thị trường, các nhiệm vụ kinh tế ngày càng khó khăn, phức tạp; các quan hệ kinh tế cũng tiềm ẩn những khó khăn, và nhiều mặt trái; khoa học công nghệ phát triển như vũ bão; thì quân đội không được đào tạo chuyên sâu, lao động sản xuất không phải là chức năng chủ yếu, cơ bản thì việc này tiềm ẩn rất nhiều nguy cơ dẫn đến sai phạm, vi phạm pháp luật về kinh tế, mất an ninh, an toàn trong sản xuất.

Tung ra luận điệu này, các thế lực thù địch muốn “mập mờ, đánh tráo khái niệm”, gây hoang mang và lái những hiểu biết không đúng về vai trò, chức năng, nhiệm vụ của Quân đội, làm cho người dân xa quân đội. Đây là âm mưu, thủ đoạn hết sức nham hiểm với những hướng lái, tuyên truyền xuyên tạc làm ảnh hưởng đến uy tín, vị thế, phẩm chất và hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ”, làm mất niềm tin của Nhân dân vào Đảng, Nhà nước và Quân đội; chia rẽ, gây mất đoàn kết giữa Quân đội với Nhân dân, phá vỡ khối đại đoàn kết toàn dân, rất nguy hiểm.

2. Tham gia lao động sản xuất, kết hợp quốc phòng với kinh tế, văn hóa, xã hội - nhiệm vụ chiến lược quan trọng của Quân đội nhân dân Việt Nam trong kỷ nguyên phát triển mới

Cả lý luận và thực tế đã chứng minh quân đội tham gia lao động sản xuất, kết hợp quốc phòng với kinh tế - xã hội là đúng phù quy luật, phù hợp với điều kiện thực tế ở Việt Nam hiện nay. 

Trước hết, Quân đội tham gia lao động sản xuất, kết hợp quốc phòng với kinh tế - xã hội là sự vận dụng sáng tạo lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, lý luận về đường lối đổi mới của Đảng vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa

Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin đã khẳng định vai trò quan trọng của quân đội trong phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội. C. Mác từng chỉ rõ: “Nói chung, quân đội đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế”[1]. Ngay trong thời kỳ đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước Nga, V.I. Lênin đã khẳng định, quân đội kiểu mới của giai cấp vô sản có vai trò rất quan trọng trong thực hiện nhiệm vụ lao động, sản xuất, xây dựng kinh tế. Người viết: “Cần phải tập trung toàn lực vào nhiệm vụ đó, cần phải tung vào những quỹ đạo mới đó toàn bộ lực lượng quân sự đã biểu lộ rõ tác dụng của mình trong việc xây dựng quân sự. Đó là tình hình đặc thù, là bước quá độ đặc thù khiến chúng ta nghĩ đến việc tổ chức các đội quân lao động…”[2]. Đầu năm 1920, khi Nhà nước Xô - viết bước sang thời kỳ ngừng chiến, nhưng khả năng các nước đế quốc vũ trang can thiệp vẫn còn, V.I. Lênin đề xuất chuyển một số đơn vị chính quy của Hồng quân Liên Xô thành những đội quân lao động, trực tiếp tham gia sản xuất, tạo thêm nhiều sản phẩm hàng hóa cho xã hội và cho Hồng quân. Tư tưởng của V.I. Lênin đã đặt nền móng vững chắc cho việc hình thành lý luận về quân đội kiểu mới của giai cấp công nhân và nhà nước xã hội chủ nghĩa trong thực hiện chức năng, nhiệm vụ xây dựng kinh tế, lao động sản xuất và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.

Ngay từ khi thành lập, chức năng phát triển kinh tế của Quân đội ta đã được Lãnh tụ Hồ Chí Minh đặc biệt chú trọng. Người coi đó là biện pháp cần thiết để khắc phục sự bao vây, phong tỏa của kẻ thù, giảm bớt gánh nặng cho nền kinh tế nước nhà và sự đóng góp của nhân dân. Người đã yêu cầu: “Các cơ quan trong quân đội phải cố sức trồng trọt chăn nuôi để tự túc phần nào để giảm bớt gánh nặng của nhân dân. Tuy công việc chuyên môn vẫn là chính nhưng phải cố sức tăng gia”[3]. Khi nói về tình hình và nhiệm vụ trước mắt của quân đội, Người chỉ rõ: “Một là, chúng ta phải xây dựng quân đội ngày càng hùng mạnh và sẵn sàng chiến đấu để giữ gìn hoà bình, bảo vệ đất nước, bảo vệ công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và làm hậu thuẫn cho cuộc đấu tranh thống nhất nước nhà. Hai là, tích cực tham gia sản xuất để góp phần xây dựng kinh tế... Hai nhiệm vụ ấy đều rất quan trọng, nhất trí và kết hợp chặt chẽ với nhau… Đảng và Chính phủ giao cho quân đội hai nhiệm vụ đó, và quân đội phải cố gắng hoàn thành cho thắng lợi”[4].

Trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta, các đội quân của các triều đại phong kiến Việt Nam luôn kết hợp chặt chẽ giữa quốc phòng với xây dựng đất nước theo tinh thần tự lực, tự cường, lấy tư tưởng "quốc phú, binh cường" để chăm lo tăng cường sức mạnh bảo vệ chủ quyền quốc gia - dân tộc. Dựa vào sức mạnh của nhân dân, của cộng đồng, quân đội vừa tham gia sản xuất, thực hiện chính sách “ngụ binh ư nông”, biết “lấy yếu chống mạnh”, “lấy nhỏ thắng lớn”, “lấy ít địch nhiều”, “động vi binh, tĩnh vi dân” để vừa phát triển kinh tế, vừa xây dựng tiềm lực quốc phòng tạo nên sức mạnh và thế trận vượt trội để giành thắng lợi trên chiến trường.

  Hai là, thực tiễn tham gia lao động sản xuất, kết hợp quốc phòng với kinh tế, văn hóa, xã hội, Quân đội đã có những đóng góp quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc, nhất là trên các địa bàn trọng yếu, chiến lược

Trong thời gian qua, các cơ sở sản xuất công nghiệp quốc phòng, các trung tâm, viện nghiên cứu của quân đội sản xuất các mặt hàng lưỡng dụng, có chất lượng cao, có thương hiệu uy tín lớn, có sức cạnh tranh cao trên thị trường trong nước và xuất khẩu, góp phần phục vụ dân sinh, đóng góp vào tăng trưởng của nền kinh tế quốc dân, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm việc làm, thu nhập cho người lao động... 

Các tập đoàn, binh đoàn, tổng công ty  quân đội đi tiên phong trong sản xuất công nghiệp, dịch vụ, trở thành những thương hiệu quốc gia và quốc tế trong các lĩnh vực xây dựng, thông tin, viễn thông, điện tử, dịch vụ cảng biển và logistic, tham gia hội nhập quốc tế, xúc tiến thương mại và đối ngoại quốc phòng, thực sự trở thành một bộ phận của nền kinh tế quốc dân. Theo báo cáo của cơ quan chức năng: “Các doanh nghiệp quân đội và các đơn vị quân đội tham gia phát triển kinh tế đã tạo ra từ 7-8% GDP cho đất nước; hàng năm tạo việc làm cho gần 300 ngàn lao động, chiến khoảng 15% tổng số lao động của khối doanh nghiệp Nhà nước”[5].

Ở những nơi khó khăn, gian khổ như biên giới, biển, đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, quân đội là lực lượng tiên phong đi đầu trong phát triển kinh tế, gắn củng cố quốc phòng với phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, củng cố chính quyền địa phương. Các binh đoàn, đoàn kinh tế - quốc phòng trên cơ sở khai thác nguồn lực tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên và lực lượng lao động; gắn xây dựng, phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội ở nông thôn với kết cấu hạ tầng phục vụ quốc phòng, dân sinh; xây dựng các cơ sở chính trị - xã hội vững chắc ở các vùng rừng núi, biên giới, hải đảo. Tổ chức hoạt động kinh tế ngày càng hiệu quả, đã góp phần hình thành lối sống định canh, định cư, giúp ổn định chỗ ở cho hàng trăm nghìn hộ nghèo, xây dựng các làng, xã, đặc khu đảo vững mạnh, xây dựng lực lượng tự vệ, lực lượng dân quân biển, đảo và dự bị động viên hùng hậu, rộng khắp.

Ba là, tham gia lao động sản xuất, kết hợp quốc phòng với kinh tế - xã hội giảm bớt ngân sách chi thường xuyên, nâng cao đời sống cho cán bộ, chiến sĩ, tạo ra nguồn lực đủ mạnh để hiện đại hóa Quân đội, củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc

Hoạt động quốc phòng là hoạt động không sinh lợi và tiêu tốn nguồn lực về vật chất, tinh thần, sức lao động của xã hội. Ph.Ăngghen khẳng định: “Bạo lực hiện nay là quân đội và hạm đội và cả hai - như tất cả chúng ta, đau xót thay, đều biết rõ - “tốn kém nhiều tiền một cách kinh khủng”. Nhưng bạo lực không thể làm ra tiền được…Vậy, xét đến cùng thì tiền phải do sản xuất kinh tế làm ra”[6]. Trên cơ sở nguồn nhân lực được biên chế và nguồn ngân sách được Nhà nước bảo đảm cung cấp, quân đội đã và đang cố gắng hoàn thành tốt nhất nhiệm vụ với chi phí thấp nhất. Cùng với đó, các hoạt động lao động sản xuất tạo ra nguồn của cải vật chất góp phần nâng cao đời sống cho cán bộ, chiến sĩ, quỹ phúc lợi chung và đóng góp vào GDP của quốc gia.

Trong điều kiện sản xuất quốc phòng nước ta đang ở trình độ thấp, thiếu vốn, thiếu công nghệ tiên tiến, để bảo đảm cho quân đội có các loại vũ khí, trang bị quân sự hiện đại, cần phát triển sản xuất quốc phòng bằng nguồn lực trong nước và tận dụng có hiệu quả quan hệ hợp tác đối ngoại quốc phòng song phương và đa phương để đẩy mạnh hợp tác, liên doanh, liên kết trong nghiên cứu, sản xuất, sửa chữa và nâng cấp các sản phẩm quân sự, chuyển giao công nghệ, đào tạo nhân lực. Tham gia lao động sản xuất, sẽ tăng năng suất, hiệu quả, tạo cơ sở cho việc hiện đại hóa dây chuyền, làm chủ công nghệ sản xuất, sửa chữa, cải tiến, số hóa nhiều loại vũ khí, trang bị kỹ thuật thế hệ mới, công nghệ cao, hiện đại, đáp ứng một phần nhu cầu vũ khí, trang bị kỹ thuật cho toàn quân, tiến tới tự chủ chiến lược về mặt quan trọng này.

Đồng thời, tạo nguồn lực để đầu tư­ nghiên cứu, sáng chế, chế tạo, sản xuất các mặt hàng có tính l­ưỡng dụng cao trong các nhà máy quốc phòng và ở một số cơ sở công nghiệp nặng với với các sản phẩm quốc phòng mũi nhọn và sản phẩm phục vụ nhu cầu thị trường, tập trung vào một số ngành như­ cơ khí luyện kim, cơ khí chế tạo, điện tử, tin học, hoá dầu. Qua đó, thúc đẩy chuyển đổi số quốc gia, đổi mới, sáng tạo, hiện đại hóa vũ khí trang bị, xây dựng nguồn lực đáp ứng trang bị cho Quân đội hiện đại trong thời kỳ mới.

  Bốn là, tham gia lao động sản xuất, kết hợp quốc phòng với kinh tế, văn hóa, xã hội là phát huy mọi tiềm năng, thế mạnh của Quân đội trong thời bình ở các lĩnh vực giáo dục, đào tạo, y tế và bảo đảm an sinh xã hội, góp phần thực hiện tốt phương châm của Đảng “không để ai bị bỏ lại phía sau”

Phát huy truyền thống, thế mạnh trong thăm, khám, chữa bệnh, các đơn vị y tế quân đội đã làm tốt công tác nghiên cứu, đào tạo nguồn nhân lực, khám chữa bệnh cho nhân dân. Xây dựng và hoàn thiện mô hình “quân dân y kết hợp” trên các địa bàn, đặc biệt là ở miền núi, biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn.

Hệ thống các viện nghiên cứu, nhà trường quân đội phát huy hiệu quả cơ sở vật chất - kỹ thuật, giáo trình, tài liệu; tranh thủ năng lực, kinh nghiệm, chất xám của đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục tham gia đào tạo nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Đội ngũ cán bộ, sĩ quan được đào tạo bài bản, toàn diện và chuyên sâu, có sự am hiểu về những kiến thức quản lý kinh tế, xã hội, có kiến thức về những ngành chuyên môn kỹ thuật, có thể tham gia đắc lực vào công cuộc xây dựng, phát triển nền kinh tế đất nước.

Thông qua lao động sản xuất, kết hợp quốc phòng với kinh tế, văn hóa, xã hội, Quân đội có thêm nhiều điều kiện để xây đắp mối quan hệ máu thịt với nhân dân, xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc; thực hiện công tác dân vận, các hoạt động nhân đạo, thực hiện chính sách xã hội như: khám chữa bệnh miễn phí cho đồng bào dân tộc thiểu số, có hoàn cảnh khó khăn ở biên giới, hải đảo. Bảo đảm an sinh xã hội, trợ giúp đối tượng yếu thế; xây dựng nhà văn hóa cộng đồng, trường học vùng biên; phụng dưỡng Mẹ Việt Nam anh hùng, người có công, khám chữa bệnh, tư vấn sức khỏe, cấp thuốc miễn phí cho nhân dân; tặng “nhà tình nghĩa”, “nhà tình đồng đội”; xây cầu, làm đường giao thông nông thôn, công trình thủy lợi, nước sạch; thăm hỏi, tặng quà, sổ tiết kiệm, hỗ trợ các đối tượng chính sách.

Năm là, các đơn vị cơ sở Quân đội tham gia lao động sản xuất, kết hợp quốc phòng với kinh tế, văn hóa, xã hội, thực hiện theo cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm

Để đáp ứng yêu cầu chuyển đổi phương thức hoạt động theo mô hình đơn vị sự nghiệp công lập, một số đơn vị Quân đội như bệnh viện, nhà khách, đoàn an dưỡng,… đã nâng cao trình độ, năng lực lãnh đạo, chỉ đạo điều hành, quản lý đơn vị, bồi dưỡng, nâng cao chất lượng nguồn lao động, năng suất lao động để phục vụ bộ đội và Nhân dân. Chức năng, nhiệm vụ, tổ chức, biên chế của hệ thống cơ quan quản lý, tham mưu điều hành, tổ chức thực hiện nhiệm vụ lao động sản xuất, kết hợp quốc phòng với kinh tế, văn hóa, xã hội ngày càng được hoàn thiện, phát huy tốt vị thế, vai trò của Quân đội trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân, gắn với xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân, “thế trận lòng dân” ngày càng vững chắc, hiệu quả.

4. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả Quân đội tham gia lao động sản xuất, kết hợp quốc phòng với kinh tế, văn hóa, xã hội

Quân đội tham gia lao động sản xuất, gắn quốc phòng với kinh tế, văn hóa, xã hội phải bảo đảm chặt chẽ, đồng bộ, thường xuyên, liên tục, có trọng tâm, trọng điểm phù hợp với Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, Chiến lược Quân sự, Chiến lược Quốc phòng trong từng thời kỳ và điều kiện, khả năng, nguồn lực của Quân đội; đạt được mục đích cơ bản là góp phần: Củng cố nền quốc phòng, xây dựng Quân đội hiện đại, bảo vệ vững chắc Tổ quốc, chủ động phát hiện, ngăn ngừa, ngăn chặn, đẩy lùi, triệt tiêu nguy cơ xung đột, chiến tranh từ sớm, từ xa, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định chính trị; huy động nguồn lực cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Phát huy thế mạnh của Quân đội để tham gia phát triển một số lĩnh vực, nhất là trên địa bàn chiến lược, biên giới, biển đảo mà các doanh nghiệp dân sự không có điều kiện thực hiện, chú trọng kết hợp trên cả không gian truyền thống (địa lý, tự nhiên) và không gian mạng; tập trung phát triển công nghiệp quốc phòng chủ động, tự lực, tự cường, lưỡng dụng, hiện đại, trở thành mũi nhọn của công nghiệp quốc gia. Theo đó, cần thực hiện một số định hướng chủ yếu sau:

   Một là, nâng cao nhận thức về vị trí, vai trò Quân đội tham gia lao động sản xuất, kết hợp quốc phòng với kinh tế, văn hóa, xã hội. Tập trung tuyên truyền, giáo dục về chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, chỉ thị, mệnh lệnh của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng để cán bộ, chiến sĩ và Nhân dân hiểu đúng, đầy đủ về vai trò, giá trị, ý nghĩa quan trọng, phương thức tham gia lao động sản xuất, kết hợp quốc phòng với kinh tế, văn hóa, xã hội hiệu quả; nhiệm vụ, phạm vi trách nhiệm, quyền hạn của tập thể, cá nhân. Phát huy vai trò phương tiện truyền thông ở cấp quốc gia, các ban, bộ, ngành, các địa phương trong việc đưa tin, tuyên truyền, định hướng nhận thức cho nhân dân, hệ thống chính trị và bộ đội hiểu đúng, đầy đủ về ”Bộ đội Cụ Hồ” tham gia lao động sản xuất, kết hợp quốc phòng với kinh tế, văn hóa, xã hội trong bối cảnh mới.

Hai là, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng; sự lãnh đạo thường xuyên, trực tiếp của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng về tổ chức thực hiện chức năng là đội quân lao động sản  của Quân đội. Cấp ủy, tổ chức đảng, tổ chức chỉ huy các cấp trong Quân đội phải lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành cơ quan, đơn vị thực hiện tốt việc tham gia lao động sản xuất, kết hợp quốc phòng với kinh tế, văn hóa, xã hội theo phạm vi chức năng, nhiệm vụ, địa bàn, lĩnh vực được phân công. Trong nghị quyết, kế hoạch công tác phải xác định rõ chủ trương, chỉ tiêu, biện pháp, giao nhiệm vụ cho các cơ quan, tổ chức thuộc quyền phải rõ ràng; phân cấp, phân quyền phải rành mạch; đồng thời, thực hiện tốt công tác kiểm tra, giám sát chặt chẽ, thường xuyên.

  Ba là, hoàn thiện cơ chế, chính sách, quy định về hoạt động của Quân đội tham gia lao động sản xuất, kết hợp quốc phòng với kinh tế, văn hóa, xã hội. Hoàn thiện pháp luật về quản lý, sử dụng đất quốc phòng. Có chính sách ưu tiên huy động nguồn lực đất đai, cơ sở hạ tầng, nguồn nhân lực Quân đội tham gia thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia, các đề án, dự án phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng trên địa bàn xung yếu, chiến lược, các vùng biển, đảo, vành đai biên giới...

Bốn là, phát triển công nghiệp quốc phòng tự chủ, tự lực, tự cường, lưỡng dụng, ngày càng hiện đại, liên kết chặt chẽ với công nghiệp dân sinh. Xây dựng cơ chế, chính sách đặc thù trong tạo lập, huy động các nguồn lực đầu tư cho xây dựng các mô hình tổ hợp công nghiệp quốc phòng hiệu quả. Rà soát, kiện toàn mô hình tổ chức, hoạt động của các doanh nghiệp công nghiệp quốc phòng hiện có theo hướng tinh, gọn, hiệu quả, hiện đại và lưỡng dụng. Đổi mới mô hình quản lý của các doanh nghiệp công nghiệp quốc phòng gắn với xu thế chung của thế giới và hội nhập quốc tế.

Năm là, phát huy vai trò của các đoàn kinh tế - quốc phòng, xây dựng khu kinh tế - quốc phòng gắn với xây dựng khu vực phòng thủ, xây dựng chính quyền địa phương hai cấp; củng cố thế trận quốc phòng toàn dân vững mạnh toàn diện. Nâng cao trình độ quản lý, tổ chức thực hiện nhiệm vụ, hướng dẫn Nhân dân tham gia phát triển kinh tế và xây dựng đời sống văn hóa mới; thực hiện tốt các chương trình mục tiêu quốc gia, nhất là Chương trình mục tiêu quốc gia “Phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi”. Đối với các đoàn kinh tế - quốc phòng hoạt động sản xuất, kinh doanh ở nước ngoài và trên phạm vi dọc biên giới, cần chú trọng thường xuyên làm tốt công tác đối ngoại góp phần giữ vững và mở rộng quan hệ hữu nghị với các nước.

Sáu là, sắp xếp, cơ cấu lại theo hướng tinh, gọn, mạnh, tiếp tục nâng cao chất lượng, hiệu quả doanh nghiệp Quân đội. Đổi mới cơ chế quản lý, nâng cao năng lực và hiệu quả của doanh nghiệp quân đội trên nền tảng khoa học, công nghệ hiện đại, đổi mới, sáng tạo. Phát triển tập đoàn, tổng công ty quân đội có quy mô phù hợp, hoạt động có hiệu quả, có khả năng phục vụ quân sự, quốc phòng cao, có năng lực cạnh tranh trong khu vực và quốc tế.

Bảy là, đẩy mạnh hợp tác kinh tế quốc phòng, tăng cường hoạt động xúc tiến, giới thiệu, quảng bá, xuất khẩu các sản phẩm vũ khí, trang bị kỹ thuật tự nghiên cứu, chế tạo trong nước; tăng cường hợp tác chuyển giao công nghệ quốc phòng, nhất là công nghệ cao, công nghệ mới.

Quân đội tham gia lao động sản xuất, kết hợp quốc phòng với kinh tế, văn hóa, xã hội thể hiện rõ ý thức, trách nhiệm chính trị của Quân đội trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Kết quả tham gia lao động sản xuất, kết hợp quốc phòng với kinh tế, văn hóa, xã hội là một tiêu chí đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ của Quân đội, là môi trường để tỏa sáng phẩm chất, hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới. Trước yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, củng cố quốc phòng, xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân hiện đại, đồng bộ trong tình hình mới, bám sát chức năng, nhiệm vụ được giao, Quân đội cần tiếp tục nâng cao chất lượng, hiệu quả tham gia lao động sản xuất, kết hợp củng cố quốc phòng với phát triển kinh tế - xã hội. Đó là tiếng gọi từ trái tim, mệnh lệnh của cuộc sống. Đó cũng là phương cách đáp trả đanh thép trước sự xuyên tạc, chống phá của các thế lực thù địch. Cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam thực hiện sự ủy thác của Đảng, Nhà nước, Nhân dân, quyết tâm phấn đấu, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao, mãi xứng danh “Bộ đội Cụ Hồ”, bộ đội của Nhân dân./.

 

[1] C. Mác và Ph. Ăngghen, Toàn tập, tập 29, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội,1996, tr.246.

[2] V.I. Lênin, Toàn tập, Tập 40, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, 2006, tr.122.

[3] Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 7, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr.431.

[4] Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 11, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr.365

[5] Bộ Quốc phòng, Tài liệu Hội thảo Đề án “Quân đội tham gia lao động sản xuất, xây dựng kinh tế kết hợp với quốc phòng trong tình hình mới”, Hà Nội, tháng 7/2023 (Phụ lục II, tr.1-2).

[6] C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 20, Nxb Chính trị quốc gia, ST, H.1994, tr.235

Đọc tiếp

Mới nhất

QUÂN ĐỘI THAM GIA LAO ĐỘNG SẢN XUẤT - NHỮNG GIÁ TRỊ VÀ ƯU THẾ VƯỢT TRỘI KHÔNG THỂ PHỦ NHẬN