Logo-print CƠ QUAN CỦA TRUNG ƯƠNG HỘI - TIẾNG NÓI CỦA CỰU CHIẾN BINH VIỆT NAM

“TỰ CHỦ CHIẾN LƯỢC” - SỰ PHÁT TRIỂN MỚI VỀ TƯ DUY LÝ LUẬN VÀ CHỈ ĐẠO THỰC TIỄN CỦA ĐẢNG

Đình Huấn - Hồng Thịnh 25/05/2026 - 09:56

“Tự chủ chiến lược” là bước phát triển mới trong nhận thức lý luận và chỉ đạo thực tiễn của Đảng ta đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa trong kỷ nguyên mới. Đây cũng là nội dung rất mới trong văn kiện Đại hội XIV của Đảng thể hiện tầm nhìn chiến lược về chủ động hoạch định, dẫn dắt và kiến tạo sự phát triển của đất nước trong một thế giới nhiều biến động. Thực tiễn tại thành phố Đồng Nai đã chứng tỏ điều đó.

 

Bài 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA  TƯ DUY TỰ CHỦ CHIẾN LƯỢC

Trên cơ sở tổng kết thực tiễn đất nước và xu thế thời đại, Đại hội XIV của Đảng khẳng định nước ta đã hội tụ đủ thế và lực để bước vào “kỷ nguyên vươn mình của dân tộc”.

 

Tự chủ chiến lược xuất phát từ cơ sở lý luận của Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh 

Thế giới đang bước vào giai đoạn biến động sâu sắc dưới tác động của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và sự dịch chuyển nhanh của các chuỗi giá trị toàn cầu. Trong bối cảnh đó, hợp tác và cạnh tranh đan xen ngày càng gay gắt; mỗi quốc gia vừa phải mở rộng hội nhập để phát triển, vừa phải giữ vững độc lập, tự chủ để bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc. Thực tiễn cho thấy, khép kín sẽ tụt hậu, phụ thuộc sẽ bị chi phối, mất khả năng tự quyết chiến lược.

Trên cơ sở tổng kết thực tiễn đất nước và xu thế thời đại, Đại hội XIV của Đảng khẳng định nước ta đã hội tụ đủ thế và lực để bước vào “kỷ nguyên vươn mình của dân tộc”.

dn-7-0954
 Quy hoạch Trung tâm TP Đồng Nai

“Tự chủ chiến lược là sự kết hợp giữa nội lực mạnh mẽ, bản lĩnh chính trị - đối ngoại vững vàng, định vị rõ mình, xác định rõ lộ trình phát triển, nâng cao khả năng thích ứng linh hoạt và năng lực hội nhập quốc tế chủ động, tích cực”[1]. Thực chất tự chủ chiến lược là sự chủ động hoạch định chủ trương, đường lối, chiến lược phát triển của đất nước mà không bị chi phối và lệ thuộc vào bên ngoài. Tự chủ chiến lược có sự kế thừa và phát triển tất yếu của đường lối độc lập, tự chủ truyền thống trong điều kiện mới để định hình không gian phát triển, tương lai của đất nước. Nếu độc lập, tự chủ truyền thống là nền tảng để giữ vững quyền tự quyết con đường phát triển thì tự chủ chiến lược là bước phát triển cao hơn, thể hiện năng lực chủ động, định hình, kiến tạo vận mệnh quốc gia, định vị đúng vị thế, lựa chọn đúng hướng đi và chủ động điều chỉnh phù hợp với thực tiễn nhằm hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc. Tự chủ chiến lược có sự kết hợp chặt chẽ giữa tự lực, tự cường, tự tin, tự hào dân tộc và chủ động hội nhập quốc tế sâu rộng, khẳng định rõ vai trò, vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế. 

Trong Cương lĩnh dân tộc của V.I.Lênin đã chỉ rõ: Mỗi dân tộc đều có quyền tự quyết, đó là quyền tự chủ đối với vận mệnh của dân tộc mình, quyền tự quyết định về thể chế chính trị và con đường phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội. Quyền tự quyết thể hiện ở quyền tự do phân lập, tách ra thành lập một quốc gia - dân tộc độc lập (đối với các dân tộc bị áp bức, các dân tộc thuộc địa), hay quyền tự nguyện liên hiệp với dân tộc khác trên cơ sở bình đẳng, cùng có lợi, đáp ứng nhu cầu, nguyện vọng của nhân dân các dân tộc vì mục tiêu phát triển, hoà bình, phồn vinh, hữu nghị. V.I.Lênin nhấn mạnh: “Quyền dân tộc tự quyết hoàn toàn chỉ có nghĩa là các dân tộc có quyền độc lập chính trị, có quyền tự do phân lập về mặt chính trị, khỏi dân tộc áp bức họ”[2].

Kế thừa, vận dụng và phát triển sáng tạo học thuyết Mác - Lênin, ngay từ những năm tháng bôn ba tìm đường cứu nước, Nguyễn Ái Quốc đã sớm nhận ra con đường giành độc lập thật sự cho dân tộc không thể là sự cầu viện, ỷ lại vào bên ngoài, mà phải được thực hiện bằng ý chí tự lực, tự chủ của dân tộc Việt Nam. Tư tưởng:“Muốn người ta giúp cho, trước hết ta phải tự giúp lấy mình”[3];“phải đem sức ta để giải phóng cho ta”[4] càng sáng rõ hơn khi Người tiếp cận chủ nghĩa Mác - Lênin và thể hiện nhất quán trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Một dân tộc không tự lực cánh sinh mà cứ ngồi chờ dân tộc khác giúp đỡ thì không xứng đáng được độc lập”[5]. Theo Người, độc lập không phải là hình thức, mà phải thực chất, độc lập trong tư duy, đường lối, chính sách và hành động. Độc lập và tự chủ là hai phạm trù thống nhất; trong đó độc lập là điều kiện để có tự chủ; tự chủ là biểu hiện cụ thể, sống động của độc lập. Tự chủ không đồng nghĩa với khép kín, cô lập; ngược lại, đó là điều kiện để chủ động mở cửa, hội nhập trên thế chủ động, bình đẳng, cùng có lợi. Tư tưởng này chính là nền tảng, hạt nhân của tư duy “tự chủ chiến lược”, kết hợp giữa độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường của dân tộc với sức mạnh thời đại.

Tự chủ chiến lược là sự kế thừa và phát triển

Việt Nam là một dân tộc có truyền thống văn hiến, yêu nước, đoàn kết, kiên cường không lùi bước trước mọi khó khăn, thử thách. Tinh thần độc lập, tự chủ luôn là sợi chỉ đỏ xuyên suốt tiến trình dựng nước và giữ nước; là ngọn lửa nuôi dưỡng ý chí quật cường, bất khuất của dân tộc, luôn tỏa sáng trong những trang sử chống ngoại xâm, trong đường lối, nghệ thuật trị quốc và giữ yên bờ cõi. Nhờ đó, mà dân tộc ta đã vượt qua mọi thử thách, giữ vững giang sơn, xã tắc, khẳng định bản lĩnh kiên cường, khí phách hiên ngang, không bao giờ khuất phục trước ngoại bang. Chính ý chí độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường, truyền thống lịch sử hào hùng và giá trị văn hoá Việt Nam trường tồn qua hàng ngàn năm Bắc thuộc “Ta vẫn là Ta”, không bị đồng hoá, không bị xoá tên trên bản đồ thế giới. Chúng ta luôn tự hào: “Từ Triệu, Đinh, Lý, Trần, bao đời xây nền độc lập. Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên, mỗi bên hùng cứ một phương”[6]

dn-5-0955
Lễ mừng thành lập thành phố Đồng Nai 2026

Ngay từ khi ra đời, Đảng ta đã xác định độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là con đường, mục tiêu và lý tưởng của cách mạng Việt Nam. Độc lập, tự chủ không chỉ là nguyên tắc chiến lược mà còn là phương châm hành động nhất quán, là tiêu chí để hoạch định đường lối, chiến lược qua các giai đoạn phát triển của đất nước. Trải qua gần một thế kỷ lãnh đạo cách mạng, Đảng luôn kiên định, không ngừng bổ sung, phát triển đường lối độc lập, tự chủ phù hợp với yêu cầu thực tiễn; qua đó phát huy bản lĩnh, tầm nhìn, trí tuệ trong việc kết hợp truyền thống dân tộc với xu thế thời đại. Nhờ đó, dân tộc ta đã làm nên những chiến công vĩ đại, giành và giữ vững độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ; đất nước cũng vượt qua khủng hoảng, chấm dứt bao vây, cấm vận, chủ động hội nhập quốc tế, tạo nên cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín ngày nay. Độc lập, tự chủ trở thành sức mạnh nội sinh, giúp đất nước vững vàng trước biến động, khơi dậy khát vọng phát triển và khẳng định vị thế Việt Nam trong thời kỳ hội nhập ngày càng sâu rộng.

Thế giới và khu vực đang biến động sâu sắc, cục diện ngày càng đa cực, đa trung tâm, phân mảnh mạnh, kéo theo cạnh tranh chiến lược gay gắt giữa các nước lớn. Môi trường an ninh, chính trị toàn cầu nhiều bất ổn; xung đột vũ trang, chạy đua vũ trang công nghệ cao cùng các thách thức an ninh phi truyền thống như biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường, dịch bệnh, tội phạm mạng, khủng bố, an ninh lương thực, năng lượng đang đe dọa sự phát triển bền vững của các quốc gia. Kinh tế thế giới cũng chứng kiến sự đứt gãy, tái cấu trúc sâu sắc các chuỗi cung ứng toàn cầu; xu hướng bảo hộ mậu dịch, chủ nghĩa dân túy, lợi ích quốc gia trên hết làm thay đổi luật chơi quốc tế. Trong bối cảnh đó, ranh giới giữa thời cơ và nguy cơ trở nên mong manh; một quốc gia nếu không có nội lực mạnh, không có khả năng tự chủ, tự cường sẽ dễ bị lệ thuộc, đánh mất vị thế và chủ quyền.

Vì vậy, để hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, chúng ta không thể trông chờ, ỷ lại vào ngoại lực hay thụ động nương theo thời cuộc. Đất nước cần chuyển mạnh sang tư duy hành động mới, chủ động kiến tạo, tự cường và tự chủ chiến lược; chỉ có tự chủ về đường lối, tự cường về nội lực mới làm chủ được vận mệnh quốc gia, vững vàng đưa Việt Nam vươn ra biển lớn.

Ở châu Âu, Thổ Nhĩ Kỳ thực hiện tự chủ chiến lược bằng cách vừa duy trì hợp tác với NATO, Mỹ và phương Tây, vừa giữ quan hệ với Nga, thể hiện qua việc mua hệ thống S-400, không tham gia trừng phạt Nga, không đóng cửa không phận với máy bay Nga và đóng vai trò trung gian trong đàm phán Nga - Ukraine. Cách tiếp cận linh hoạt này giúp Thổ Nhĩ Kỳ gia tăng lợi ích và uy tín quốc tế.

Ở châu Á, Ấn Độ là trường hợp tiêu biểu về tự chủ chiến lược trong đối ngoại khi vừa duy trì quan hệ chặt chẽ với Mỹ, phương Tây, vừa hợp tác sâu rộng với Nga; đồng thời tham gia nhiều cơ chế khác nhau như QUAD, I2U2, BRICS, SCO, RIC, JAI, qua đó giữ thế cân bằng, đa phương hóa quan hệ và nâng cao vị thế quốc gia. 

Tại Đông Nam Á, Indonesia thực hiện tự chủ chiến lược thông qua hợp tác kinh tế với Trung Quốc, duy trì quan hệ quốc phòng, thương mại với Mỹ, nhưng vẫn kiên quyết bảo vệ chủ quyền tại Bắc Natuna và bày tỏ quan ngại trước AUKUS. Với vai trò chủ nhà G-20, Indonesia thúc đẩy các vấn đề an ninh năng lượng, lương thực, chuỗi cung ứng, nhằm tăng cường tự chủ kinh tế và vị thế quốc gia.[7].

Trên thực tế, quốc gia lệ thuộc vào nước lớn, bị chi phối về chính trị, kinh tế, quốc phòng, an ninh và đối ngoại sẽ khó có tự chủ chiến lược. Ukraine là ví dụ điển hình khi xung đột kéo dài với Nga gây tổn thất nặng nề về lãnh thổ, con người, hạ tầng và kinh tế, khiến đất nước phụ thuộc lớn vào viện trợ quốc tế. Chính sách đối ngoại thân phương Tây, mục tiêu gia nhập NATO, EU và đối đầu với Nga đã đẩy Ukraine vào tình thế xung đột, phải trả giá đắt, cho thấy yêu cầu cấp thiết của năng lực tự chủ chiến lược trong bảo vệ chủ quyền, lợi ích và ổn định quốc gia. 

  Từ những lý do trên, khẳng định: “Tự chủ chiến lược” trong Văn kiện Đại hội lần thứ XIV của Đảng bắt nguồn từ cơ sở khoa học và thực tiễn, hoàn toàn không phải là sản phẩm chủ quan duy ý chí, cũng không phải là dập khuôn, sao chép của các nước khác.

-------------------

[1]Bài phát biểu của GS, TS Nguyễn Xuân Thắng, Ủy viên Bộ Chính trị, Giám đốc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Chủ tịch Hội đồng lý luận Trung ương tại Đối thoại lý luận lần thứ 10 giữa Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Dân chủ xã hội Đức, ngày 29-10-2025.

[2]V.I.Lênin, Toàn tập, tập 27, Nxb CTQG, Hà Nội, 2005, tr.327.

[3]Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 2, Nxb CTQG ST, Hà Nội, 2011, tr.320.

[4]Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 3,Nxb CTQG ST, Hà Nội, 2011,tr.596.

[5]Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 7, Nxb CTQG ST, Hà Nội, 2011, tr. 445.

[6]Trích “Bình Ngô đại cáo” của Nguyễn Trãi.

[7]Nghiêm Thị Thanh Thúy- Tiến sĩ Vũ Lê Thái Hoàng: “Kinh nghiệm tự chủ chiến lược của một số quốc gia trên thế giới và hàm ý chính sách đối với Việt Nam”, Tạp chí Cộng sản- Học viện Ngoại giao, ngày 27/02/2024.

Đọc tiếp

Mới nhất

“TỰ CHỦ CHIẾN LƯỢC” - SỰ PHÁT TRIỂN MỚI VỀ TƯ DUY LÝ LUẬN VÀ CHỈ ĐẠO THỰC TIỄN CỦA ĐẢNG