Logo-print CƠ QUAN CỦA TRUNG ƯƠNG HỘI - TIẾNG NÓI CỦA CỰU CHIẾN BINH VIỆT NAM

Mùa xuân bên dòng Đắk Ngo

Lê Phi Hùng 19/02/2026 - 23:03

Đã lâu tôi mới gặp Đại tá Vũ Văn Mài - nguyên Trung đoàn trưởng Trung đoàn 720, Binh đoàn 16 (Bộ Quốc phòng) vào một chiều cuối năm Ất Tỵ ở TP. Hồ Chí Minh. Bước sang tuổi 69, dù sức khoẻ đã mai một đi nhiều, nhưng khi nhắc tới địa danh xã Đắk Ngo, thuộc huyện Tuy Đức, tỉnh Đắk Nông cũ, nay là xã Quảng Tân, tỉnh Lâm Đồng mắt ông lại sáng lên, cứ như thể nhắc tới điều thiêng liêng, thầm kín nhất. Đắk Ngo là một miền ký ức tươi đẹp, lúc nào cũng có thể ùa vào trong tâm hồn ông những kỷ niệm sống động không bao giờ phai nhạt. Ở đó, ông được bà con người Mông gọi là thủ trưởng Giàng Seo Mài.

 

ba-con-nguoi-mong-o-dak-ngo-trong-ngay-vui-xuan-moi
Bà con người Mông ở Đắk Ngo trong ngày vui Xuân mới.

Với tôi, Đắk Ngo cũng là vùng đất nhớ thương, là những thao thức, trăn trở và hy vọng ngập tràn... Bởi thế, những câu chuyện của chúng tôi cũng dào dạt những kỷ niệm sâu đậm về vùng đất phía cuối đại ngàn Tây Nguyên, đang hừng hực sức sống và vươn mình trong mùa xuân mới.

Ngày Vũ Văn Mài cùng đồng đội về Đắk Ngo xây dựng khu kinh tế quốc phòng (KTQP) nơi đây là rừng cây rậm rạp. Thấy heo, nai, hoẵng, thỏ, gà rừng còn khá nhiều, ai cũng nói chắc thời của chàng Đam San và nàng Sinh Nhã cũng giống như vậy thôi. Nhìn từ trên cao, thung lũng Đắk Ngo được ôm gọn bởi những vòng tay của núi rừng, ưỡn ngực hứng lấy cái nắng, cái gió và cả những trận mưa rừng dữ dội của Tây Nguyên. Đã có người ví: “Đắk Ngo đẹp như gương mặt trăng của người thiếu nữ Mơ Nông, thiếu nữ Hơ Mông tuổi dậy thì”.

Từ khi người Kinh, người Mông theo bộ đội Binh đoàn 16 về đây xây dựng khu KTQP, vùng đất hoang vu này hình thành ra các bản Mông, các đội sản xuất của người Kinh chạy dọc theo 2 con suối Đắk Ngo và Đắk Sin. Đến nay, những rừng cà phê, rừng điều, rừng cao su xanh bạt ngàn chạy dọc bên các dòng suối, lan ra các triền đồi khiến những người ở xa đến phải mê mẩn.

Cách đây 18 năm, lần đầu tiên đến với Đắk Ngo, tôi được gặp già làng Hạng Seo Vảng. Năm 2001, ông cùng hàng chục hộ gia đình người Mông rời huyện Bắc Hà (Lào Cai) vào Tây Nguyên tìm cuộc sống mới song đói nghèo vẫn không buông tha. Đói, khát, cùng những trận sốt rét đã khiến một số người phải nằm lại với đất. Những ngày tháng lang thang đi từ Đắk Glong, sang Đắk Min, rồi ngược lên Cư Jút..., người Mông vẫn không có đủ thóc gạo để ăn. Chỉ khi theo bộ đội Binh đoàn 16 về Đắk Ngo, bà con mới được cấp đất để dựng nhà và giao đất để trồng cây, chăn nuôi. Cũng từ đó, cuộc sống của đồng bào cứ sáng dần lên.

Có đất trồng cây, chăn nuôi, hạt thóc, hạt ngô, hạt điều, cà phê, con trâu, con bò, con lợn chạy vào nhà người Mông ngày càng nhiều. Cũng vì thế mà cái đói nghèo bị đẩy lùi đi xa. Người Mông thường ăn tết theo phong tục của mình từ cuối tháng 11 đến đầu tháng 12 âm lịch hằng năm, nhưng Tết Nguyên đán Quý Mùi (2003) là cái Tết đầu tiên ở Đắk Ngo đã khiến già làng ngơ ngẩn như những đứa trẻ lần đầu biết Tết. Sau vụ lúa, vụ sắn bội thu, nhà nào cũng có gạo để làm bánh dày. Nhiều nhà còn mổ lợn, mổ nhiều gà để cúng Giàng nữa.

Hơn ba năm lang thang trên vùng đất Tây Nguyên, Tết đó tiếng khèn của đám con trai đã cất lên rộn rã. Nghe tiếng khèn, lũ con gái mặc váy hoa sặc sỡ, cứ lúng liếng cười ở đầu bản như muốn hòa điệu múa vào âm thanh rộn rã của mùa Xuân. Vui hơn cả là bộ đội đến đón Tết với bà con. Nhà nào có bộ đội tới, coi như may mắn cả năm. Ông Thào A Sáng nói rằng: “Có gạo, có thịt trong nhà thì lúc nào cũng là Tết. Có bộ đội đến uống rượu thì Tết vui cả ngày, cả đêm”. Còn bà Mùa Thị Rúa lại phấn khởi: “Tết của người Mông cũng là của các dân tộc trong vùng, mà Tết cổ truyền cũng là Tết của người Mông”.

Khi các bản làng ở Đắk Ngo hình thành, thì hệ thống đường sá cùng một số trường học cũng làm xong. Bản nào cũng có nơi để dạy bọn trẻ con học hát, học múa. Khi người lớn lên nương rẫy, thì cũng là lúc bọn trẻ con hát vang ngoài lớp. Năm 2010 lên Đắk Ngo, tôi đã gặp cô giáo Nguyễn Thị Mến quê gốc ở tỉnh Thanh Hóa. Cô là một trong những giáo viên tình nguyện dạy học ở nơi vô cùng khó khăn, gian khổ này. Tốt nghiệp Trường Đại học Quy Nhơn, cô giáo Mến bén duyên với Đắk Ngo. Dạy học sinh người Kinh đã khó, dạy học sinh người Mông còn khó gấp nhiều lần, vì hầu hết các em không biết tiếng phổ thông. Ấy vậy mà cô giáo người Kinh đã biến những đứa trẻ hay nói từ “chư pâu” có nghĩa là không biết, thành những cô cậu học trò đọc và viết thạo tiếng phổ thông. Đến nay, nhiều em đã tốt nghiệp THCS hay THPT. Giờ đây cô giáo Mến đã về quê Thanh Hóa, nhưng mỗi khi nhắc tới Đắk Ngo thì cô đều bổi hổi: “Em nhớ Đắk Ngo, nhớ học sinh và đồng bào Mông ở đây lắm. Họ cho em tình yêu nghề, yêu người và yêu cuộc sống này, dù nó vẫn còn không ít khó khăn, gian khổ”.

bo-doi-binh-doan-15-huong-dan-ba-con-nguoi-mong-cao-mu-cao-su-1322
Bộ đội Binh đoàn 15 hướng dẫn bà con người Mông cạo mủ cao su.

...Bốn, năm mùa rẫy bội thu, nhiều nhà dân đã trở thành triệu phú của bản làng. Như nhà già làng Hạng Seo Vảng, nhà anh Sùng A Páo có nguồn thu từ 70 triệu đến 100 triệu đồng từ lúa và cà phê mỗi năm. Mỗi khi ông mặt trời nhô ra khỏi cánh rừng phía Đông là người lớn, trẻ con đổ thóc ra phơi vui như chuẩn bị vào hội. Những con đường đất đỏ tấp nập người xe qua lại để trao đổi hàng hóa. Người ngoài Gia Nghĩa, Kiến Đức thi nhau chở vải vóc, quần áo, đồ dùng sinh hoạt vào các bản Mông, còn người Mông lại bán cho họ lúa ngô, cà phê, điều và hồ tiêu. Mừng nhất là đường điện đã được kéo về các bản Mông. Anh Sùng Dũ Di ở bản Si Át bảo:

- Bộ đội kéo điện về thì nhà ai cũng thức đến khuya để xem ti vi, nghe đài, xem bóng đá.

Chưa hết, già làng Hạng Seo Vảng còn nói với tôi: “Người Mông ở Đắk Ngo giờ ít đi bằng chân à. Chúng nó đi xe máy cứ vèo vèo ấy”. Còn nhớ những ngày ở Bắc Hà, Điện Biên, Hà Giang hay Lào Cai, bà con chỉ quen đi bộ mà thôi. Nhà ai khá giả hơn mới có ngựa thồ, ngựa cưỡi, nhưng mà cũng chỉ đi ở chỗ bằng phẳng thôi chứ làm sao leo lên được vách núi đá. Ở Đắk Ngo, đường đất phẳng phiu, tiền bán nông sản ngày càng nhiều hơn nên nhà nào cũng mua được xe máy. Hầu hết người Mông ở Đắk Ngo đều có điện thoại thông minh. Họ có thể xem giá cả nông sản trên sàn, kết nối với tiểu thương hay làm các thủ tục hành chính bằng công nghệ số.

Cuối tháng 1-2026, Đắk Ngo chuẩn bị bước vào mùa hoa cà phê. Những nụ cười của người Mông, người Kinh rải khắp các nẻo đường trong khu dự án KTQP. Chỉ hơn hai tháng trước, mùa thu hoạch cà phê bội thu khiến người dân mừng cái bụng lắm. Thương lái khắp nơi gọi điện về thương thảo giá cả. “Giá rẻ quá. Chưa thể bán được” - Anh Lý Văn Xem, một “thương gia” nổi tiếng của người Mông nói như đinh đóng cột. “Nếu mà ép giá quá, mình không bán đâu” - Chị Giàng Thị Hoa ở bản Thống Nhất nói. Nghe bà con râm ran chuyện được mùa, được giá cà phê, chúng tôi cũng vui lây. Nhiều gia đình bà con người Mông vụ cà phê năm 2025 đã thu được từ 2,6-2,8 tấn/ha. Đầu tháng 1 vừa qua, giá cà phê có lúc lên đến 110.000 đồng/kg, giờ thì khoảng 100.000 đồng/kg. Những năm được mùa, các bản Mông như Si Át, Sín Chải, Thống Nhất đã làm được một số sân bóng đá mini, sân bóng chuyền và cả chỗ đậu cho xe khách đường dài về đến tận Lào Cai, Tuyên Quang.

Chiều. Những tia nắng cuối ngày vẫn còn lưu luyến trên những tán lá rừng bên dòng suối Đắk Ngo. Chuẩn bị bước sang năm mới Bính Ngọ, nước ở đây trong xanh như ngọc bích. Thượng tá Đoàn Mạnh Nghĩa - Chính ủy Trung đoàn 720 (Binh đoàn 16) giới thiệu: “Chỉ ít ngày nữa, những con đường ở đây sẽ rực rỡ hoa Tết. Đồng bào Mông và bà con người Kinh cũng tổ chức Hội chợ Xuân với những hoạt động văn hóa dân gian đặc sắc”. Chả cần đến Tết Nguyên đán Bính Ngọ, giờ đây trên những con đường trong khu dự án KTQP, cờ Đảng và cờ Tổ quốc đang bay phấp phới để chào mừng Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIV vừa thành công tốt đẹp. Ở đâu đó, chúng tôi đã nghe thấy tiếng khèn lắt lẻo vọng tới. Tiếng khèn rộn rã giai điệu được mùa, lại da diết như gọi bạn tình bên suối. Tiếng khèn gọi Xuân về với đại ngàn Tây Nguyên, về với đồng bào các dân tộc bên dòng Đắk Ngo trong niềm hạnh phúc ngập tràn.

Đọc tiếp

Mới nhất

Mùa xuân bên dòng Đắk Ngo