Logo-print CƠ QUAN CỦA TRUNG ƯƠNG HỘI - TIẾNG NÓI CỦA CỰU CHIẾN BINH VIỆT NAM

Nhà thơ hoài niệm...

HuongHT • 21/10/2026 - 11:08

Trong tập bút ký - tản văn nổi tiếng Đaghextan của tôi của Rasul Gamzatov, nhà thơ lớn của nước Nga (1923-2003) từng viết đại ý: Hãy để cho tuổi trẻ sôi nổi hát bằng thơ và tuổi già chậm rãi nói bằng văn xuôi. Luận điểm này không chỉ dành riêng cho các cây bút sử dụng tiếng Avar hay cả nước Nga, mà hầu như đúng với văn học của mọi dân tộc, mọi thời đại. Tuy nhiên vẫn có những ngoại lệ, ngay cả ở Việt Nam, nơi mà hầu như chưa ai có thể đọc một tác phẩm văn học bằng tiếng Avar là thứ tiếng mẹ đẻ của Rasul Gamzatov.

102026-nguyen-van-a-1107
Đồng đội tặng hoa Thượng tá, nhà báo Nguyễn Văn Á trong lễ ra mắt sách.

Sở dĩ tôi dẫn lại luận điểm của nhà thơ nổi tiếng nước Nga và có những liên hệ như trên, là bởi tôi đang nghĩ về “hiện tượng” Nguyễn Văn Á, một thi sĩ mới xuất hiện gần đây. Ông là Thượng tá - Cựu chiến binh, từng tham gia chiến đấu tại chiến trường Quảng Trị năm 1971-1973; chiến đấu ở biên giới Tây Nam năm 1977; chiến đấu ở biên giới phía Bắc tại mặt trận Lạng Sơn năm 1978 - 1979 của thế kỷ 20. Do lập được nhiều chiến công xuất sắc trong chiến đấu, Thượng tá Nguyễn Văn Á đã được tặng 4 Huân chương Chiến công hạng Nhất, hạng Nhì, hạng Ba; 1 Huy chương Tuổi trẻ Anh hùng bảo vệ Tổ quốc; 2 Bằng Dũng sĩ diệt máy bay và nhiều phần thưởng cao quý khác. Ông là một sĩ quan chỉ huy tài năng, văn võ song toàn, dạn dày kinh nghiệm trong chiến đấu cũng như trong xây dựng đơn vị thời bình, được bổ nhiệm chức vụ quan trọng cấp trung đoàn và sư đoàn khi mới 36 tuổi. Mặc dù tiền đồ binh nghiệp đang thênh thang hoan lộ đầy hứa hẹn, nhưng vì đam mê nghiệp văn chương và đam mê làm báo chuyên nghiệp, năm 1998, ông xin chuyển ngành sang dân sự với ngạch phóng viên chính, giữ chức Trưởng phòng Truyền thông Tài chính của Thời báo Tài chính Việt Nam (Bộ Tài chính) công tác đến năm 2012 thì nghỉ hưu. Thế rồi khi đã bước qua tuổi “cổ lai hi”, liên tiếp trong 2 năm 2025 và 2026, ông xuất bản 4 đầu sách văn học. Kể cũng khá bất ngờ, nhưng không phải là hi hữu, bởi thế gian như ông cũng không phải hiếm. Rất có thể cái chất văn chương trong con người chàng trai sinh ra và lớn lên ở làng Văn Giang mang ý nghĩa một dòng sông văn (nay là thôn Đại Thịnh), xã Sơn Thịnh, huyện Hương Sơn (nay là xã Sơn Tiến), tỉnh Hà Tĩnh, nơi có dòng sông Ngàn Phố trong xanh và dãy núi Thiên Nhẫn với hàng ngàn ngọn núi chạy từ Đông sang Tây bao bọc lấy cánh đồng nhỏ hẹp thật sơn thuỷ hữu tình.... bị công việc nhà binh thời chiến cuốn đi, rồi công việc làm báo của thời kinh tế thị trường lấn át. Đến khi cuộc sống không còn phải chật vật mưu sinh, trách nhiệm gia đình coi như “hoàn tất”, ông mới tự cho mình được sống với văn chương. Cơ mà, không phải “chậm rãi nói bằng văn xuôi” như luận điểm của Rasul Gamzatov, mà là những vần thơ hoài niệm về một thời tuổi trẻ đã qua...

Nói cho chính xác thì năm 2025, Nguyễn Văn Á đã ra mắt truyện ký Phía Nam sông Bến Hải (tập 1) dày hơn 400 trang do NXB Văn học cấp phép, nhưng phần lớn là những ghi chép tư liệu đậm chất báo chí. Sáng tác văn chương của ông phải nói đến tập thơ Giọt sương bên cửa sổ do NXB Hội Nhà văn ấn hành. Tập thơ Giọt sương bên cửa sổ gồm 72 thi phẩm chia thành 3 phần với các tiêu đề theo thứ tự: Phần 1: Giọt sương bên cửa sổ; Phần 2: Khúc giao mùa, Phần 3: Hoài niệm. Tuy tiêu đề từng phần khác nhau, nhưng âm hưởng chung của tập thơ vẫn là “Hoài niệm”. Hoài niệm về tuổi thơ, tuổi trẻ và gia đình, quê hương, đất nước... những năm tháng gian lao mà anh dũng, khó khăn nghèo đói nhưng ăm ắp tình người. Đó là những năm tháng mà khát vọng của mỗi người dân hòa trong khát vọng lớn của dân tộc: Hòa bình, thống nhất, độc lập, tự do! Có lẽ, đó là lý do mà tác giả chọn thời điểm ra mắt tập thơ đầu tay vào dịp kỷ niệm 50 năm Đại thắng mùa Xuân 1975.

Đâu năm 2026, ông tiếp tục trình làng truyện ký Trên chiến hào biên giới (tập 1) do NXB Hội Nhà văn ấn hành và tập thơ Bóng núi do NXB Văn học cấp phép. Ở tập thơ này, âm hưởng “Hoài niệm” vẫn bao trùm cả tập thơ gồm 3 phần: Phần 1 - Hoài cảm; Phần 2 - Xuân đợi; Phần 3 - Bóng núi. Phần nào cũng có 1 bài thơ mang tựa đề Quá khứ; Quá khứ và em; Quá khứ và tôi. Ấy là chỉ nói riêng về tên của các bài thơ, ngoài ra 2 chữ “Quá khứ” còn hiện diện trong rất nhiều bài thơ khác của tập thơ này...

“Quá khứ” là khái niệm thời gian tuyến tính, đối lập với hiện tại và tương lai. Đó là tập hợp tất cả các sự kiện, hành động đã xảy ra trước thời điểm hiện tại; bao gồm ký ức, dĩ vãng... và những gì không thể thay đổi được. Với các nhà văn, nhà thơ thì quá khứ là một phần của thời gian nghệ thuật; nó giúp tác giả kể câu chuyện sinh động và chân thật, góp phần tạo nên chỉnh thể thẩm mỹ cho tác phẩm. Theo đó, quá khứ không chỉ là hoài niệm mà còn là chất liệu nghệ thuật để làm nên cái tôi trữ tình; không chỉ là nguồn cảm hứng sáng tạo, mà còn là điểm tựa tinh thần, giúp tác giả đối thoại với lịch sử một cách tự tin và trọng thị. Với nhà thơ Nguyễn Văn Á, quá khứ là Sẽ còn nguyên trong ký ức nhiều năm/ một thuở đạn bom, một thời đồng đội... Trong điệp trùng đồng đội những năm tháng ấy, có những người thân yêu ruột thịt của tác giả: Quá khứ là tháng năm đất nước chiến tranh/ Cha tiễn chúng tôi lên đường nhập ngũ/ Bốn đứa con, bốn chiến trường khói lửa/ Ngày đoàn viên chỉ ba đứa trở về.

Cụ thể hơn: Bảy năm trời đi B không tin tức/ anh tôi trở về một chân thấp, chân cao/ thẻ thương binh mang chiến tích một thời oanh liệt/ hành hạ anh tôi khi trái gió trở trời... Quá khứ của anh có cả người bạn gái thuở học trò: Thuở chiến tranh em lên đường ra trận/ Xẻ núi mở đường dọc dải Trường Sơn/ Bom đạn giặc, sốt rét rừng vây bủa/ Những con đường vẫn thẳng hướng tiền phương...

Và quá khứ là quê hương lồng trong bóng người mẹ tảo tần mưa nắng: Quá khứ là tháng năm gầy rộc tiếng ve/ Gào cháy trưa hè trong cơn khát hạ/ Tiếng vạc kêu đêm cuối đồng vội vã/ Là lũ chuồn chuồn trốn chạy cơn giông/ Là vành khăn mỏ quạ, áo nâu sồng/ Mẹ chôn chân giữa bùn lầy rét mướt/ Dưới trời đông đon mạ tay mẹ cấy/ Cắm cuộc đời vào bão táp mưa sa.

Còn nhiều lắm những thi ảnh, thi tứ hiện về từ ký ức tác giả. Ấy là khi nhà thơ trở về thăm lại chiến trường xưa, rưng rưng trước “Dòng sông nghĩa trang”: Các anh nằm đâu trong đáy sông sâu/ Một thuở đạn bom giăng đầy Thạch Hãn. Ấy là khi nhà thơ trở lại với đại ngàn: Còn âm vang trong ký ức Trường Sơn/ Những tháng năm đạn bom thù chặn lối... Ấy là khi nhà thơ trăn trở với những dòng tin “nhắn tìm đồng đội” trên đài, trên báo: Bao liệt sĩ vẫn chưa tìm thấy mộ/ Đã uốn còng lưng mẹ phía trời quê... Và cả niềm xúc động khi đọc một tác phẩm văn học xuất sắc viết về chiến tranh - tiểu thuyết Bến không chồng của một nhà văn áo lính: Ai lên Thái Thụy, Thuỳ Liên/ Những chiều tắt nắng, những đêm buông màn/ Nỗi đau hậu chiến còn lan/ Làng Đông ngày ấy đến ngàn kiếp sau/ Cuộc đời sao lắm bể dâu/ Làng Đông đâu chỉ một câu chuyện tình/ Hai trăm người lính hy sinh/ Hai trăm thiếu phụ chung tình khổ đau...

Tập thơ Bóng núi còn những thi phẩm đề cập nhiều chủ đề khác; có cả thơ luận đề, thơ thế sự, thơ thời sự và thơ về đại dịch Covid-19 nữa... Tất nhiên là không thể thiếu thơ tình - những mối tình thời chiến: Cái thời anh yêu em/ Mặt đất đầy tiếng súng/ Cái thời ta yêu nhau/ Thức ngọn đèn lay động... Đó là cái thời của “Anh và Em”, cũng là cái thời của cả một thế hệ sẵn sàng hy sinh tuổi trẻ, hy sinh tình yêu, thậm chí cả tính mạng để hiến dâng cho Tổ quốc: Có bao nhiêu cô gái/ Rung bao nhiêu hồn thơ/ Có bao nhiêu chàng trai/ Lặn vào trong thương nhớ/ Phương trời xa súng nổ/ Thao thiết “Đợi anh về”...

Ở mảng thơ về tình yêu, Nguyễn Văn Á còn dành cho những người vợ lính những câu thơ sẻ chia và tôn vinh trân trọng. Quán xuyến và bao trùm lên tất cả vẫn là dòng hồi tưởng, hoài niệm về một quá khứ buồn mà đẹp. Nỗi buồn là cứu cánh của nhà thơ và Nguyễn Văn Á không là ngoại lệ. Nhưng nỗi buồn trong thơ anh là nỗi buồn về những mất mát hy sinh của người thân và đồng đội; là thương nhớ về đất nước những năm bom đạn, chia li và nghèo túng; là tiếc nuối về những giá trị văn hóa của một thời nay đã phôi pha... Cho nên đấy là nỗi buồn nhân văn - nỗi buồn đẹp. Đẹp còn vì đấy là quá khứ của một cá nhân hòa trong quá khứ của cộng đồng, thân phận nhà thơ hòa chung số phận dân tộc, cái Tôi bé nhỏ hài hòa trong cái Ta rộng lớn...

Thiết nghĩ, chừng đó đã khả dĩ cho Bóng núi - tập thơ thứ hai của nhà báo CCB Nguyễn Văn Á - tự tin trong mặt bằng của đời sống thơ ca hôm nay. Một giọng thơ mộc mạc, hồn nhiên, trọng tình hơn chữ, đôi khi còn chút vụng về nữa; nhưng đôi khi Bóng núi cũng “hắt” ra những tia sáng lung linh ảo diệu, như: Hoa mặc áo xuân khoe khắp phố/ Theo em hái lộc hội chùa Hương... Hoặc như: Một hạt ngọc mắt cây vừa nhỏ xuống/ Mạ xanh quá, xanh xôn xao đồng ruộng... Đó là những câu thơ “đánh tráo” đối tượng rất ấn tượng. Tương tự như thế là Mưa quất từng viên sỏi lạnh khiến người đọc nhoi nhói niềm đau. Còn như Anh đi tìm lại mùa trăng/ Xanh xao cuối trời xa lắc... và Ánh vàng rải khắp đồng quê/ Nụ hôn bùa ngải theo về dưới trăng... thì thật và ảo như Thơ, vi diệu như Thơ. Mong sao Nguyễn Văn Á tiếp tục có nhiều những câu thơ như thế!

Đọc tiếp

Mới nhất

Nhà thơ hoài niệm...