CƠ QUAN CỦA TRUNG ƯƠNG HỘI - TIẾNG NÓI CỦA CỰU CHIẾN BINH VIỆT NAM
Kỳ 1: Từ tầm nhìn lớn đến việc phải làm ngay
Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng cùng với hệ thống nghị quyết chiến lược đã mở ra tầm nhìn, động lực và phương thức phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới. Vấn đề quyết định là biến quyết sách thành hành động, đưa nghị quyết bắt rễ từ cơ sở bằng việc làm cụ thể, trách nhiệm rõ ràng và kết quả được định lượng bằng từng sản phẩm.
Thực tiễn mới và câu hỏi không thể chậm trễ
Thế giới đang chuyển động nhanh, phức tạp, khó lường. Theo dự báo của Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) công bố tháng 7/2025, tăng trưởng kinh tế toàn cầu năm 2025 ước đạt 3,0% và năm 2026 đạt 3,1%. Theo UNCTAD, thương mại hàng hóa và dịch vụ toàn cầu năm 2025 vượt 35 nghìn tỷ USD, tăng khoảng 7,5% so với năm trước. Độ mở và sự kết nối ngày càng sâu của các nền kinh tế vừa mở ra cơ hội phát triển, vừa làm gia tăng khả năng tác động dây chuyền trước những biến động về địa chính trị, chuỗi cung ứng, chính sách thương mại và an ninh kinh tế.
Bên cạnh những biến động ấy ở lĩnh vực kinh tế, Tổ chức Khí tượng thế giới xác nhận năm 2024 là năm nóng nhất từng được ghi nhận, với nhiệt độ trung bình toàn cầu cao hơn khoảng 1,55°C so với thời kỳ tiền công nghiệp; giai đoạn 2015-2024 là chuỗi 10 năm nóng nhất trong lịch sử quan trắc. Cùng lúc, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn và chuyển đổi số đang định hình lại năng lực cạnh tranh quốc gia. Chỉ riêng các trung tâm dữ liệu đã tiêu thụ khoảng 415 TWh điện trong năm 2024, tương đương khoảng 1,5% điện năng toàn cầu. Điều đó cho thấy nền kinh tế số đặt ra yêu cầu cao hơnvề hạ tầng, năng lượng, dữ liệu, nhân lực và quản trị.
Trước bối cảnh đó, không quốc gia nào có thể đứng ngoài. Thực tiễn đặt ra vấn đề, chậm đổi mới thể chế, chậm làm chủ công nghệ, chậm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, chậm chuyển đổi mô hình tăng trưởng đồng nghĩa với nguy cơ tụt hậu. Ngược lại, quốc gia nào biết nắm bắt thời cơ, tổ chức lại nguồn lực, phát huy sức sáng tạo của con người, đổi mới phương thức quản trị sẽ có cơ hội bứt lên.
Với Việt Nam, sau 40 năm đổi mới toàn diện, đất nước đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử; cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế ngày càng được nâng cao. Năm 2025, GDP tăng 8,02%, quy mô nền kinh tế đạt khoảng 514 tỷ USD; tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa đạt 930,05 tỷ USD; khách quốc tế đạt gần 21,2 triệu lượt, cao nhất từ trước đến nay. Trong khi đó, tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng, chứng chỉ đạt 29,2%; điều này cho thấy yêu cầu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, năng suất lao động và năng lực công nghệ là yêu cầu cấp thiết. Theo đó, một nền kinh tế có quy mô ngày càng lớn, độ mở ngày càng sâu, dân số hơn 100 triệu người và lực lượng lao động hơn 53 triệu người không thể tiếp tục phát triển chủ yếu bằng lợi thế cũ. Nghị quyết Đại hội XIV xác định mục tiêu đến năm 2030, Việt Nam trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao. Đó không chỉ đơn thuần là mốc thời gian trong chiến lược phát triển, mà là lời cam kết chính trị về khát vọng vươn lên của dân tộc. Thực tiễn đã chứng minh, để phát triển đất nước khổng chỉ cần có chủ trương, đường lối đúng; nghị quyết được ban hành không được đo đếm bằng bao nhiêu văn bản chỉ đạo, số lượng cuộc họp. Câu hỏi lớn cần lời giải lúc này là nghị quyết đã được cụ thể hóa thế nào, thời gian triển khai, chủ thể chịu trách nhiệm, sản phẩm là gì và người dân, doanh nghiệp, cán bộ, đảng viên được thụ hưởng ra sao.
Đó là câu hỏi của hành động; đồng thời cũng là câu hỏi về năng lực lãnh đạo, năng lực tổ chức thực hiện và sức chiến đấu của tổ chức đảng trong kỷ nguyên mới.
Nghị quyết lớn đòi hỏi năng lực tổ chức thực hiện cao
Thực tiễn cho thấy, cùng một chủ trương đúng nhưng kết quả ở mỗi nơi có thể khác nhau. Có nơi nghị quyết nhanh chóng trở thành hành động, tạo chuyển biến rõ trong quản lý, điều hành, sản xuất, kinh doanh, phục vụ Nhân dân. Nhưng cũng có nơi nghị quyết còn dừng ở văn bản, hội nghị, khẩu hiệu; chương trình hành động chung chung, trách nhiệm chưa rõ, kiểm tra chưa thường xuyên, kết quả chưa đo được bằng chuyển biến cụ thể.
Khoảng cách ấy là khoảng cách giữa nhận thức và hành động, giữa quyết tâm chính trị và năng lực tổ chức thực hiện. Trong giai đoạn phát triển mới, nếu khoảng cách này không được thu hẹp, nó sẽ trở thành lực cản, điểm nghẽn cho sự phát triển. Bởi lẽ, thời cơ không chờ đợi, công nghệ không chờ đợi, thị trường không chờ đợi, yêu cầu của Nhân dân và doanh nghiệp cũng không chờ đợi.
Vì vậy, Nghị quyết “sống” là yêu cầu chính trị, yêu cầu quản trị và yêu cầu phát triển. Nghị quyết lớn đòi hỏi quyết tâm chính trị cao; hành động mạnh mẽvà khả năng biến mục tiêu thành nhiệm vụ, biến nhiệm vụ thành sản phẩm, biến trách nhiệm thành kết quả cụ thể.
Tinh thần ấy được Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh tại Phiên bế mạc Đại hội XIV của Đảng: “Biến ý chí thành hành động, biến quyết sách thành kết quả cụ thể; nói là làm, làm ngay, làm đúng, làm quyết liệt, làm đến cùng và làm hiệu quả.” Đặt trong quá trình tổ chức thực hiện nghị quyết, đây là phương châm hành động của cả hệ thống: khẩn trương nhưng đúng nguyên tắc, quyết liệt nhưng có kỷ luật, làm đến cùng và lấy hiệu quả thực chất làm thước đo.
Đường lối đúng chỉ phát huy giá trị khi được tổ chức thực hiện đúng. Nếu học tập nghị quyết chỉ dừng ở nhận thức, nếu quán triệt nghị quyết chỉ kết thúc bằng hội nghị, nếu chương trình hành động chỉ là bản sao của cấp trên, nghị quyết rất dễ bị hành chính hóa. Điều cần nhất là chuyển từ “triển khai nghị quyết” sang “quản trị thực hiện nghị quyết” với phương châm“rõ việc, rõ người, rõ trách nhiệm, rõ thời gian, rõ kết quả”.
Từ hệ thống nghị quyết chiến lược đến tầm nhìn Đại hội XIV
Từ trước thềm Đại hội XIV đến những tháng đầu triển khai Nghị quyết Đại hội, hệ thống các nghị quyết chiến lược đã được ban hành trên nhiều lĩnh vực then chốt. Theo đó, có nghị quyết đặt nền tảng, mở đường cho tư duy phát triển mới; có nghị quyết tiếp tục cụ thể hóa, bổ sung và thúc đẩy tổ chức thực hiện các định hướng lớn sau Đại hội. Theo mạch phát triển, các nghị quyết ấy cùng gặp nhau ở một yêu cầu: tạo động lực mới, khơi thông nguồn lực, hoàn thiện thể chế, phát triển con người, củng cố kỷ luật, kỷ cương và nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng.
Một hệ thống các nghị quyết chiến lược được Trung ương, Bộ Chính trị ban hành, tạo khuôn khổ và động lực mới cho phát triển đất nước.
Có thể khái quát hệ thống các nghị quyết được ban hành trước và sau Đại hội XIV thành những nhóm vấn đề lớn. Nhóm thứ nhất là đột phá thể chế, công nghệ và môi trường phát triển, với trọng tâm là Nghị quyết số 57-NQ/TW về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia; Nghị quyết số 66-NQ/TW về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật; Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân. Nhóm thứ hai là hội nhập, đối ngoại và nguồn lực quốc tế, gồm Nghị quyết số 59-NQ/TW về hội nhập quốc tế trong tình hình mới, Nghị quyết số 06-NQ/TW về triển khai đường lối đối ngoại Đại hội XIV, Nghị quyết số 10-NQ/TW về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, cùng nghị quyết về công tác người Việt Nam ở nước ngoài. Nhóm thứ ba là không gian phát triển và cực tăng trưởng, với các nghị quyết về xây dựng, phát triển Thủ đô Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, thành phố Đồng Nai và phát triển các vùng, tổ chức không gian phát triển quốc gia. Nhóm thứ tư là nền tảng kinh tế - xã hội thiết yếu, gồm các nghị quyết về an ninh năng lượng, giáo dục - đào tạo, chăm sóc sức khỏe Nhân dân, kinh tế nhà nước và du lịch. Nhóm thứ năm là văn hóa, tư tưởng, cán bộ và xây dựng Đảng, với các nghị quyết về phát triển văn hóa Việt Nam, phát huy tính tiên phong, gương mẫu của cán bộ, đảng viên và chiến lược công tác tư tưởng trong bối cảnh mới.
Trong hệ thống đó, Nghị quyết số 57-NQ/TW có ý nghĩa mở đầu cho tư duy phát triển mới khi xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là đột phá quan trọng hàng đầu, động lực chính để phát triển nhanh lực lượng sản xuất hiện đại, đổi mới phương thức quản trị quốc gia, phát triển kinh tế - xã hội, ngăn chặn nguy cơ tụt hậu. Đây không chỉ là nghị quyết về công nghệ, mà còn là nghị quyết về phương thức phát triển. Muốn bứt phá, không thể chỉ dựa vào lợi thế cũ, mà phải làm chủ tri thức, dữ liệu, công nghệ, nhân lực chất lượng cao và năng lực đổi mới sáng tạo.
Cùng với động lực công nghệ, Nghị quyết số 59-NQ/TW về hội nhập quốc tế trong tình hình mới mở rộng không gian phát triển của đất nước. Hội nhập không chỉ là mở rộng quan hệ đối ngoại, mà còn là nâng chuẩn nội lực: thể chế phải minh bạch hơn, nguồn nhân lực phải chất lượng hơn, doanh nghiệp phải chủ động hơn, quản trị quốc gia phải hiện đại hơn. Gắn với đó, Nghị quyết số 10-NQ/TW về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài cho thấy yêu cầu chuyển từ thu hút vốn thuần túy sang nâng cao chất lượng, hiệu quả, lấy đổi mới sáng tạo, chuyển giao công nghệ và năng lực cạnh tranh quốc gia làm thước đo.
Ở trục thể chế và nguồn lực trong nước, Nghị quyết số 66-NQ/TW đặt trọng tâm vào tháo gỡ điểm nghẽn thể chế, xây dựng hệ thống pháp luật đồng bộ, thống nhất, công khai, minh bạch, khả thi, được tổ chức thực hiện nghiêm minh, nhất quán. Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân tiếp tục khơi thông một nguồn lực quan trọng của nền kinh tế, đồng thời củng cố niềm tin, tạo khí thế và xung lực mới cho phát triển. Hai nghị quyết cho thấy một yêu cầu nhất quán: muốn phát huy nguồn lực xã hội thì thể chế phải thông suốt, môi trường kinh doanh phải minh bạch, bộ máy phải phục vụ và thực thi phải hiệu quả.
Không chỉ kinh tế, công nghệ hay thể chế, hệ thống nghị quyết chiến lược còn bao quát những nền tảng thiết yếu của phát triển bền vững. Nghị quyết số 70-NQ/TW đặt vấn đề bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045; Nghị quyết số 71-NQ/TW nhấn mạnh đột phá phát triển giáo dục và đào tạo; Nghị quyết số 72-NQ/TW tập trung bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe Nhân dân; Nghị quyết số 79-NQ/TW về phát triển kinh tế nhà nước, khẳng định vai trò của khu vực kinh tế nhà nước trong những ngành, lĩnh vực then chốt, thiết yếu, chiến lược. Những trụ cột này tạo nền móng cho phát triển dài hạn: có năng lượng để sản xuất, có giáo dục để tạo nhân lực, có y tế để chăm lo con người, có kinh tế nhà nước để bảo đảm vai trò định hướng trong các lĩnh vực then chốt.
Đặc biệt, Nghị quyết số 80-NQ/TW về phát triển văn hóa Việt Nam tiếp tục khẳng định văn hóa, con người là nền tảng tinh thần, sức mạnh nội sinh của dân tộc. Trong kỷ nguyên mới, phát triển nhanh mà thiếu nền tảng văn hóa sẽ khó bền vững; đổi mới công nghệ mà thiếu con người có bản lĩnh, trí tuệ, đạo đức và khát vọng cống hiến sẽ khó đi xa. Văn hóa vì vậy không đứng ngoài phát triển, mà là chiều sâu của phát triển, là nguồn lực nội sinh giúp đất nước phát triển có bản sắc, có sức bền.
Cùng với đó, Nghị quyết số 04-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực đặt ra yêu cầu xây dựng Đảng, hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện, củng cố niềm tin của Nhân dân. Trong dòng chảy thực hiện nghị quyết, đây là trụ cột bảo đảm kỷ luật, kỷ cương, liêm chính và hiệu quả. Nếu không kiểm soát tốt quyền lực, không phòng chống lãng phí, không giữ nghiêm kỷ luật thực thi, mọi quyết sách lớn đều có nguy cơ bị làm chậm, làm lệch hoặc làm giảm hiệu quả.
Tất cả được đặt trong tầm nhìn tổng thể của Đại hội XIV. Nghị quyết Đại hội XIV chỉ rõ quan điểm triển khai đồng bộ: phát triển kinh tế, xã hội, bảo vệ môi trường là trung tâm; xây dựng Đảng là then chốt; phát triển văn hóa, con người là nền tảng; tăng cường quốc phòng, an ninh và đẩy mạnh đối ngoại, hội nhập quốc tế là trọng yếu, thường xuyên. Đó là tầm nhìn phát triển toàn diện: kinh tế không tách khỏi xã hội và môi trường; đổi mới công nghệ không tách khỏi con người; hội nhập không tách khỏi tự chủ; phát triển không tách khỏi xây dựng Đảng.
Nếu hệ thống nghị quyết chiến lược và Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng xác lập tầm nhìn, thì Chương trình hành động của Ban Chấp hành Trung ương thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV là bước chuyển từ tầm nhìn sang tổ chức thực hiện. Đây là yếu tố quan trọng, bởi nghị quyết không thể đi vào cuộc sống nếu thiếu phân công cụ thể, trách nhiệm rõ ràng, tiến độ thực hiện và cơ chế kiểm tra chặt chẽ.
Chương trình hành động của Ban Chấp hành Trung ương thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV đã cụ thể hóa tầm nhìn chiến lược thành 12 nhóm nhiệm vụ chủ yếu, 6 nhiệm vụ trọng tâm, 3 đột phá chiến lược; gắn với 30 chỉ tiêu chủ yếu của cả nước, 38 chỉ tiêu của ngành, lĩnh vực, địa phương và 272 nhiệm vụ, đề án, dự án, công trình quan trọng, chiến lược giai đoạn 2026-2030. Những con số ấy cho thấy yêu cầu chuyển mạnh từ định hướng sang tổ chức thực hiện; mục tiêu phải được lượng hóa, nhiệm vụ phải có địa chỉ, nguồn lực, tiến độ và thước đo kết quả
Trong 06 nhiệm vụ trọng tâm, Chương trình hành động đặt ra những trục công việc lớn: xây dựng đồng bộ thể chế phát triển, trọng tâm là hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách; xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; đẩy mạnh khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; phát triển nguồn lực con người, văn hóa, xã hội bền vững; tăng cường quốc phòng, an ninh, đối ngoại. Đây không phải là những nhóm việc rời rạc, mà là các trụ cột gắn kết giữa phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng Đảng, phát triển con người, bảo đảm quốc phòng, an ninh và hội nhập quốc tế.
Chỉ thị số 01-CT/TW ngày 23/01/2026 của Bộ Chính trị xác định việc tổ chức nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của năm 2026 và cả nhiệm kỳ; phải được thực hiện nghiêm túc, bài bản, khoa học, tạo chuyển biến rõ rệt về nhận thức, thống nhất ý chí và hành động trong toàn Đảng, sự đồng thuận của Nhân dân. Điều đó cho thấy học tập nghị quyết là khâu mở đầu, sau học tập phải có hành động, xây dựng chương trình, phân công cụ thể và kiểm tra kết quả thực hiện.
Theo đó, một địa phương có thể cụ thể hóa nghị quyết bằng cải cách hành chính, chuyển đổi số, phát triển hạ tầng, chăm lo sinh kế, bảo vệ môi trường, xây dựng đời sống văn hóa. Một doanh nghiệp có thể cụ thể hóa bằng đổi mới công nghệ, nâng cao năng suất, quản trị rủi ro, phát triển xanh, chăm lo người lao động, xây dựng văn hóa liêm chính. Một chi bộ có thể cụ thể hóa bằng nâng cao chất lượng sinh hoạt, giao việc cụ thể cho đảng viên, kiểm điểm kết quả hằng tháng, phát hiện và nhân rộng sáng kiến.
Đích đến là những chuyển động tích cực từ cơ sở
Với hệ thống nghị quyết chiến lược, Nghị quyết Đại hội XIV và Chương trình hành động, có thể thấy một mạch xuyên suốt: Đảng đã xác lập tầm nhìn, mục tiêu và phương thức tổ chức thực hiện cho giai đoạn phát triển mới;nhưng để tất cả thực sự “sống”, đích đến vẫn là cơ sở.
Cơ sở không chỉ là xã, phường, thôn, bản. Cơ sở còn là từng cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp, trường học, bệnh viện, ngân hàng, nhà máy, chi nhánh, phòng ban, chi bộ... Đó là nơi nghị quyết gặp những việc rất cụ thể: là một quy trình cần rút ngắn, là một dữ liệu cần làm sạch, là một dịch vụ công cần thuận tiện hơn, là một khoản vốn cần đến đúng nơi sản xuất, kinh doanh, là một biểu hiện lãng phí cần chấn chỉnh, là một buổi sinh hoạt chi bộ cần bàn việc thật; là một đảng viên cần nêu gương bằng hành động thật. Tất cả đều cần một lời giải từ chính quá trình đưa nghị quyết vào cuộc sống.
Thực tiễn đã chứng minh, nếu cơ sở không chuyển động, nghị quyết khó đi vào đời sống.; nếu chi bộ không cụ thể hóa, nghị quyết không “sống” được; nếu đảng viên không nêu gương, nghị quyết khó có sức thuyết phục; nếu người đứng đầu không quyết liệt, nhiệm vụ dễ trôi; nếu kiểm tra, giám sát không đến cùng, nghị quyết dễ bị hình thức hóa. Ngược lại, khi cơ sở chuyển động, nghị quyết sẽ có đường đi; khi đảng viên nêu gương, nghị quyết có sức thuyết phục; khi kết quả được đo bằng chuyển biến trong đời sống, nghị quyết mới thật sự trở thành niềm tin.
Trong hành trình đó, nghị quyết không “tự” đi vào cuộc sống, mà cần có sự vào cuộc đồng bộ của cấp ủy các cấp, sự nêu gương, tiên phong của đảng viên; đồng thời có nhân dân tham gia, giám sát, thụ hưởng và đồng hành.
(Còn nữa)
(*) Phó Bí thư thường trực Đảng ủy, Ủy viên HĐQT
Ngân hàng thương mại cổ phần Đầu tư và phát triển Việt Nam (BIDV)
Tác giả: TRẦN XUÂN HOÀNG (*)