Logo-print CƠ QUAN CỦA TRUNG ƯƠNG HỘI - TIẾNG NÓI CỦA CỰU CHIẾN BINH VIỆT NAM

22 năm đi tìm hài cốt liệt sĩ

Nguyễn Văn Á 23/07/2025 - 17:38

Phải thú thật rằng, chỉ sau Ngày miền Nam giải phóng tôi mới có điều kiện đi tìm hài cốt anh tôi là liệt sĩ Nguyễn Văn Châu với niềm hy vọng mong manh chẳng khác gì “mò kim đáy biển”. Khoảng cách từ huyện Nghĩa Đàn đến huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An chỉ dài hơn 100km, nhưng hành trình trở về quê hương của anh tôi phải kéo dài đến 29 năm kể từ lúc hy sinh!

 Ngày báo tử anh tôi

Anh tôi, liệt sĩ Nguyễn Văn Châu, sinh năm 1948, hy sinh ngày 10-8-1968 khi vừa tròn 20 tuổi. Trong những năm chống chiến tranh phá hoại miền Bắc của đế quốc Mỹ, phà Bến Thủy ở TP. Vinh, tỉnh Nghệ An là một trọng điểm đánh phá rất ác liệt của không quân Mỹ. Đây là nút giao thông quan trọng để vận chuyển sức người sức của từ hậu phương miền Bắc chi viện cho tiền tuyến lớn miền Nam đánh giặc. Vì thế phà Bến Thuỷ là mục tiêu được không quân Mỹ luôn nhòm ngó và ném bom bắn phá suốt ngày đêm. Ngày ấy, để hạn chế thương vong và tổn thất, sau một đêm lái ca nô dắt phà Bến Thủy chở bộ đội và hàng hóa từ bờ bắc sang bờ nam Sông Lam, đến khi trời sáng những người lính công binh của đơn vị anh tôi lại rời phà Bến Thuỷ về trú quân sơ tán trong nhà dân bên bờ sông Lam ở huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An và huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh.

Vào lúc 22 giờ ngày 10-8-1968, trong khi đang lái ca nô dắt phà Bến Thủy vượt qua sông Lam như bao lần khác thì máy bay Mỹ ập đến đánh phá. Địch bắn pháo sáng nhìn khúc sông rõ như ban ngày, anh tôi cùng ba đồng đội khác đã hy sinh giữa trận ném bom và bắn đạn rốc két của không quân Mỹ.

Sau ngày anh tôi hy sinh vừa tròn một tháng, ông Ngô Ngoạt - Bí thư Đảng ủy xã Nghĩa Đức, huyện Nghĩa Đàn dẫn hai anh bộ đội và đại diện các đoàn thể kéo đến nhà tôi với khuôn mặt buồn rầu. Linh tính mách bảo có điều gì đó chẳng lành đang đến với gia đình tôi vì ruột gan tôi bỗng nóng như lửa đốt. Thế rồi, điều linh cảm của tôi đã đúng. Cho đến bây giờ, buổi chiều định mệnh ấy còn in đậm trong ký ức tôi, ám ảnh tôi bởi hình ảnh ông Ngô Ngoạt đưa cho cha tôi tờ giấy báo tử anh tôi đã hy sinh, còn hai anh bộ đội thì mở ba lô lấy ra từng di vật của anh tôi bàn giao lại cho gia đình.

Lễ truy điệu anh tôi được chính quyền địa phương tổ chức tại nhà tôi một ngày sau đó. Tôi còn nhớ sau bài điếu văn của ông Ngô Ngoạt đọc trong Lễ truy điệu anh tôi làm cho ai cũng rưng rưng nước mắt.

Cuộc tìm kiếm hài cốt của anh tôi sẽ không phải kéo dài đến 22 năm nếu ngày ấy cha tôi không đốt hết giấy báo tử, sơ đồ mộ chí cùng di vật của anh tôi vì sợ bị ám ảnh mỗi khi nhìn thấy. Vừa khóc, cha vừa nói với tôi: Người đã chết rồi, còn gì nữa đâu mà giữ những thứ này lại cho đau xót!

mo-liet-si-nguyen-van-chau-tai-nghia-trang-liet-si-thi-xa-thai-hoa-nghe-an
Mộ liệt sĩ Nguyễn Văn Châu tại Nghĩa trang liệt sĩ thị xã Thái Hoà (Nghệ An).

Hành trình gian nan

Những năm đầu thập niên 80 của thế kỷ trước, phương tiện giao thông phục vụ đi lại của nhân dân ta còn rất khó khăn. Nên mỗi lần đi tìm hài cốt liệt sĩ Nguyễn Văn Châu, tôi lại mang ba lô bánh chưng, quân tư trang, cuốn sổ tay, cây bút máy và bi đông nước đi bộ gần 20km từ nhà ra bến xe thị trấn Thái Hòa, huyện Nghĩa Đàn để xếp hàng mua vé về TP. Vinh. Từ bến xe TP. Vinh, tôi tiếp tục đi bộ đến các nghĩa trang tìm tên liệt sĩ Nguyễn Văn Châu trên từng bia mộ.

Với phương châm “tối đâu ngủ đấy”, trong hành trình 22 năm đi tìm hài cốt liệt sĩ Nguyễn Văn Châu, tôi đã đến hàng trăm nghĩa trang lớn nhỏ của hai tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh, rà đi rà lại nhiều lần từng bia mộ tìm tên liệt sĩ Nguyễn Văn Châu nhưng vô hiệu! Dưới nắng hè bỏng rát cùng những trận gió Lào rang người trong chảo lửa, tôi kiên trì tìm kiếm và cầu mong tìm thấy tên anh. Những buổi trưa ở nghĩa trang nóng như thiêu như đốt, tôi mở ba lô lấy bánh chưng đã bốc mùi thiu nhưng vẫn phải cố nuốt vào bụng để cầm hơi với hai hàng nước mắt chảy tràn trên gò má vì thương mình thì ít, mà thương anh thì nhiều. Khi mặt trời đã lặn sau dãy núi mờ xa, tôi tìm đến nhà dân gần nghĩa trang xin ngủ nhờ qua đêm để hôm sau tiếp tục cuộc hành trình. Biết tôi đi tìm hài cốt liệt sĩ nên đến đâu tôi cũng được nhân dân nhiệt tình giúp đỡ.

Có một lần, tôi ngủ nhờ nhà mẹ Sở ở xã Hưng Lam (Hưng Nguyên) nằm bên bờ sông Lam. Năm ấy mẹ Sở mới 65 tuổi, nhưng lưng mẹ đã còng trước tuổi, đôi mắt bị mờ vì bệnh thiên đầu thống. Trên bàn thờ gia tiên của mẹ có 3 tấm bằng “Tổ quốc ghi công”! Khi tôi hỏi về hoàn cảnh gia đình và những đứa con liệt sĩ đã hy sinh, mẹ bỗng oà lên khóc. Mẹ nói với tôi:

- Mẹ có ba người con trai xung phong lên đường đánh giặc nhưng đã hy sinh ở mặt trận phía Nam và chiến trường K!

Nhìn tấm lưng còng của mẹ tôi thầm nghĩ, tấm lưng ấy còng xuống không chỉ vì thời gian, tuổi tác; mà còn vì nỗi đau mất con vít còng lưng mẹ sau nhiều đêm không ngủ. Nghĩ về nỗi đau của chính mình, tôi hiểu nỗi đau trong lòng mẹ vô bờ bến không thể nào khoả lấp dù thời gian là vô tận cũng chẳng thể nào băng bó cho lành. Ngoài nỗi đau mất con, mẹ còn mang nỗi đau người chồng đã qua đời vì bệnh ung thư phổi.

Những tháng năm đi tìm hài cốt của anh, đến đâu tôi cũng để lại địa chỉ và dặn dò nhân dân địa phương: “Nếu tìm thấy mộ liệt sĩ Nguyễn Văn Châu thì báo cho gia đình tôi biết”.

22 năm đi tìm hài cốt của anh mà không có mộ chí, không có giấy báo tử, tôi như con chim lạc giữa rừng sâu chẳng biết bắt đầu từ đâu và kết thúc thế nào? Ngoài việc tìm kiếm ở các nghĩa trang, tôi còn hỏi nhân dân địa phương thông tin liệt sĩ Nguyễn Văn Châu với niềm hy vọng mong manh chẳng khác gì mò kim đáy biển.

Bỗng một ngày, tôi được một người dân ở huyện Hưng Nguyên báo tin cho biết:

- Trong khi đi chăn trâu cháu của anh đã nhìn thấy tấm bia khắc tên liệt sĩ Nguyễn Văn Châu trên gò đất giữa cánh đồng xã Hưng Châu, huyện Hưng Nguyên.

Niềm vui đến bất ngờ khiến tôi bật khóc. Đó là lúc 10 giờ ngày 20-7-1997.

Ngày bốc hài cốt liệt sĩ Nguyễn Văn Châu đưa về quê hương trời mưa như trút nước. Các đồng chí lãnh đạo Đảng uỷ, UBND cùng các đoàn thể xã Hưng Châu và gia đình tôi ngồi đứng không yên vì trời mưa mỗi lúc càng nặng hạt. Nhưng thật bất ngờ, đến 2 giờ sáng ngày 21-7-1997, vào đúng giờ gia đình tôi chọn động thổ để bốc mộ cho anh thì trận mưa tạnh hẳn. Tôi cầm liềm cắt từng nắm cỏ tranh mọc trùm lên ngôi mộ đã bị sạt lở không còn nhìn rõ hình thù. Sẽ chẳng ai biết đó là mộ anh tôi nếu không có tấm bia bằng xi măng khắc tên liệt sĩ Nguyễn Văn Châu nằm ngang trên mặt đất bị cỏ cây che lấp. Vậy là vong linh của anh tôi đã phù hộ cho gia đình tôi tìm thấy mộ anh để đưa về quê hương sau 22 năm đằng đẵng kiếm tìm.

Lúc đó, tôi bỗng nhớ đến cha tôi - một người cha suốt cuộc đời chịu thương chịu khó nhường nhịn cho con từ bữa ăn, giấc ngủ. Một người cha sau ngày vợ mất đã ở vậy nuôi con mà không đi bước nữa vì sợ các con phải khổ cảnh dì ghẻ con chồng. Một người cha lặng lẽ thắt từng khúc ruột lần lượt tiễn đưa bốn đứa con lên đường nhập ngũ, để đến ngày miền Nam giải phóng đón về hai đứa con thương binh, còn một đứa con liệt sĩ vẫn chưa tìm được hài cốt...

Tôi chợt nhớ tới hình ảnh cha tôi đã bao lần lặng lẽ khóc con bên bàn thờ nghi ngút khói hương vào ngày giỗ trọng. Bất chợt tôi thầm nghĩ, nếu Nhà nước có chủ trương thưởng Huân chương cho những người cha một mình “gà trống nuôi con” thì có lẽ cha tôi là một người xứng đáng.

Khoảng cách từ huyện Hưng Nguyên đến huyện Nghĩa Đàn chỉ dài hơn 100km. Vậy mà, hành trình về quê hương của anh tôi kéo dài tới 29 năm kể từ lúc hy sinh!

Đọc tiếp

Mới nhất

22 năm đi tìm hài cốt liệt sĩ