Logo-print CƠ QUAN CỦA TRUNG ƯƠNG HỘI - TIẾNG NÓI CỦA CỰU CHIẾN BINH VIỆT NAM

VỤ ÁN “TRƯƠNG VUI VÀ CÁC ĐỒNG PHẠM”

Bài 3: 173 Hợp đồng khống: Ai chủ mưu, ai gánh nợ?

TƯ HOÀNH 01/07/2026 - 07:29

Từ năm 2009 đến 2013, Công ty Bihimex đã thực hiện 173 hợp đồng mua bán hàng hóa được các cơ quan tố tụng xác định là khống. Không có hàng hóa thực tế nhưng vẫn phát sinh hợp đồng, hóa đơn, chứng từ và dòng tiền phục vụ việc vay vốn ngân hàng, công ty mẹ Dofico. Gần một thập kỷ sau, nhiều mắt xích của vụ việc vẫn chưa được giải đáp: Ai đã tạo lập hệ thống chứng từ này? Trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân liên quan đã được xem xét đầy đủ hay chưa? Và liệu toàn bộ bản chất, đường đi của dòng tiền từ 173 hợp đồng khống đã thực sự được làm rõ?

dien-dan-ccb-1651-0726
Thượng tướng Bế Xuân Trường, Phó Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam - Chủ tịch Hội CCB Việt Nam chủ trì Hội nghị tiếp công dân, đối thoại và giải quyết kiến nghị của cử tri cựu chiến binh liên quan đến phản ánh của Công ty Upexim. 

Từ khoản công nợ hơn 4 tỷ đồng đến hệ thống 173 hợp đồng khống trị giá 1.228 tỷ đồng 

Theo phản ánh của Công ty Cổ phần Sản xuất - Xuất nhập khẩu Lâm sản và Hàng tiểu thủ công nghiệp (Upexim) cùng các tài liệu được công bố tại Hội nghị tiếp công dân, đối thoại và giải quyết kiến nghị của cử tri CCB liên quan đến phản ánh của Công ty Upexim do Trung ương Hội CCB Việt Nam tổ chức ngày 5-5-2026 (viết tắt là Hội nghị tiếp công dân), trong giai đoạn 2009-2013, Công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu Bihimex Biên Hòa (Bihimex) đã ký 173 hợp đồng mua bán hàng hóa được xác định là khống, với tổng giá trị dòng tiền 1.228.287.020.195 đồng. Trong đó có 140 hợp đồng ký với Upexim và 33 hợp đồng ký với các doanh nghiệp trung gian khác.

Theo Bản án phúc thẩm số 929/2022/HS-PT ngày 16-12-2022 của TAND cấp cao tại TP. Hồ Chí Minh, nguyên nhân dẫn đến việc ký các hợp đồng này xuất phát từ khoản công nợ hơn 4,46 tỷ đồng mà Upexim còn nợ Bihimex trong quá trình hợp tác giai đoạn 2004-2008. Bản án xác định bà Tống Thị Bích Loan - Tổng Giám đốc Bihimex và ông Trương Vui - Tổng Giám đốc Upexim đã thống nhất ký các hợp đồng mua bán hàng hóa khống để Bihimex sử dụng làm căn cứ vay vốn ngân hàng và Tổng Công ty Dofico, sau đó tiền được chuyển qua các doanh nghiệp đứng tên trong hợp đồng rồi quay trở lại Bihimex trong thời gian rất ngắn.

Điều khiến Upexim và nhiều chuyên gia pháp lý đặt câu hỏi là: Nếu mục đích chỉ nhằm xử lý khoản công nợ hơn 4 tỷ đồng thì chỉ cần một hoặc một vài hợp đồng tương ứng. Vậy, vì sao phải ký tới 173 hợp đồng, với tổng giá trị lên tới 1.228 tỷ đồng, lớn gấp khoảng 275 lần khoản nợ ban đầu?

Theo phản ánh của Upexim tại Hội nghị tiếp công dân, quy mô và cách thức thực hiện cho thấy các hợp đồng này không đơn thuần nhằm mục đích thu hồi công nợ mà còn được sử dụng để hình thành hồ sơ vay vốn cho chính Bihimex. Chính diễn biến dòng tiền trong hồ sơ vụ án đã chỉ rõ bản chất vấn đề này. Cụ thể, sau khi ngân hàng hoặc Dofico giải ngân theo các hợp đồng khống, tiền được chuyển vào tài khoản các doanh nghiệp đứng tên “bên bán”, rồi tiếp tục luân chuyển và quay trở lại Bihimex chỉ trong khoảng 24 giờ.

Đại diện Upexim còn cho biết tiếp, bà Tống Thị Bích Loan là người đại diện quản lý, sử dụng nguồn tiền và thực hiện việc trả nợ ngân hàng khi đến hạn. Trong khi đó, Upexim và các doanh nghiệp còn lại được xác định chỉ đứng tên trên hợp đồng, không quản lý dòng tiền và cũng không được xác định là bên hưởng lợi.

Đáng chú ý, hồ sơ vụ án còn thể hiện vai trò của bà Châu Thị Khoa - Phó Tổng Giám đốc kiêm Kế toán trưởng Bihimex - trong việc lập hệ thống hồ sơ phục vụ các khoản vay, gồm hợp đồng mua bán hàng hóa, hóa đơn, chứng từ xuất nhập kho, phương án kinh doanh và báo cáo tài chính. Tuy nhiên, theo kết luận của cơ quan tiến hành tố tụng, các giao dịch này không phát sinh hàng hóa thực tế. Trên sổ kế toán, các khoản tiền vẫn được hạch toán là “công nợ phải thu” đối với Upexim; nhưng theo phản ánh của doanh nghiệp, các khoản công nợ này chưa từng được đối chiếu, xác nhận giữa các bên.

Một chi tiết đáng quan tâm khác cũng được Upexim phản ánh tại Hội nghị tiếp công dân và kiến nghị các cơ quan tố tụng tiếp tục làm rõ các hợp đồng được ký kết trong giai đoạn từ tháng 11-2012 đến tháng 2-2013. Theo doanh nghiệp này, để che đậy những thất thoát từ 153 hợp đồng của giai đoạn 2009-2012 (144 tỷ đồng), bà Loan đã ký thêm 20 hợp đồng khống mới với giá trị hơn 168,7 tỷ đồng (trong đó 14 hợp đồng ký với Upexim trị giá khoảng 113,8 tỷ đồng, 6 hợp đồng ký với các pháp nhân khác gần 54,9 tỷ đồng). Toàn bộ số tiền từ các hợp đồng khống trên vẫn quay về Bihimex trong vòng 24 giờ, nhưng lần này được hạch toán thành “thu hồi nợ” của 153 hợp đồng cũ với số tiền 144 tỷ đồng. “Nếu vụ việc không bị phát hiện, ông Trương Vui không bị bắt tạm giam và khởi tố thì vòng luân chuyển này có thể còn tiếp diễn, kéo theo nguy cơ tài sản Nhà nước sẽ bị thiệt hại lớn hơn nhiều” - đại diện Upexim cho biết thêm.

dien-dan-1651-0728
Nguồn: Tài liệu Upexim, Kết luận điều tra, Cáo trạng, Bản án...

Ai là người chủ mưu?

Đối chiếu tài liệu, hồ sơ vụ án cho thấy, bà Loan và bà Khoa là hai người trực tiếp tổ chức, thực hiện việc ký kết 173 hợp đồng mua bán hàng hóa khống và đều bị kết án về tội “Cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng”. Bà Loan bị tuyên phạt 10 năm tù, bà Khoa 8 năm tù. Thế nhưng, cả hai không bị buộc bồi thường thiệt hại trong vụ án. Trong khi đó, Upexim - đơn vị đứng tên 140/173 hợp đồng khống, không được hưởng lợi mà ngược lại còn bị lỗ 87.007.217.000 đồng - lại bị buộc phải bồi thường cho Bihimex 50% số tiền được cho là thất thoát.

Điều này dẫn đến một nghịch lý đáng chú ý. Theo số liệu có thể tái lập từ hồ sơ vụ án, bà Loan và bà Khoa trực tiếp quản lý, sử dụng hoặc có thể nhận hưởng 37.211.636.720 đồng từ lợi nhuận của các hợp đồng Bihimex ký với Upexim và 49.795.580.380 đồng từ các pháp nhân khác chuyển trả Bihimex; tổng cộng 87.007.217.100 đồng - con số gần như trùng khớp với khoản lỗ mà Upexim phải gánh chịu. Từ sự trùng khớp này, nhiều chuyên gia tham dự Hội nghị tiếp công dân, đối thoại và giải quyết kiến nghị của CCB do Trung ương Hội CCB Việt Nam tổ chức ngày 5-5-2026 cho rằng cần xem xét khả năng Upexim là bên bị thiệt hại, thay vì là chủ thể phải bồi thường.

Đáng lưu ý, cơ sở hình thành những con số trên đến nay vẫn chưa được kiểm chứng đầy đủ theo quy định của pháp luật, bởi toàn bộ 173 hợp đồng đều đã được các cơ quan tiến hành tố tụng xác định là hợp đồng khống. Mặc dù Upexim nhiều lần đề nghị kiểm toán, giám định dòng tiền giữa Bihimex, Upexim và các công ty liên quan (bút lục 7583-7589), nhưng các đề nghị này không được chấp nhận. Vì vậy, tổng số tiền thực tế đã được rút, đường đi của từng dòng tiền cũng như thiệt hại hoặc thất thoát thực sự của Bihimex đến nay vẫn chưa được làm rõ.

Ba lần “đánh tráo” khái niệm...

Tương tự những vấn đề đã được phân tích ở câu chuyện “bản trích 459” trong bài viết trước, Upexim còn cho rằng liên quan đến 173 hợp đồng mua bán hàng hóa được xác định là khống, với tổng giá trị dòng tiền 1.228.287.020.195 đồng hai cấp tòa án đã ba lần “đánh tráo khái niệm”, dẫn đến việc đánh giá chưa đúng bản chất vụ việc.

Một là biến quan hệ mua bán thành quan hệ cho vay: Theo Upexim, các hợp đồng được lập dưới hình thức mua bán hàng hóa. Việc ngân hàng giải ngân vào tài khoản “bên bán” là quy trình bắt buộc đối với hợp đồng mua bán, không phải căn cứ để xác lập quan hệ vay tài sản. Trong hồ sơ cũng không có hợp đồng vay, thỏa thuận lãi suất, thời hạn hay điều khoản hoàn trả. Tuy nhiên, khi giải quyết vụ án, tòa án lại xác định đây là quan hệ vay để buộc Upexim phải hoàn trả tiền.

Hai là biến nghĩa vụ hạch toán kế toán thành chứng cứ xác nhận khoản vay: Upexim cho rằng việc doanh nghiệp xuất hóa đơn, ghi nhận doanh thu, công nợ và hạch toán kế toán được thực hiện theo quy định của pháp luật về kế toán đối với các hợp đồng đã ký. Thế nhưng, những chứng từ này lại được sử dụng làm căn cứ để suy luận rằng Upexim đã thừa nhận có vay tiền của Bihimex.

Ba là biến khoản tiền phát sinh từ 173 hợp đồng khống thành nghĩa vụ bồi thường của Upexim: Cổ đông Upeexim cho rằng, khoản thiệt hại 144 tỷ đồng được xác định trong vụ án thực chất do bà Loan và bà Khoa nâng khống giá trị hàng hóa, kê khống chi phí vận chuyển, bốc xếp, thuê kho và sử dụng vốn vay không đúng mục đích. Tuy nhiên, thay vì xác định đầy đủ trách nhiệm của những người trực tiếp tổ chức, thực hiện các giao dịch này, bản án lại buộc Upexim liên đới bồi thường 50% thiệt hại, mặc dù doanh nghiệp cho rằng ông Trương Vui chỉ sử dụng pháp nhân Upexim để ký 140 hợp đồng khống, còn 33 hợp đồng còn lại được ký giữa Bihimex với các pháp nhân khác.

Điều đáng nói là, nhiều nội dung nêu trên từng được Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm số 10/VKSTC-V7 của Viện KSND tối cao phân tích, lập luận trên cơ sở các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Sau đó, quyết định này được rút bằng Quyết định số 02/VKSTC-V7. Tuy nhiên, theo một số chuyên gia pháp lý, việc rút kháng nghị chỉ là một quyết định tố tụng; trong khi những lập luận và chứng cứ được viện dẫn tại Quyết định số 10 chưa được chứng minh là không có căn cứ, nên vẫn có giá trị tham khảo trong việc xem xét, làm rõ sự thật khách quan của vụ án.

Cũng từ những vấn đề chưa được làm rõ đó, Upexim tiếp tục kiến nghị các cơ quan có thẩm quyền xem xét lại toàn bộ 173 hợp đồng khống, bao gồm cả 33 hợp đồng được ký với các pháp nhân ngoài Upexim; tổ chức kiểm toán, giám định độc lập dòng tiền để xác định người thực sự thụ hưởng và thiệt hại thực tế của Bihimex; làm rõ căn cứ buộc Upexim phải bồi thường 50% trong khi những người trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội không phải bồi thường; đồng thời xem xét trách nhiệm của các chủ thể liên quan và các dấu hiệu vi phạm khác (nếu có) theo quy định của pháp luật.

Từ đó, nhiều vấn đề tiếp tục được đặt ra: Ai là người quyết định việc ký kết 173 hợp đồng khống giữa Bihimex với Upexim và các pháp nhân liên quan? Nếu các giao dịch này đều được xác định là giả tạo thì khoản tiền phát sinh cuối cùng thuộc về ai? Trách nhiệm của người hưởng lợi (nếu có) đã được xem xét đầy đủ hay chưa? Và nếu các hợp đồng khống là mắt xích để hợp thức hóa việc giải ngân dòng tiền thì vai trò, trách nhiệm của từng tổ chức, cá nhân tham gia đã được làm rõ đến đâu?

Đây cũng là những nội dung được nhiều CCB nêu tại Hội nghị tiếp công dân, đối thoại và giải quyết kiến nghị của cử tri là CCB do Trung ương Hội CCB Việt Nam tổ chức ngày 5-5-2026. Theo các ý kiến tại hội nghị, mục tiêu cuối cùng không phải là bảo vệ bất kỳ doanh nghiệp hay cá nhân nào, mà là làm sáng tỏ sự thật khách quan của vụ án. Bởi chỉ khi mọi chứng cứ quan trọng được xem xét đầy đủ, mọi dòng tiền được kiểm chứng khách quan và trách nhiệm của từng chủ thể được xác định trên cơ sở chứng cứ thuyết phục thì bản án mới thực sự bảo đảm tính khách quan, đúng người, đúng hành vi và đúng quy định của pháp luật.

(Còn nữa)

Đọc tiếp

Mới nhất

Bài 3: 173 Hợp đồng khống: Ai chủ mưu, ai gánh nợ?