CƠ QUAN CỦA TRUNG ƯƠNG HỘI - TIẾNG NÓI CỦA CỰU CHIẾN BINH VIỆT NAM SƯ ĐOÀN 7 ANH HÙNG
Một chặng đường chiến đấu vẻ vang, một tượng đài của ý chí và nghĩa tình đồng đội
Ngày 7-6-2026, Ban Liên lạc Sư đoàn 7 miền Bắc tổ chức Lễ Kỷ niệm trọng thể 60 năm ngày thành lập Sư đoàn 7 (13.6.1966 - 13.6.2026).
Cựu chiến binh Sư đoàn 7 các tỉnh phía Bắc vô cùng xúc động và vinh dự, tự hào đón nhận lẵng hoa của Đại tướng, Phan Văn Giang - Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Bí thư Quân ủy Trung ương, Phó Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng.
Lễ kỷ niệm 60 năm ngày thành lập Sư đoàn 7 có sự tham dự của các đồng chí nguyên Thủ trưởng Sư đoàn, Trung đoàn: Thượng tướng Nguyễn Thế Trị - nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Giám đốc Học viện Quốc phòng; Thiếu tướng Nguyễn Ngọc Nghinh - nguyên Chính ủy Trung đoàn 209, nguyên chính ủy Học viện Quốc phòng, Trưởng ban Liên lạc Quân đoàn 4; Thiếu tướng Nông Ngọc Toản - nguyên Phó Tư lệnh Quân khu 1, nguyên Quyền Trung đoàn trưởng Trung đoàn 209 Chốt chặn quốc lộ 13 Tàu Ô - Xóm ruộng; Trung tướng Dương Công Sửu - Anh hùng LLVT nhân dân, nguyên Phó Tư lệnh Quân khu 1, nguyên Tiểu đoàn trưởng Đặc công của Sư đoàn 7.
Lễ kỷ niệm có sự tham dự của các đồng chí: Đại tướng Ngô Xuân Lịch - nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Phó Bí thư Quân ủy Trung ương, nguyên Bộ trưởng Bộ Quốc phòng; Đại tướng Đỗ Bá Tỵ - nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Phó Chủ tịch Quốc hội, nguyên Tổng Tham mưu trưởng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng; Thượng tướng Nguyễn Trường Thắng - Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, nguyên Tư lệnh Quân khu 7; Thượng tướng Bế Xuân Trường - nguyên Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương, Phó Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trân Tổ quốc Việt Nam, Chủ tịch Hội Cựu chiến binh Việt Nam, nguyên Thứ trưởng Bộ Quốc phòng; Trung tướng Phùng Khắc Đăng - nguyên Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, nguyên Phó Chủ tịch Hội Cựu chiến binh Việt Nam; Trung tướng Lê Kim Cương - Phó Giáo sư, Tiến sỹ, Phó Giám đốc Học viện Quốc. Đại diện các cơ qua trọng yếu của Bộ Quốc phòng: Cục Tác chiến; Cục Quân lực; Cục Quân huấn, Bộ tổng tham mưu; Cục Tuyên huấn; Cục Cán bộ; Cục Chính sách; Cục Dân vận Tổng cục Chính trị; Tổng cục Hậu cần - Kỹ thuật.
Lễ kỷ niệm đón hơn 300 CCB của Sư đoàn 7, một số gia đình thân nhân liệt sĩ ở các tỉnh: Thừa Thiên Huế; Quảng Bình; Quảng Trị; Hà Tĩnh; Nghệ An; Thanh Hóa; Ninh Bình; TP. Hải phòng; Hưng yên; Bắc Ninh; Phú Thọ; TP Hà Nội; Tuyên Quang; Lạng Sơn; Cao Bằng; Hòa Bình; Quảng Ninh; Sơn La; Điện Biên về dự đông đủ. Đặc biệt, Đại tá Bế Ích Quân - nguyên Tham mưu trưởng Trung đoàn 209 chốt chặn Tàu Ô - Xóm Ruộng.
Đầu năm 1966, trước yêu cầu của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước bước vào giai đoạn quyết liệt, một bộ phận chủ lực của Sư đoàn 312 được lệnh tách đội hình, hành quân vào chiến trường miền Đông Nam Bộ. Ngày 13-6-1966, Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng ra quyết định thành lập Sư đoàn 7.
Trong những năm tháng chiến tranh, đơn vị nhiều lần thay đổi phiên hiệu để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ chiến trường: Công trường 7, Sư đoàn 7, Sư đoàn 8, Đoàn 74 và sau đó trở lại mang tên Sư đoàn 7. Kế thừa truyền thống vẻ vang của Sư đoàn 312 trong kháng chiến chống thực dân Pháp với khẩu hiệu “Đoàn kết - Anh dũng - Chiến thắng”, Sư đoàn 7 đã xây dựng nên truyền thống mới trong cuộc kháng chiến chống Mỹ: “Đoàn kết - Anh hùng - Thắng Mỹ”.
Những ngày đầu thành lập, đội hình Sư đoàn gồm các Trung đoàn 141, 165 cùng các đơn vị trực thuộc hành quân từ miền Bắc vào Nam. Sau đó các đơn vị Bắc Sơn, Trung đoàn 52, Trung đoàn 16, Trung đoàn 320 lần lượt bổ sung vào đội hình chiến đấu. Đầu năm 1969, Trung đoàn 209 từ Tây Nguyên cơ động vào chiến trường, từ đó Sư đoàn hội tụ đầy đủ ba trung đoàn bộ binh cùng các đơn vị binh chủng của Sư đoàn 312 - “Sư đoàn Chiến thắng”. Đầu năm 1971, theo yêu cầu chiến trường, Sư đoàn được biên chế trong đội hình Đoàn 301, rồi Quân đoàn 4 (tháng 7-1974). Cùng thời điểm đó, Trung đoàn 210 - Đoàn Pháo binh Tân Trào - được tăng cường vào đội hình Sư đoàn.
Vượt hơn 2.000 km dọc Trường Sơn hùng vĩ để vào miền Đông Nam Bộ giữa năm 1966, cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn bước ngay vào cuộc đối đầu quyết liệt với chiến lược “Chiến tranh cục bộ” của đế quốc Mỹ. Trong điều kiện vô cùng gian khổ, vừa phải chống chọi với sốt rét ác tính, thiếu thốn hậu cần, vừa phải đánh địch bảo vệ căn cứ, Sư đoàn đã chịu những tổn thất đau thương. Hơn 600 cán bộ, chiến sĩ đã anh dũng hy sinh bởi bệnh tật trên đường hành quân và tại căn cứ Bù Gia Mập.
Vượt lên mọi khó khăn, cuối năm 1966 và năm 1967, Sư đoàn chủ động tiến công tiêu diệt nhiều đồn bốt, căn cứ cấp tiểu đoàn của quân đội Sài Gòn tại Tân Hưng, Cần Lê và nhiều địa bàn khác. Đặc biệt trong trận Cần Lê, Trung đoàn 165 chịu tổn thất rất lớn với hơn 200 cán bộ, chiến sĩ hy sinh và trên 300 đồng chí bị thương; Đại đội 18 cao xạ chiến đấu đến người cuối cùng. Đến nay vẫn còn gần 200 liệt sĩ hy sinh trong trận đánh ấy chưa tìm được hài cốt. Chính từ những trận chiến oanh liệt đó, tên tuổi Công trường 7 bắt đầu vang dội trên chiến trường miền Đông Nam Bộ.
Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, Sư đoàn được giao nhiệm vụ đánh chặn các sư đoàn, lữ đoàn Mỹ từ Bình Long, Phước Long, Tây Ninh kéo về giải cứu Sài Gòn. Trên các địa bàn Chơn Thành - Bến Cát, Sở Gà, Phú Hưng, Sở Hội, Đồng Chàm, Bình Mỹ, Bình Cơ, Búng, Lái Thiêu, Bình Nhâm, Bình Chuẩn..., cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn đã chiến đấu ngoan cường, lập nhiều chiến công xuất sắc, góp phần làm phá sản chiến lược “Tìm diệt” của Mỹ và quân đội Sài Gòn.
Năm 1971, khi Mỹ mở rộng chiến tranh sang Campuchia, Sư đoàn tiếp tục lập nhiều chiến công tại Sa Nun, Mimot, Đầm Be, Uất Thơ Mây, Dốc Lu và nhiều địa bàn khác.
Năm 1972 ghi dấu một trong những chiến công hiển hách nhất trong lịch sử Sư đoàn: tham gia Chiến dịch Nguyễn Huệ và thực hiện nhiệm vụ chốt chặn tại Tàu Ô - Xóm Ruộng trên Đường 13 lịch sử. Từ ngày 5-4 đến ngày 28-8-1972, suốt 150 ngày đêm liên tục, cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn đã biến Đường 13 thành “con đường máu” của quân địch, ngăn chặn hiệu quả mọi nỗ lực chi viện cho Bình Long và Lộc Ninh, góp phần làm thay đổi cục diện chiến trường miền Nam. Đây là một trong những trận chiến ác liệt bậc nhất của cuộc kháng chiến chống Mỹ. Địch huy động hơn một nửa lực lượng cơ động Vùng 4 chiến thuật cùng một phần lực lượng tổng trù bị chiến lược; sử dụng hàng chục lượt B-52, hàng nghìn lượt máy bay ném bom, trực thăng vũ trang và pháo binh hạng nặng đánh phá ngày đêm. Có ngày chúng bắn tới 9.000 quả đạn pháo vào khu vực chốt. Chúng tuyên bố sẽ biến nơi đây thành vùng đất chết, không còn bóng người hay sự sống.
Thế nhưng, giữa biển lửa ấy, ý chí người lính Sư đoàn 7 vẫn không hề lay chuyển. Có những đại đội chỉ còn 4 đến 5 tay súng, có tiểu đoàn chỉ còn hơn 40 chiến sĩ nhưng vẫn giữ vững trận địa. Hầm hào bị san phẳng thì bám hố bom mà chiến đấu; một tổ chiến đấu trở thành một chốt thép; một người lính trở thành một mũi tiến công. Đồng đội chia nhau từng nắm cơm vắt, từng ngụm nước quý giá, truyền cho nhau những bản tin chiến thắng giữa khói lửa chiến trường.
Như một nhà văn đã viết: Hỏa lực bộ binh chống lại xe tăng, xe bọc thép, xe phun lửa; ý chí con người đối đầu bom tấn, pháo bầy và B-52 rải thảm. Dưới chân họ, đất không còn là đất, nhưng nơi ấy vẫn là Tổ quốc thiêng liêng. Với quyết tâm sắt đá và lòng quả cảm phi thường, cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn 7 cùng quân dân địa phương đã dựng nên bức tường thép bất khả xâm phạm trên Đường 13 lịch sử.
Hôm nay, nhiều đồng chí chỉ huy năm xưa đã đi xa: Đồng chí Đàm Văn Ngụy, Lê Nam Phong, Hải Bằng, Tư Liêm, Vinh, Vũ Việt Hồng, Nguyễn Lối, Phạm Văn Bốc, Tiến, Doanh, Khải... Những người còn lại như đồng chí Nguyễn Thái, đồng chí Bế Ích Quân, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Dương Công Sửu và nhiều đồng đội có mặt hôm nay chính là những nhân chứng sống của một thời máu lửa, những người đã cùng toàn Sư đoàn làm nên kỳ tích lịch sử.
Để tri ân những người đã ngã xuống, quân và dân địa phương đã xây dựng Đài tưởng niệm Tàu Ô - Xóm Ruộng. Trên bia đá của công trình có khắc tên 1.062 cán bộ, chiến sĩ đã anh dũng hy sinh tại chiến trường này.
Sau Hiệp định Paris năm 1973, Sư đoàn tiếp tục chiến đấu trong các trận giằng co quyết liệt vùng ven Sài Gòn, bảo vệ những vùng giải phóng đã giành được, buộc địch phải co cụm đối phó.
Năm 1974, Sư đoàn tiến công giải phóng các căn cứ địch trên Đường 14 từ Bình Dương đi Phước Long, trở thành lực lượng chủ yếu trong chiến dịch giải phóng Phước Long - tỉnh đầu tiên được giải phóng hoàn toàn.
Tháng 4 năm 1975, Sư đoàn tham gia trận Xuân Lộc - “cánh cửa thép” bảo vệ Sài Gòn của chính quyền Sài Gòn; tiếp đó tiến công Hố Nai, Biên Hòa và là một trong những lực lượng chủ công của Quân đoàn 4 tiến vào Sài Gòn, đánh chiếm nhiều mục tiêu quan trọng, góp phần làm nên Đại thắng mùa Xuân 1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.
Ngày 15-9-1975, Sư đoàn được tuyên dương danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.
Khi tập đoàn phản động Pôn Pốt - Iêng Xa Ri gây chiến tranh biên giới Tây Nam, Sư đoàn lại lên đường làm nhiệm vụ quốc tế cao cả. Từ Châu Đốc đến các chiến trường Pà Vét, Chi Pu, Tà Yên, Men Chay, Kô Ki Xôm, Cốc, Chóp, Tô Teng..., cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn đã chiến đấu dũng cảm, tạo điều kiện cho cách mạng Campuchia phát triển.
Tháng 12-1978, trong đội hình Quân đoàn 4, Sư đoàn đảm nhiệm hướng tiến công chủ yếu của chiến dịch phản công chiến lược. Sau những trận chiến vô cùng ác liệt tại Cầu Đôn So, Niết Lương, đơn vị đã thần tốc thọc sâu, giải phóng thủ đô Phnom Penh lúc 10 giờ 30 phút ngày 7-1-1979, sớm hơn kế hoạch một ngày, góp phần lật đổ chế độ diệt chủng Pôn Pốt - Iêng Xa Ri.
Từ năm 1979 đến năm 1988, Sư đoàn vừa chiến đấu bảo vệ địa bàn, vừa giúp bạn cứu đói, chữa bệnh, xây dựng chính quyền, xây dựng lực lượng vũ trang, góp phần giúp cách mạng Campuchia từng bước trưởng thành và bảo vệ thành quả cách mạng.
Ghi nhận những cống hiến to lớn ấy, ngày 20-12-1979, Sư đoàn 7 được tuyên dương Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân lần thứ hai. Ngày 25-1-1983, Tiểu đoàn 712, Trung đoàn 165 được tuyên dương Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Tháng 12-1984, Sư đoàn vinh dự được tặng thưởng Huân chương Hồ Chí Minh.
Ngày nay, trong điều kiện mới, Sư đoàn là đơn vị khung thường trực của Quân khu 7, tiếp tục xây dựng lực lượng dự bị động viên vững mạnh, chăm lo bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, duy trì mối quan hệ gắn bó với các địa phương, sẵn sàng nhận và hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao.
Tuy nhiên, phía sau những chiến công lẫy lừng ấy là biết bao mất mát không thể nào bù đắp. Gần hai vạn cán bộ, chiến sĩ của Sư đoàn đã anh dũng hy sinh; hơn năm vạn đồng chí bị thương hoặc mang di chứng chất độc da cam/dioxin. Mỗi chiến công đều thấm đẫm máu xương của đồng đội, là nỗi đau còn mãi trong lòng gia đình và quê hương các anh.
Những câu chuyện của trận Cần Lê năm 1967, của Tàu Ô - Xóm Ruộng 150 ngày đêm máu lửa, của Xuân Lộc, Hố Nai - Biên Hòa hay những trận chiến đẫm máu trên đất Campuchia vẫn còn nguyên vẹn trong ký ức của những người lính năm xưa. Đó là ký ức về những đồng đội vừa gặp hôm nay, ngày mai đã vĩnh viễn nằm lại chiến trường; về những đơn vị thay quân trong đêm rồi gần như hy sinh hết sau một ngày chiến đấu; về những người chỉ cách chiến thắng cuối cùng một bước chân nhưng vẫn ngã xuống cho Tổ quốc trường tồn.
Một bác sĩ quân y Mỹ từng tham gia trận chiến tại Cần Lê đã viết trong thư gửi Đại sứ Việt Nam tại Hoa Kỳ năm 1994 rằng: trong suốt lịch sử chiến tranh của Mỹ, ông chưa từng chứng kiến trận nào ác liệt hơn trận đánh ngày 7-8-1967; và ông xác nhận có khoảng hơn 150 chiến sĩ của ta đã được chôn cất tập thể tại khu vực Tống Lê Chân. Đó là lời chứng từ phía bên kia chiến tuyến về tinh thần chiến đấu quả cảm và sự hy sinh to lớn của cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn 7.
Hôm nay, thay mặt cán bộ, chiến sĩ, cựu chiến binh, các gia đình chính sách, thương binh, bệnh binh và thân nhân liệt sĩ của Sư đoàn 7 Anh hùng, chúng ta trân trọng ghi nhận và bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với Đảng, Nhà nước, các cấp ủy, chính quyền và nhân dân cả nước đã luôn quan tâm thực hiện công tác “Đền ơn đáp nghĩa”, chăm lo đời sống các gia đình liệt sĩ, thương binh, bệnh binh, cựu chiến binh và nạn nhân chất độc da cam/dioxin.
Đó không chỉ là sự tri ân đối với những người đã cống hiến và hy sinh vì Tổ quốc, mà còn là sự tiếp nối truyền thống nghĩa tình, thủy chung của dân tộc Việt Nam đối với những người đã làm nên truyền thống vẻ vang của Sư đoàn 7 Anh hùng.
Đặc biệt, đồng chí đề nghị các cựu chiến binh Sư đoàn 7 tiếp tục quan tâm, dành tâm huyết cho công tác giáo dục truyền thống cách mạng đối với thế hệ trẻ. Những ký ức chiến trường, những câu chuyện về đồng chí, đồng đội, về sự hy sinh anh dũng của biết bao cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn chính là những bài học sinh động, có sức lay động sâu sắc đối với lớp trẻ hôm nay. Qua đó góp phần bồi đắp lòng yêu nước, lý tưởng cách mạng, niềm tự hào dân tộc và ý thức trách nhiệm bảo vệ Tổ quốc cho các thế hệ mai sau.
Đồng chí tin tưởng rằng, với truyền thống vẻ vang đã được hun đúc bằng máu, mồ hôi và sự hy sinh của nhiều thế hệ cán bộ, chiến sĩ, các cựu chiến binh Sư đoàn 7 sẽ tiếp tục là những tấm gương sáng trong cuộc sống đời thường, tiếp tục đóng góp trí tuệ, kinh nghiệm và tâm huyết cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ mới.
Gần 6 thập kỷ đã đi qua, nhưng những người lính Sư đoàn 7 vẫn luôn khắc ghi lời thề năm ấy: còn Tổ quốc là còn trách nhiệm; còn đồng đội là còn nghĩa tình. Những người đã ngã xuống mãi mãi là một phần máu thịt của Sư đoàn, là ngọn lửa thiêng soi sáng các thế hệ hôm nay và mai sau tiếp bước trên con đường phụng sự Tổ quốc, phụng sự Nhân dân.
Tại Lễ kỷ niệm công bố đồng chí Nguyễn Cao Cử chính thức nhận nhiệm vụ Trưởng ban liên lạc Sư đoàn 7, thay đồng chí Thiếu tướng Nguyễn Ngọc Nghinh.
Nhân dịp này, tác giả Lê Hiếu và đồng chí Nguyễn Khắc Hồng tặng Ban liên lạc Sư đoàn 7 cuốn sách “Ký ức người lính bộ binh Sư đoàn 7” - Tập 1.
Đọc tiếp
- Hưởng ứng Ngày Đại dương Thế giới (8/6), ngày 6/6, Trường Tiểu học Vĩnh Nguyên 3 (điểm đảo Trí Nguyên) đã phối...
- Thủ tướng Lê Minh Hưng được phân công làm Trưởng Ban Chỉ đạo quốc gia khắc phục hậu quả bom mìn và chất độc hóa...
- Ngày 3-6, tại phường Thành Sen, Cụm thi đua số 1 Hội CCB tỉnh Hà Tĩnh tổ chức hội nghị sơ kết công tác hội và phong trào...
- Ngày 6/6, UBND phường Trung Mỹ Tây, TP.HCM tổ chức Lễ phát động toàn dân tập luyện môn bơi phòng, chống đuối nước và...
- Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng vừa được UNESCO chính thức công nhận là Khu Dự trữ sinh quyển thế giới, trở thành khu...
Mới nhất
- Sáng ngày 05/6/2026, tại Nhà dưỡng lão Vầng Trăng Khuyết – Xóm trọ Sài Gòn Bao Dung, Công ty TNHH Mooncare do Bác sĩ Nguyễn Đỗ...
- Bộ đội Trạm Radar 20 (Trung đoàn 292, Sư đoàn 377, Quân chủng phòng không - Không quân) đã tích cực tham gia các hoạt động...
- 23 hộ đồng bào dân tộc thiểu số có hoàn cảnh khó khăn ở xã Kim Phú đã được xây mới, sửa chữa nhà ở kiên cố. Những...
- Sáng 04/6, tại Nghĩa trang liệt sĩ xã Đức Linh, Ban Chỉ đạo 515 tỉnh Lâm Đồng tổ chức triển khai làm trước, rút kinh...
- Ngày 6/6, tại thành phố Đà Nẵng, Công ty TNHH V-AmpPro tổ chức lễ ra mắt V-AmpPro – dụng cụ bẻ ống thuốc chuyên nghiệp...
- Tỉnh Quảng Trị triển khai lấy mẫu ADN, số hóa thông tin đối với 5.929 phần mộ liệt sĩ chưa xác định danh tính tại...
- Hình ảnh các cán bộ, học viên Học viện Hải quân (HVHQ) miệt mài thực hiện các phần việc xây dựng đã trở nên quen...
- Tối 6-6, tại Thôn Thái Thông (phường Nam Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa), Làng nghề Nha Trang Xưa tổ chức khai mạc “Hội hè Nha...
-
Thanh Hoá: Hơn 1.300 thí sinh đã hoàn thành bài thi môn chuyên vào lớp 10 Trường THPT chuyên Lam Sơn
Chiều nay 6/6/2026 hơn 1.300 thí sinh đăng ký dự thi vào lớp 10 Trường THPT chuyên Lam Sơn đã hoàn thành bài thi môn chuyên. - Sáng nay 6/6/2026, hơn 51.000 thí sinh thi vào lớp 10 công lập tại Thanh Hóa năm học 2026-2027 đã hoàn thành bài thi môn Toán với...
- Cỡ chữ Mặc định














