Logo-print CƠ QUAN CỦA TRUNG ƯƠNG HỘI - TIẾNG NÓI CỦA CỰU CHIẾN BINH VIỆT NAM

Hội thảo khoa học: “Nữ giới với bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa dân tộc”

Tuấn Sơn • 31/10/2026 - 22:35

Ngày 31/10 tại Hà Nội, Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam (thuộc Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam) phối hợp cùng Trung tâm Nghiên cứu Nữ giới Phật giáo (thuộc Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam) tổ chức Hội thảo khoa học: “Nữ giới với bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa dân tộc”.

 

Trong bối cảnh chuyển đổi số và hội nhập quốc tế sâu rộng, bảo tồn di sản văn hóa không chỉ dừng lại ở việc lưu giữ hiện vật tĩnh, mà đòi hỏi sự nhìn nhận toàn diện về vai trò của các chủ thể thực hành trong đời sống thường nhật. Hội thảo nhằm làm sáng tỏ những đóng góp lịch sử còn ẩn tàng, đồng thời kiến tạo giải pháp phát huy “nguồn lực mềm” của người phụ nữ trong xã hội đương đại. Hội thảo là sự kết hợp chặt chẽ, giàu ý nghĩa giữa một thiết chế bảo tồn di sản văn hóa quốc gia uy tín với một cơ quan nghiên cứu chuyên sâu về nữ giới Phật giáo, kết nối học giới Phật giáo với các nhà khoa học trên cả nước.

anh-a1-1-ht-btdth-vn-2226
Ni sư, TS Thích Như Nguyệt (Huệ Lâm)- Giám đốc trung tâm Nghiên cứu Nữ giới Phật giáo phát biểu khai mạcHội thảo khoa học: “Nữ giới với bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa dân tộc” 

Phát biểu khai mạc, Ni sư, TS Thích Như Nguyệt ( Huệ Lâm)- Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Nữ giới Phật giáo ( thuộc Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam) cho  biết:Trung tâm Nghiên cứu Nữ giới Phật giáo ra đời với sứ mệnh học thuật đặc thù: Tập trung nghiên cứu, sưu tầm và làm sáng rõ những đóng góp to lớn của nữ giới nói chung, Ni giới và nữ Phật tử nói riêng trong dòng chảy lịch sử tâm linh và văn hóa dân tộc. Chúng tôi luôn tâm niệm rằng, nữ giới không chỉ là người gìn giữ nền nếp gia phong, bảo tồn phong tục tập quán hay trao truyền ký ức cộng đồng, mà chính là mạch nguồn bền bỉ khơi dòng trí tuệ, lan tỏa tinh thần từ bi và các giá trị nhân văn sâu sắc vào đời sống xã hội. Bên cạnh các đề tài về lịch sử tu học và hành trạng chư Ni tiền bối, Trung tâm luôn hướng tới một mong ước lớn hơn: Trở thành nhịp cầu kết nối nghiên cứu và kết nối văn hóa. “Từ những trang tư liệu về công hạnh chư Ni, những di sản văn bia, cho đến những giá trị văn hóa đời sống thường nhật, chúng tôi luôn trăn trở làm sao để những giá trị ấy không bị lãng quên trước lớp bụi thời gian, mà được soi sáng dưới góc nhìn khoa học hiện đại. Để hôm nay, tại không gian văn hóa ý nghĩa này, tiếng nói tâm huyết của chư Ni và các nhà nghiên cứu thế học đã cùng hòa nhịp, mở ra những đối thoại chân thành và cởi mở về vị thế, bản sắc và sự dấn thân của người phụ nữ Việt Nam qua các thời kỳ.”, Ni sư, TS Thích Như Nguyệt cho hay.

Báo cáo đề dẫn,

anh-a1-2-ht-btdth-vn-2227
PGS.TS Lê Hải Đăng- Giám đốc Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam phát biểu đề dẫn Hội thảo khoa học: “Nữ giới với bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa dân tộc”. 

PGS, TS Lê Hải Đăng- Giám đốc Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam ( Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam) nhấn mạnh: Mỗi bài viết, mỗi góc nhìn được lựa chọn đều mang hàm lượng khoa học cao, bao quát nhiều không gian địa - văn hóa đa dạng từ đồng bằng Bắc Bộ, Trung Bộ, Nam Bộ, vùng đồng bào các dân tộc thiểu số ở Lạng Sơn, Kon Tum, cho đến cộng đồng kiều bào ở nước ngoài và những so sánh mang tầm khu vực.

anh-a1-3-ht-btdth-vn-2228
Toàn cảnh Hội thảoHội thảo khoa học: “Nữ giới với bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa dân tộc”. 

Theo PGS.TS Lê Hải Đăng: Điểm nổi bật đầu tiên kết tinh từ hệ thống các tham luận là việc nhận diện người phụ nữ như một chủ thể sống động trong việc bảo tồn và trao truyền ký ức lịch sử. Bằng việc tiếp cận Phật giáo như một “thực thể sống” và khai thác đa tầng tư liệu đời thường – từ văn bia Hậu Phật, sổ công đức đến ký ức truyền khẩu – các nghiên cứu đã phục dựng chân thực diện mạo của những người phụ nữ giữ chùa, chăm sóc Tam bảo và gìn giữ đạo lý tri ân gắn bó keo sơn với vận mệnh dân tộc. Tính liên tục của dòng chảy văn hóa ấy được khắc họa sinh động qua cuộc đời và công hạnh của các bậc Trưởng lão Ni tiền bối và đương đại.

anh-a1-4-ht-btdth-vn-2229
Ni trưởng Như Dung- Phân ban Ni giới Trung ương trình bày tham luận: “ Ni trưởng Huệ Giác với sự nghiệp trồng rừng và ươm mầm tăng tài .

PGS.TS Lê Hải Đăng cho biết: Không dừng lại ở việc gìn giữ quá khứ, các tham luận đã chứng minh bước chuyển căn bản của người phụ nữ trong bối cảnh đương đại: Chuyển dịch từ vị thế bảo tồn thụ động sang chủ thể chủ động lựa chọn, diễn giải, thích ứng và tái tạo các giá trị văn hóa mới.  Ở không gian văn hóa của cộng đồng người Việt tại hải ngoại, tiếng mẹ đẻ, phong vị ẩm thực và tà áo dài qua sự trao truyền bền bỉ của người phụ nữ đã trở thành “sức mạnh mềm”, kết nối các thế hệ kiều bào và đóng vai trò như những đại sứ văn hóa tự nhiên trong mắt bạn bè quốc tế. ” Trong khi đó, với nữ giới Phật giáo, tinh thần từ bi đã được chuyển hóa linh hoạt thành nguồn vốn xã hội to lớn thông qua hệ thống giáo dục mầm non, y tế từ thiện, các mô hình an sinh và cứu trợ, đóng góp thiết thực cho sự phát triển của cộng đồng. Đặc biệt, đứng từ góc độ phương pháp luận và quản trị thiết chế văn hóa, các tham luận đã cung cấp những gợi mở vô cùng giá trị “. PGS.TS Lê Hải Đăng chía sẻ.

Ban tổ chức cho biết: Hội thảo đã tiếp nhận, thẩm định và quy tụ 30 công trình nghiên cứu công phu của các chuyên gia đầu ngành, các nhà khoa học uy tín đến từ nhiều cơ quan, viện nghiên cứu và Trường đại học lớn trên cả nước.

anh-a1-5-htbtdth-vn-2230
Các đại biểu tham dự Hội thảo khoa học: “Nữ giới với bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa dân tộc” 

Hội thảo tập trung thảo luận 03 cụm chủ đề trọng tâm: Ở chủ đề thứ nhất - Nữ giới với bảo tồn, truyền thừa các giá trị văn hóa truyền thống và ký ức lịch sử, các tham luận tập trung làm rõ vai trò gìn giữ văn hóa từ nếp sống gia đình đến không gian tín ngưỡng chùa làng; giải mã những khoảng trống trong sử liệu truyền thống qua nguồn tư liệu đời thường (văn bia Hậu Phật, sổ công đức, ký ức truyền khẩu); phục dựng và tôn vinh đạo nghiệp, hành trạng của các bậc Trưởng lão Ni tiền bối và đương đại tiêu biểu (như Sư trưởng Như Thanh, Ni trưởng Như Hòa, Ni trưởng Huệ Giác, Ni trưởng Tịnh Nguyện, Ni sư Chúc Phương, Ni sư Đức Quang...).

Chủ đề thứ hai -Nữ giới với phát huy các giá trị văn hóa và định hình bản sắc đương đại,đi sâu phân tích các thực hành văn hóa đời thường (ngôn ngữ, ẩm thực, áo dài, nghi lễ) như một dạng “sức mạnh mềm” của cộng đồng người Việt trong và ngoài nước; bảo tồn nghề thủ công truyền thống (dệt thổ cẩm) gắn với sinh kế bền vững và gia tăng vị thế phụ nữ dân tộc thiểu số tại Lạng Sơn, Kon Tum; phát huy nguồn vốn xã hội của mạng lưới Ni giới trong các mô hình an sinh, y tế, giáo dục mầm non, từ thiện xã hội; cùng sự thích ứng linh hoạt trước làn sóng truyền thông mới và chuyển đổi số.

Ở chủ đề thứ ba - Định hướng phương pháp luận, thiết chế bảo tàng và chính sách phát triển bền vững, các học giả bàn thảo các vấn đề lý luận về bình đẳng giới và trao quyền thực chất cho phụ nữ trong các thiết chế quản trị xã hội và tôn giáo; định hướng phát triển du lịch di sản văn hóa tâm linh thời kỷ nguyên số; chuyển dịch phương thức tiếp cận của bảo tàng từ bảo tồn tĩnh sang “di sản sống” (bảo tồn động dựa vào cộng đồng, “số hóa cái làm nên cái nhìn thấy”); đồng thời mở rộng hợp tác nghiên cứu, xây dựng kho dữ liệu số mở về di sản ký ức nữ giới và thúc đẩy ngoại giao văn hóa.

Ban tổ chức cho biết: Xuất phát từ nền tảng học thuật của Hội thảo, chúng tôi kỳ vọng đây sẽ là điểm khởi đầu mở ra sự hợp tác lâu dài giữa Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam với Trung tâm Nghiên cứu Nữ giới Phật giáo (thuộc Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam) và các cơ quan nghiên cứu khác. Sự hợp tác này sẽ hướng tới việc chung tay khảo sát thực địa, kiểm kê di sản, hình thành Quỹ Bảo tồn di sản Ni giới, xây dựng kho dữ liệu số mở về di sản ký ức của nữ giới, thực thi nghiêm ngặt các chuẩn mực đạo đức nghiên cứu đối với hiện vật thiêng, và kết nối với các thiết chế bảo tàng quốc tế để lan tỏa hình ảnh người phụ nữ Việt Nam tự chủ, nhân văn.

 

Đọc tiếp

Mới nhất

Hội thảo khoa học: “Nữ giới với bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa dân tộc”