Logo-print CƠ QUAN CỦA TRUNG ƯƠNG HỘI - TIẾNG NÓI CỦA CỰU CHIẾN BINH VIỆT NAM

“LẤY PHÁT TRIỂN ĐỂ ỔN ĐỊNH, ỔN ĐỊNH ĐỂ THÚC ĐẨY PHÁT TRIỂN”- TẦM NHÌN CHIẾN LƯỢC CỦA ĐẢNG TRONG KỶ NGUYÊN MỚI

ThoDP 11/04/2026 - 08:03

 Trên cơ sở phân tích nhận thức lý luận của Đảng ta về mối quan hệ giữa ổn định, đổi mới và phát triển; những thành tựu và hạn chế khuyết điểm nổi bật của đất nước trong 40 năm đổi mới cùng các quyết sách lớn của Đại hội XIV, bài viết khẳng định: phát triển thực chất, bao trùm, bền vững chính là cơ sở sâu xa, lâu bền nhất của ổn định, đồng thời, ổn định là điều kiện tiên quyết để mở rộng không gian phát triển nhanh và bền vững. “Lấy phát triển để ổn định, ổn định để thúc đẩy phát triển nhanh, bền vững đất nước” là bước phát triển mới trong tư duy lý luận, nghệ thuật lãnh đạo và năng lực cầm quyền của Đảng trong kỷ nguyên mới.

  

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng là một dấu mốc chính trị đặc biệt quan trọng, mở ra chặng đường phát triển mới của đất nước trong bối cảnh cục diện thế giới, khu vực và trong nước có nhiều thay đổi nhanh, phức tạp, khó lường. Với phương châm “Đoàn kết - Dân chủ - Kỷ cương - Đột phá - Phát triển”, Đại hội đã xác lập rõ tầm nhìn, mục tiêu, động lực và Chương trình hành động tự chủ chiến lược, tự cường, tự tin tiến mạnh trong kỷ nguyên mới của dân tộc. Trong đó, quan điểm “lấy phát triển để ổn định, ổn định để thúc đẩy phát triển nhanh, bền vững đất nước”[1]không chỉ là một thông điệp điều hành, mà là sự kết tinh mới của tư duy chiến lược, năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng trong kỷ nguyên phát triển mới.

 Bước phát triển mới trong tư duy lý luận và nghệ thuật lãnh đạo, cầm quyền của Đảng

Hơn 96 năm lãnh đạo cách mạng, nhất là trong 40 năm đổi mới, Đảng ta luôn xác lập các mối quan hệ lớn trong lãnh đạo đất nước, thực hiện mục tiêu cách mạng đề ra. Nếu như Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011), Đảng đã nêu mối quan hệ “giữa đổi mới, ổn định và phát triển” như một mối quan hệ có tính quy luật, gắn kết chặt chẽ giữa ổn định và phát triển. Đến Đại hội XIII, cách diễn đạt mối quan hệ này được điều chỉnh thành “giữa ổn định, đổi mới và phát triển”, cho thấy ổn định được nhấn mạnh như điều kiện đầu tiên để đổi mới và phát triển. Đại hội XIV tiếp tục phát triển nhận thức đó thêm một bước khi chuyển từ mô tả quan hệ biện chứng sang xác lập một phương châm chỉ đạo trực tiếp: lấy phát triển để ổn định, ổn định để thúc đẩy phát triển nhanh, bền vững đất nước. Đó là bước phát triển từ nhận thức lý luận sang định hướng hành động chiến lược.

Đây là kết quả của quá trình “Kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, lý luận về đường lối đổi mới”[2] của Đảng trong kỷ nguyên phát triển mới. Ổn định và phát triển không đối lập nhau, mà tác động qua lại, chuyển hóa lẫn nhau. Đặc biệt, trong điều kiện “Thế giới đang trải qua những thay đổi mang tính thời đại, tạo ra những thuận lợi, thời cơ và khó khăn, thách thức lớn đan xen, trong nước đang triển khai những quyết sách chiến lược mang tính cách mạng”[3], nếu phát triển mà thiếu ổn định thì dễ đứt gãy, gây mất cân đối, làm gia tăng rủi ro xã hội. Nhưng, ổn định mà không phát triển thì sẽ tự triệt tiêu động lực đổi mới, tích tụ trì trệ, tụt hậu và cuối cùng phá vỡ chính nền ổn định ấy. Vì vậy, tư duy chiến lược đúng không phải là “giữ yên” để tránh rủi ro, mà là tạo lập một nền ổn định tích cực thông qua phát triển toàn diện, có chất lượng, đồng thời lấy ổn định để mở rộng không gian, tạo lập thời cơ, động lực cho phát triển. Đây cũng là định hướng để đổi mới mạnh mẽ tư duy, hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển và chuyển từ “nhận thức” sang “hành động” trong giai đoạn mới, thực hiện thắng lợi mục tiêu “Giữ vững môi trường hoà bình, ổn định; phát triển nhanh, bền vững đất nước và bảo vệ vững chắc Tổ quốc; cải thiện và nâng cao toàn diện đời sống nhân dân; tự chủ chiến lược, tự cường, tự tin, tiến mạnh trong kỷ nguyên mớicủa dân tộc; thực hiện thắng lợi mục tiêu đến năm 2030 trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; hiện thực hoá tầm nhìn đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao vì một nước Việt Nam hoà bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội”[4].

Đặc biệt, nội hàm của “ổn định” và “phát triển” trong văn kiện Đại hội XIV của Đảng đều được mở rộng. Ổn định bao hàm cả ổn định chính trị, ổn định kinh tế vĩ mô, ổn định thể chế, ổn định lòng dân, ổn định chiến lược trong quốc phòng, an ninh, đối ngoại và giữ vững môi trường hòa bình để phát triển. Phát triển phải bảo đảm hài hoà giữa nhanh và bền vững, gắn với tiến bộ và công bằng xã hội; phát triển phải gắn với “đẩy mạnh đột phá về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và chủ động hội nhập quốc tế, kết hợp chặt chẽ và triển khai đồng bộ, hiệu quả các nhiệm vụ trọng tâm, trong đó: Phát triển kinh tế, xã hội, bảo vệ môi trường là trung tâm; xây dựng Đảng là then chốt; phát triển văn hoá, con người là nền tảng; tăng cường quốc phòng, an ninh và đẩy mạnh đối ngoại, hội nhập quốc tế là trọng yếu, thường xuyên”[5]. Trong đó, “Khơi dậy mạnh mẽ truyền thống yêu nước, khát vọng phát triển, tinh thần đoàn kết, ý chí tự chủ, tự tin, tự lực, tự cường, tự hào dân tộc; phát huy sức mạnh văn hoá, con người thành nguồn lực nội sinh và động lực mạnh mẽ cho sự phát triển. Đẩy mạnh xây dựng, hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển nhanh, bền vững đất nước”; “lấy khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số quốc gia là động lực chính; phát huy vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước, phát triển kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất; hoàn thiện thể chế phát triển gắn với thực hiện đồng bộ: Chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, chuyển đổi năng lượng, chuyển đổi cơ cấu và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; thu hút, trọng dụng nhân tài, đẩy mạnh phát triển lực lượng sản xuất mới”

86-0801
Cán bộ, nhân viên Trung tâm 586, Bộ Tư lệnh 86 (Bộ Quốc phòng) tham gia diễn tập PT-23. (Nguồn: Bộ Tư lệnh 86) 

Như vậy, có thể khẳng định, “lấy phát triển để ổn định, ổn định để thúc đẩy phát triển” là bước phát triển mới trong tư duy lý luận và nghệ thuật lãnh đạo, cầm quyền của Đảng. Khi Đảng xác định mục tiêu phát triển nhanh, bền vững đất nước, nâng cao đời sống nhân dân, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định và bảo vệ vững chắc Tổ quốc, thì toàn bộ hệ thống quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp phải vận hành đồng bộ. Đảng không nhìn phát triển như nhiệm vụ của riêng lĩnh vực kinh tế, mà là kết quả tổng hợp của chất lượng thể chế, chất lượng nguồn nhân lực, năng lực tổ chức thực hiện, trình độ khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, sức mạnh văn hóa, con người Việt Nam, đồng thuận xã hội trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc; gắn kết chặt chẽ giữa tăng cường quốc phòng, an ninh và đẩy mạnh đối ngoại, hội nhập quốc tế là trọng yếu, thường xuyên.

  Phát triển - tạo nền tảng vững chắc để ổn định

Trước tác động của“Cục diện thế giới đang chuyển biến nhanh, phức tạp chưa từng có theo hướng đa cực, đa trung tâm, đa tầng, phân mảnh và phân tuyến mạnh”[6], “Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư tiếp tục phát triển mạnh mẽ và tác động sâu sắc đến mọi lĩnh vực. Lực lượng sản xuất mới, nhất là công nghệ cao và trí tuệ nhân tạo phát triển đột phá chưa từng có”[7], nếu không có phát triển thực chất thì không thể có ổn định bền vững. Một xã hội chỉ thực sự ổn định khi đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được nâng cao; cơ hội việc làm, học tập, chăm sóc sức khỏe, tiếp cận dịch vụ công và văn hoá, giải trí được mở rộng và bảo đảm; người dân cảm nhận rõ triển vọng đi lên của bản thân, gia đình và đất nước; doanh nghiệp có niềm tin vào môi trường đầu tư, kinh doanh; và khi quốc gia có phải luôn “tự chủ chiến lược, tự cường, tự tin” để chống chịu trước những cú sốc bên ngoài. Ổn định phải là trạng thái bền vững được tạo nên từ nội lực phát triển; ổn định phải luôn trong sự vận động, phát triển và phát triển phải đặt trong tổng thể của ổn định chiến lược.

Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế sâu rộng, trước những “cú sốc” về cuộc chiến tranh thương mại, sự “đứt gãy” của các chuỗi cung ứng toàn cầu, logictis; các sức ép về việc làm, chênh lệch vùng miền, chuyển dịch cơ cấu lao động, già hóa dân số, an ninh phi truyền thống, cạnh tranh công nghệ hay biến đổi khí hậu không thể được xử lý bền vững chỉ bằng biện pháp hành chính, giải quyết tình huống hay hỗ trợ ngắn hạn. Vấn đề này chỉ được giải quyết một cách thấu đáo khi huy động được tối đa, có trọng tâm, trọng điểm các động lực của phá triển: “Đột phá mạnh mẽ về thể chế phát triển, nâng cao năng lực hoạch định và tổ chức thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước để khơi thông, giải phóng và phát huy hiệu quả mọi nguồn lực”[8]. Tập trung phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, trình độ cao; đẩy mạnh thu hút và trọng dụng nhân tài; thúc đẩy đột phá về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số phục vụ, kiến tạo phát triển; phát triển kinh tế nhà nước thật sự đóng vai trò chủ đạo, thúc đẩy phát triển kinh tế tư nhân; hoàn thiện đồng bộ và đột phá mạnh mẽ trong xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội. Đặc biệt, “phải phát huy cao độ tinh thần yêu nước, khát vọng phát triển, sức mạnh của Nhân dân và đại đoàn kết toàn dân tộc; kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, đổi mới mạnh mẽ tư duy; thực hiện đồng bộ, hiệu quả các quyết sách chiến lược”[9] để xây dựng,  phát triển đất nước hoà bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.

Phát triển là nền tảng của ổn định, tạo dựng hạ tầng vật chất, công nghệ và thể chế cho quốc gia. Hạ tầng giao thông, hạ tầng số, hạ tầng năng lượng, hạ tầng giáo dục, y tế và dữ liệu là những cấu phần không chỉ phục vụ tăng trưởng mà còn nâng cao năng lực chống chịu trước các cú sốc, giảm bất bình đẳng vùng miền, tăng tính liên kết của nền kinh tế và củng cố tiềm lực quốc phòng, an ninh. Tương tự, thể chế phát triển hiện đại giúp giảm chi phí xã hội, giảm xung đột lợi ích, tạo tính tiên liệu cho người dân và doanh nghiệp, tăng sức hấp dẫn của môi trường đầu tư và nâng cao năng lực quản trị quốc gia. Đảng ta nhấn mạnh động lực của phát triển phải là khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, thể chế hiện đại và hội nhập quốc tế chủ động, sâu rộng. Điều đó cho thấy phát triển mà Đảng lựa chọn không phải phát triển theo chiều rộng đơn thuần, mà là phát triển theo chiều sâu, dựa trên tri thức, công nghệ, dữ liệu, nhân lực chất lượng cao và chất lượng thể chế.

Phát triển không chỉ “đẻ ra” của cải vật chất, mà còn tạo nền móng để ổn định thể chế, xây dựng và củng cố thế trận lòng dân vững chắc; “Dân là gốc”, là trung tâm của chiến lược phát triển. Đồng thời, phát triển cũng là con đường hiệu quả nhất để giải quyết các nguyên nhân dẫn đến mất ổn định. Một nền kinh tế trì trệ dễ làm gia tăng thất nghiệp, bất bình đẳng, chênh lệch cơ hội, bức xúc xã hội và hoài nghi vào tương lai. Một xã hội thiếu cơ hội phát triển dễ nảy sinh tâm lý cực đoan, bi quan, dễ bị các lực lượng xấu lôi kéo, kích động, làm cho xã hội mất ổn định. Ngược lại, phát triển nhanh, bền vững tạo nền tảng vật chất bảo đảm tiến bộ, công bằng xã hội sẽ tạo đồng thuận xã hội bền hơn. Vì vậy, “lấy phát triển để ổn định” trước hết là lấy kết quả phát triển thực chất để nuôi dưỡng niềm tin, bảo đảm lợi ích của nhân dân và tăng cường sức mạnh nội sinh của đất nước, của chế độ.

Thực tiễn 40 năm đổi mới là minh chứng sinh động khẳng định phát triển là tạo nền tảng vững chắc cho ổn định. Từ một đất nước nghèo, lạc hậu, kém phát triển, bị bao vây, cấm vận, đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn, Việt Nam đã vươn lên trở thành nước đang phát triển có thu nhập trung bình, hội nhập ngày càng sâu rộng vào khu vực và thế giới. Thành tựu ấy không chỉ là tăng trưởng kinh tế, mà còn là quá trình tạo dựng niềm tin xã hội, củng cố vị thế quốc tế, mở rộng nền tảng vật chất - tinh thần của ổn định. Chính nhờ phát triển mà đất nước có thêm nguồn lực để đầu tư cho quốc phòng, an ninh, đối ngoại, giáo dục, y tế, an sinh xã hội, hạ tầng và chuyển đổi số.Qua đó ổn định trở thành một thành quả có nền tảng vật chất, thể chế và xã hội vững chắc. Những thành quả của thực tiễn 40 năm đổi mới không chỉ phản ánh thành tựu về mặt số lượng, mà còn củng cố lòng tin xã hội, nâng cao uy tín quốc gia và khẳng định năng lực lãnh đạo, điều hành của Đảng và Nhà nước. Đây là động lực và nền tảng vững chắc để“Vai trò lãnh đạo, uy tín của Đảng tiếp tục được nâng cao, củng cố niềm tin của Nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa”[10].

  Ổn định - kiến tạo, mở đường cho phát triển

Theo quan điểm Đại hội XIV, ổn định không phải trạng thái đứng yên, mà là ổn định tích cực, ổn định trong đổi mới, ổn định để tạo niềm tin, an toàn cho đầu tư, sáng tạo và hội nhập. Chính vì thế, Đại hội XIV nhấn mạnh yêu cầu hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển, nâng cao năng lực tổ chức thực hiện, xây dựng đội ngũ cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung. Ổn định ở đây là ổn định của mục tiêu chiến lược, của nền tảng chính trị vững chắc, của thể chế, của lòng dân và của năng lực quốc gia.

Ổn định chính trị - nền tảng vững chắc cho phát triển. Ổn định chính trị là tài sản vô giá, là điều kiện tiên quyết để bảo đảm độc lập, chủ quyền, giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa và huy động sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc cho phát triển. Đại hội XIV xác định “Bảo đảm và bảo vệ cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc, kiên quyết, kiên trì bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; bảo vệ Đảng, Nhà nước, Nhân dân, chế độ xã hội chủ nghĩa; bảo vệ thành quả cách mạng, sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hoá, hiện đại hoá;…;tăng cường quốc phòng toàn dân, phòng thủ chủ động; ngăn ngừa, đẩy lùi từ sớm các nhân tố gây mất ổn định chính trị từ bên trong; giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội; giữ vững và củng cố môi trường hoà bình để xây dựng, phát triển đất nước”[11], khẳng định vai trò của ổn định nói chung, ổn định chính trị nói riêng đối với phát triển. Bởi vì, nếu một đất nước không giữ được ổn định chính trị tất yếu sẽ không giữ được môi trường thuận lợi để thu hút đầu tư, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và phát triển bền vững.Tuy nhiên, ổn định chính trị không đồng nghĩa với bảo thủ mà ổn định trong đổi mới và phát triển. Ổn định là kiên định mục tiêu chiến lược, giữ vững nền tảng tư tưởng để định hướng cho đổi mới mạnh mẽ hơn, hiệu quả hơn.

Ổn định thể chế và pháp lý - kiến tạo, mở đường cho phát triển. Môi trường chính sách minh bạch, ít rủi ro thể chế là yếu tố quan trọng nhất để phát triển bền vững. Đảng ta khẳng định “Công tác xây dựng và thi hành pháp luật là "đột phá của đột phá" trong hoàn thiện thể chế phát triển đất nước trong kỳ nguyên mới”[12], pháp luật không chỉ là công cụ quản lý, mà là nền tảng của quản trị hiện đại, có vai trò “mở đường, khơi thông mọi nguồn lực”, “thể chế, pháp luật phải trở thành lợi thế cạnh tranh, nền tảng vũng chắc, động lực mạnh mẽ cho phát triển”. Khi pháp luật đồng bộ, minh bạch, khả thi và được thực thi nghiêm minh thì sẽ tạo được niềm tin cho người dân và doanh nghiệp, mở đường, kiến tạo, định hướng cho phát triển.

Ổn định lòng dân - nguồn lực và động lực của phát triển. Trong các văn kiện Đại hội XIV của Đảng, phát triển luôn gắn liền với cải thiện và nâng cao toàn diện đời sống nhân dân, nhằm “phát huy sức mạnh văn hoá, con người thành nguồn lực nội sinh và động lực mạnh mẽ cho sự phát triển”. “Tư tưởng xuyên suốt trong Văn kiện, cũng là cội nguồn sức mạnh của cách mạng Việt Nam - “Dân là gốc”. Nhân dân là trung tâm, là chủ thể, là mục tiêu, là động lực và là nguồn lực của phát triển”[13]. Khi người dân được thụ hưởng thành quả phát triển, niềm tin vào Đảng, Nhà nước và chế độ được củng cố, thì xã hội ổn định hơn, khả năng thực thi các chủ trương chiến lược lớn cũng cao hơn. Ổn định lòng dân nền tảng của ổn định quốc gia, là nguồn lực, động lực vững chắc của phát triển.

Ổn định chiến lược - tạo dựng và giữ vững lòng tin cho phát triển. Trong bối cảnh cạnh tranh nước lớn, biến động địa chính trị, đứt gãy chuỗi cung ứng, thách thức an ninh phi truyền thống, an ninh mạng, năng lượng và tài chính thì ổn định chiến lược là cơ sở, động lực, nền tảng để xây dựng, củng cố lòng tin chiến lược. Ổn định còn là khả năng giữ vững môi trường hòa bình, an ninh, an toàn; là tự chủ chiến lược, không để đất nước rơi vào bị động, bất ngờ trước những biến động quốc tế lớn. Trong một thế giới đầy biến động cần phải “tăng cường quốc phòng toàn dân, phòng thủ chủ động; ngăn ngừa, đẩy lùi từ sớm các nhân tố gây mất ổn định chính trị từ bên trong; giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội; giữ vững và củng cố môi trường hoà bình để xây dựng, phát triển đất nước”[14] gắn với “phát huy vai trò tiên phong của đối ngoại, phối hợp chặt chẽ với quốc phòng, an ninh, các ngành, các cấp, các địa phương chủ động ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột, tạo lập và giữ vững môi trường hoà bình, ổn định, bảo vệ vững chắc Tổ quốc; tranh thủ các nguồn lực và điều kiện thuận lợi bên ngoài cho sự phát triển đất nước”[15]. Ổn định là kết quả của sức mạnh tổng hợp quốc gia, của năng lực tự chủ chiến lược, của đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa và hội nhập quốc tế chủ động, tích cực, toàn diện.

 Hiện thực hóa tầm nhìn chiến lược “lấy phát triển để ổn định, ổn định để thúc đẩy phát triển” trong kỷ nguyên mới

Để hiện thực hóa tầm nhìn chiến lược “lấy phát triển để ổn định, ổn định để thúc đẩy phát triển” trong kỷ nguyên phát triển mới, Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và các Nghị quyết mới đây của Bộ Chính trị đã đề cập đến nhiều giải pháp quan trọng, trong đó có những giải pháp trọng tâm sau đây:

Một là, cần  phải tiếp tục xây dựng Đảng và hệ thống chính trị và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện; xây dựng nền quản trị quốc gia hiện đại, hiệu lực, hiệu quả; có hệ thống pháp luật hoàn chỉnh, được thực hiện nghiêm minh; bảo đảm và bảo vệ công lý, quyền con người, quyền công dân. Kết quả của phát triển suy cho cùng đều phụ thuộc vào năng lực lãnh đạo, cầm quyền, sức chiến đấu của Đảng, vào chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên và năng lực triển khai tổ chức thực hiện chủ trương, quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước. Đảng vững thì định hướng phát triển mới đúng, quy tụ được ý chí và hành động trong toàn hệ thống chính trị, củng cố được đồng thuận của xã hộivà niềm tin của Nhân dân. Đây là tiền đề quyết định để biến ổn định thành sức mạnh phát triển và biến phát triển thành nền tảng của ổn định lâu dài.

 Hai là,  tiếp tục hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển và xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa hiện đại. Thể chế là “đột phá của đột phá”, nhưng đồng thời cũng là“điểm nghẽn của điểm nghẽn”. Một thể chế minh bạch, ổn định, có chất lượng cao, thực thi nghiêm minh sẽ khơi thông và phát huy được mọi nguồn lực và động lực sáng tạo và tăng sức cạnh tranh quốc gia. Do đó, cần phải “Tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật đầy đủ, đồng bộ, thống nhất, công bằng, dân chủ, minh bạch, khả thi, ổn định để tạo lập nền tảng cho hệ thống quản lý, quản trị phát triển hiện đại, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, phát triển các lĩnh vực mới, tháo gỡ kịp thời khó khăn, vướng mắc; khơi dậy, phát huy mọi tiềm năng, thế mạnh và nguồn lực, tạo động lực mới cho phát triển nhanh và bền vững của đất nước”[16].

Ba là,  tạo đột phá mạnh mẽ về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Phát triển khoa học - công nghệ không chỉ là yêu cầu tăng năng suất, mà còn là biện pháp bảo đảm ổn định từ gốc, nâng cao năng lực chống chịu, năng lực quản trị, năng lực quốc phòng, an ninh và tự chủ chiến lược của quốc gia. Phát triển phải dựa nhiều hơn vào tri thức, dữ liệu, công nghệ chiến lược, nguồn nhân lực chất lượng cao và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo. Vì vậy, cần phảihoàn thiện cơ chế, chính sách vượt trội, phù hợp với đặc thù của lao động sáng tạo; tháo gỡ dứt điểm các nút thắt, rào cản trong hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo để “Nâng cao tiềm lực khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia”[17] đạt trình độ tiên tiến ở những lĩnh vực quan trọng, thuộc nhóm dẫn đầu trong các nước có thu nhập trung bình cao.

Bốn là, tiếp tục khơi dậy mạnh mẽ mọi nguồn lực xã hội, đổi mới mạnh mẽ, tạo đột phá để sớm hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, dưới sự lãnh đạo của Đảng, có sự quản lý của Nhà nước. Đổi mới tư duy và đẩy mạnh cơ cấu lại toàn bộ nền kinh tế, thúc đẩy tăng trưởng trên cơ sở bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô và các cân đối lớn của nền kinh tế. Phát huy đầy đủ chức năng, vai trò của các khu vực kinh tế, trong đó, kinh tế Nhà nước phải giữ vai trò chủ đạo trong việc bảo đảm ổn định vĩ mô, các cân đối lớn, định hướng chiến lược và dẫn dắt nền kinh tế; phát triển kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế.

Năm là, phải kiên định phát triển vì con người, lấy nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân làm thước đo cho sự phát triển. Nhân dân là trung tâm, là chủ thể, là mục tiêu và là động lực của phát triển. Mọi quyết sách phát triển chỉ thật sự có ý nghĩa khi làm cho người dân được thụ hưởng nhiều hơn, sống tốt hơn, được tạo điều kiện phát triển toàn diện hơn và tham gia chủ động hơn vào quá trình phát triển đất nước. Phát triển giáo dục, y tế, văn hóa, nhà ở, an sinh xã hội, môi trường sống, giảm chênh lệch vùng miền, bảo đảm cơ hội phát triển cho các nhóm yếu thế, phát huy dân chủ đi đôi với giữ vững kỷ cương xã hội chính là cách củng cố lòng dân, tạo nền ổn định bền vững nhất. Đồng thời, phải gắn chặt phát triển với củng cố quốc phòng, an ninh và nâng cao hiệu quả đối ngoại, hội nhập quốc tế; giữ vững môi trường hòa bình, an ninh, an toàn, tự chủ chiến lược và hội nhập quốc tế hiệu quả sẽ mở rộng không gian phát triển.

“Lấy phát triển để ổn định, ổn định để thúc đẩy phát triển” không chỉ là một khẩu hiệu chính trị, mà là kết tinh của trí tuệ lý luận, kinh nghiệm thực tiễn và bản lĩnh cầm quyền của Đảng ta. Tầm nhìn chiến lược định hướng để đất nước ta bứt phá vươn lên, nâng tầm vị thế, phát triển nhanh, bền vững, bao trùm và nâng cao toàn diện đời sống, hạnh phúc của nhân dân, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Phản ánh một bước phát triển mới trong tư duy chiến lược của Đảng: không tuyệt đối hóa bất kỳ một chiều cạnh nào, mà giải quyết mối quan hệ giữa ổn định và phát triển trong chỉnh thể lớn toàn diện hơn, đồng bộ hơn và có tầm nhìn chiến lược hơn, trở thành thành phương châm chỉ đạo trong kỷ nguyên phát triển mới của đất nước.

Thượng tá Nguyễn Cao Cường - Phó Chỉ huy trưởng Trung tâm 586,

Thượng tá  Bùi Thanh Sơn - Phó Chính uỷ Trung tâm 586

 (Bộ Tư lệnh 86)

 
 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1.      Bộ Chính trị, Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Hà Nội

2.      Bộ Chính trị, Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới, Hà Nội.

3.      Bộ Chính trị, Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 4/5/2025 về phát triển kinh tế tư nhân, Hà Nội

4.      Bộ Chính trị, Nghị quyết số 79-NQ/TW, ngày 6/1/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế nhà nước, Hà Nội

5.      Phạm Minh Chính, Tăng tốc bứt phá, quyết tâm thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, https://baochinhphu.vn/ ngày 05/4/2026

6.      Đảng Cộng sản Việt Nam, Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2026.

7.      Tô Lâm, Vững bước dưới cờ Đảng https://baochinhphu.vnngày 03/02/2026

[1] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tập 1, tr.81

[2]Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tập 1, tr.81

[3] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tập 1, tr.80

[4] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tập 1, tr.84

[5] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tập 1, tr.81

[6]Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tập 1, tr. 77

[7] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tập 1, tr.78

[8]Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tập 1, tr. 146 - 147

[9] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tập 1, tr. 148

[10] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tập 1, tr. 72

[11] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tập 1, tr. 113

[12] Bộ Chính trị, Nghị quyết số 66-NQ/TW, ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị Về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới, Hà Nội, tr.2

[13] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tập 1, tr. 38 - 39

[14] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tập 1, tr. 113

[15] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tập 1, tr. 117

[16] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tập 1, tr. 128 - 129

[17] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tập 1, tr. 104

Đọc tiếp

Mới nhất

“LẤY PHÁT TRIỂN ĐỂ ỔN ĐỊNH, ỔN ĐỊNH ĐỂ THÚC ĐẨY PHÁT TRIỂN”- TẦM NHÌN CHIẾN LƯỢC CỦA ĐẢNG TRONG KỶ NGUYÊN MỚI