Thời cơ không chờ đợi
Thế giới đang biến đổi nhanh chóng dưới tác động đan xen của cạnh tranh địa chính trị, tái cấu trúc chuỗi cung ứng, biến đổi khí hậu và làn sóng công nghệ mới. Trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn và chuyển đổi số đang làm thay đổi cách thức sản xuất, quản trị và cạnh tranh. Những chuyển động ấy mở ra cơ hội, nhưng cũng khiến khoảng cách phát triển có thể nới rộng nếu thể chế đổi mới chậm, nguồn nhân lực không theo kịp và năng lực quản trị không được nâng lên.
Sau 40 năm đổi mới, Việt Nam đã đạt nhiều thành tựu quan trọng; quy mô nền kinh tế, độ mở thương mại và vị thế quốc tế ngày càng tăng. Tuy nhiên, mục tiêu đến năm 2030 trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao và tầm nhìn đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao đòi hỏi phải tạo ra những chuyển biến sâu hơn về năng suất, chất lượng tăng trưởng, công nghệ và chất lượng nguồn nhân lực.
Trong bối cảnh ấy, nghị quyết không thể chỉ là lời xác lập mục tiêu. Mỗi mục tiêu phải dẫn đến câu hỏi cụ thể: việc gì cần làm trước, ai chịu trách nhiệm, nguồn lực ở đâu, thời hạn nào phải hoàn thành và kết quả được đo bằng tiêu chí nào? Câu hỏi về năng lực thực thi vì thế không đứng sau câu chuyện phát triển; nó nằm ngay ở trung tâm của câu chuyện ấy.
Từ quyết sách đến kết quả
Thực tiễn cho thấy, cùng một chủ trương đúng nhưng kết quả ở mỗi nơi có thể khác nhau. Có nơi nghị quyết nhanh chóng trở thành hành động, tạo chuyển biến trong quản lý, sản xuất, kinh doanh và phục vụ Nhân dân. Nhưng cũng có nơi việc triển khai dừng ở hội nghị, văn bản và khẩu hiệu; chương trình hành động còn chung chung, trách nhiệm chưa rõ, kiểm tra thiếu thường xuyên, kết quả khó đo lường.
Khoảng cách ấy chính là khoảng cách giữa quyết tâm chính trị và năng lực tổ chức thực hiện. Nếu không được thu hẹp, nó sẽ trở thành điểm nghẽn, làm chậm việc khơi thông nguồn lực và bỏ lỡ thời cơ phát triển. Nghị quyết chỉ phát huy giá trị khi được chuyển thành việc làm; việc làm chỉ có ý nghĩa khi tạo ra sản phẩm; sản phẩm chỉ chứng minh được hiệu quả khi mang lại thay đổi thực chất.
Tại phiên bế mạc Đại hội XIV, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh yêu cầu “biến ý chí thành hành động, biến quyết sách thành kết quả cụ thể”. Đó không chỉ là lời hiệu triệu mà còn là chuẩn mực của tổ chức thực hiện: Nói đi đôi với làm, làm đúng trọng tâm, quyết liệt nhưng có kỷ luật, theo đuổi công việc đến cùng và lấy hiệu quả làm thước đo.
Hệ thống nghị quyết cần được nối bằng hành động
Một hệ thống các nghị quyết chiến lược được Trung ương, Bộ Chính trị ban hành, tạo khuôn khổ và động lực mới cho phát triển đất nước.
Hệ thống nghị quyết chiến lược được ban hành trên nhiều lĩnh vực then chốt: khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; hoàn thiện thể chế, pháp luật; phát triển kinh tế tư nhân; hội nhập quốc tế; bảo đảm an ninh năng lượng; phát triển giáo dục, y tế, văn hóa; xây dựng Đảng và phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực. Mỗi nghị quyết giải quyết một nhóm vấn đề, nhưng các định hướng ấy gặp nhau ở yêu cầu khơi thông nguồn lực, phát huy năng lực con người, đổi mới phương thức quản trị và nâng cao hiệu lực thực thi.
Nghị quyết số 57-NQ/TW đặt khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số vào vị trí động lực quan trọng của phát triển. Nghị quyết số 66-NQ/TW nhấn mạnh đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật; Nghị quyết số 68-NQ/TW hướng tới phát triển kinh tế tư nhân; Nghị quyết số 59-NQ/TW mở rộng yêu cầu hội nhập quốc tế trong tình hình mới. Cùng với đó, các nghị quyết về năng lượng, giáo dục, y tế, kinh tế nhà nước, văn hóa và xây dựng Đảng tạo nên những trụ cột liên kết của phát triển bền vững.
Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV.
Tuy nhiên, hệ thống chủ trương chỉ thực sự tạo sức mạnh khi được nối với nhau bằng chương trình hành động có trọng tâm, nguồn lực và cơ chế phối hợp. Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV đã cụ thể hóa định hướng thành các nhóm nhiệm vụ, chỉ tiêu, đề án, dự án và công trình trọng điểm giai đoạn 2026–2030. Bước tiếp theo là đưa những mục tiêu ấy vào kế hoạch của từng ngành, địa phương, cơ quan, doanh nghiệp; tránh tình trạng kế hoạch cấp dưới chỉ sao chép văn bản cấp trên mà chưa xuất phát từ vấn đề thực tế của mình.
Quản trị việc thực hiện, không chỉ quản lý kế hoạch
Hệ thống nghị quyết chiến lược - các trụ cột cho phát triển mới.
Điều cần thiết là chuyển từ tư duy “đã triển khai” sang tư duy “đã tạo ra thay đổi gì”. Một chương trình hành động có chất lượng phải xác định rõ đầu việc, đầu mối chịu trách nhiệm, thẩm quyền, nguồn lực, tiến độ và sản phẩm đầu ra. Kiểm tra không chỉ để xác nhận việc đã làm, mà phải phát hiện vướng mắc, tìm nguyên nhân và buộc quá trình thực hiện điều chỉnh kịp thời.
Đó cũng là sự chuyển dịch từ quản lý theo thủ tục sang quản trị dựa trên kết quả. Kết quả không chỉ là văn bản được ban hành, dự án được khởi động hay quy trình được xây dựng; còn phải xem thời gian xử lý có rút ngắn không, nguồn lực có được sử dụng hiệu quả hơn không, năng suất có tăng lên không, người dân và doanh nghiệp có được phục vụ tốt hơn không.
Tầm nhìn chiến lược chỉ mở ra khả năng; khả năng ấy có trở thành hiện thực hay không phụ thuộc vào năng lực thực thi. Trong giai đoạn phát triển mới, thách thức không chỉ là có những quyết sách đúng và khát vọng lớn, mà là thu hẹp khoảng cách giữa mục tiêu được xác lập với thay đổi diễn ra trong đời sống. Nhận diện đúng khoảng cách ấy là bước đầu để chuyển từ ban hành chủ trương sang tạo lập năng lực phát triển.
(Còn nữa)
(*) Phó Bí thư thường trực Đảng ủy, Ủy viên HĐQT
Ngân hàng thương mại cổ phần Đầu tư và phát triển Việt Nam (BIDV)




