Uông Bí, ngày 20 tháng 7 năm 2011.

Kính gửi: Ban biên tập Báo CCB Việt Nam.

Tên tôi là Trần Văn Sang, sinh ngày 8-6-1944, CMND số 100460291 do Công an Quảng Ninh cấp, thương binh 4/4 – nạn nhân chất độc da cam, HKTT tại tổ 1, khu 7, phường Thanh Sơn, TP Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh.

Tôi làm đơn này, gửi tới quý báo, mong sự quan tâm, giúp đỡ gia đình tôi vượt qua hoàn cảnh khốn khó hiện nay.

Mặc dù là thương binh, sức khoẻ yếu, mỗi khi thay đổi thời tiết, vết thương tái phát, rất đau đớn, song, thực hiện lời dạy của Bác Hồ “Thương binh tàn nhưng không phế”, tôi động viên con, cháu, trong gia đình, khai hoang từ năm 1976-1980, được 2997,3m2 đất làm nhà ở và nơi sản xuất ổn định, không tranh chấp với ai. Căn cứ vào điều 45, Nghị định 181/NĐ – CP, ngày 29-10-2004 của Chính phủ quy định: “trường hợp đất có vườn, ao trong cùng thửa có nhà ở, thuộc khu dân cư, được sử dụng trước ngày 18-12-1980, mà trong sổ địa chính, hoặc các giấy tờ về quyền sử dụng đất, quy định tại các khoản 1,2 và 5, điều 50 của Luật Đất đai đã có ghi nhận rõ ranh giới thửa đất, thì toàn bộ diện tích đất đó, được xác định là đất ở”, nên, mảnh đất tôi khai hoang đã trở thành đất thổ cư, của gia đình tôi. Năm 2004, khi các con, cháu tôi trưởng thành, xây dựng gia đình riêng, tôi chia đất cho các hộ con, cháu trong gia đình, gồm:

1/ Con trai Trần Văn Lịch: 576,6m2, thửa đất 41, tờ bản đồ 94; 2) Con gái Trần Thị Lan Anh: 103,4m2 , thửa đất 39, tờ bản đồ 94; 3) Con trai Trần Văn Trọng: 178,1m2, thửa đất 74, tờ bản đồ 94; 4) Con gái Trần Thị Ngân: 106,8m2 , thửa đất 75, tờ bản đồ 94; 5) Cháu Bùi Văn Thưa: 120m2, thửa đất 36, tờ bản đồ 94; 6) Cháu Vũ Thị Liệu: 332,8m2, thửa đất 38, tờ bản đồ 94; 7) Phần còn lại của vợ chồng tôi là: 1.915,6m2.

Sau khi chia tách, các hộ gia đình đã đăng ký và có tên trong sổ địa chính, sơ đồ giải thửa, có tài sản gắn liền và hộ khẩu gia đình riêng. Đối chiếu điều 50 của Luật Đất đai, thì từng hộ gia đình đã có đủ điều kiện để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Nhưng đến nay, chỉ phần đất của vợ chồng tôi, được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: 640m2, trong đó có 200m2 đất ở và 440m2 đất vườn tạp. Còn các hộ con, cháu tôi thì không được đền bù. Tôi không đồng ý với quyết định này của UBND thị xã Uông Bí (nay là TP Uông Bí) nên gia đình tôi đã nhiều lần làm đơn khiếu nại.

Gia đình tôi còn được HTX giao 1.032m2 đất nông nghiệp (theo khoán 10), đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Tổng diện tích gia đình tôi đang sử dụng là 4.029,3m2.

Ngày 21-10-2005, UBND tỉnh Quảng Ninh có Quyết định số 3958/QĐ – UB, V/v tạm giao cho Công ty CP cơ giới Thăng Long để thực hiện dự án xây dựng hạ tầng văn phòng và khu dân cư. Thời hạn tạm giao là 12 tháng, kể từ ngày 21-10-2005, khi quyết định có hiệu lực. Đối chiếu với điều 38, Luật Đất đai năm 2003, thì việc UBND tỉnh Quảng Ninh thu hồi đất của dân giao cho Công ty CP cơ giới Thăng Long xây dựng hạ tầng văn phòng và khu dân cư, chứ không phải thu hồi đất của gia đình tôi vì mục đích quốc gia, lợi ích công cộng. Nên việc UBND thị xã Uông Bí chỉ lập phương án đền bù 200m2 đất ở và 440m2 cho gia đình tôi, số đất còn lại, đền bù bằng 70% đất nông nghiệp, là không thỏa đáng, không có căn cứ pháp lý. Ngay từ khi nhận được phương án đền bù, gia đình tôi đã liên tục làm đơn khiếu nại, bởi, theo điều 87 của Luật Đất đai năm 2003, thì toàn bộ diện tich đất khai hoang có nhà cửa, vườn cây, ao cá của gia đình tôi, mặc nhiên, phải được coi là đất ở. Nhưng Hội đồng đền bù, giải phóng mặt bằng UBND thị xã Uông Bí, cố tình làm trái Luật Đất đai. Mảnh đất khai hoang, sau 30 năm sử dụng, thành nơi ở của 7 hộ gia đình ở giữa TP Uông Bí, mà họ vẫn xác định là “đất trồng cây lâu năm ở vùng trung du”. Bản chất của việc thu hồi đất của gia đình tôi và các hộ dân khác chỉ mang lại lợi ích cho một nhóm người trong Công ty CP cơ giới Thăng Long. Trong trường hợp này, pháp luật quy định: Doanh nghiệp phải thoả thuận với dân khi đền bù. Nhưng Hội đồng đền bù giải phóng mặt bằng, đã cố tình xác định sai loại đất, tước đi quyền lợi chính đáng tối thiểu của gia đình tôi. Mặt khác, mảnh đất thổ cư của gia đình tôi, đã phân chia cho 7 hộ gia đình, nên khi Trung tâm phát triển quỹ đất TP Uông Bí lập phương án đền bù hỗ trợ thì phải đền bù cả đất, cây cối, hoa màu, tài sản trên đất, hỗ trợ việc làm và bố trí tái định cư cho các hộ gia đình, theo đúng điều 18,19 đến 26,27,28, 29 và điều 33, 34 Nghị định 197/NQ-CP của Chính phủ. Nhưng đến nay, UBND TP Uông Bí vẫn chưa lập phương án đền bù, bố trí tái định cư cho 7 hộ gia đình chúng tôi theo đúng quy định của pháp luật. Việc làm không thỏa đáng ấy, đã đẩy gia đình tôi vào hoàn cảnh bần cùng, khốn khó, không công ăn, việc làm, không nơi cư trú…

Qua Báo CCB Việt Nam, tôi đề nghị UBND TP Uông Bí cần tổ chức đền bù, giải phóng mặt bằng phải đúng chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước, cụ thể: 2.997,2m2 của gia đình tôi phải được đền bù theo giá đất thổ cư, vì đất đã được khai hoang, làm nhà, làm VAC từ năm 1976 – 1980; đền bù, hỗ trợ, bố trí tái định cư cho cả 7 hộ gia đình tôi theo đúng quy định của pháp luật. Giá đền bù, hỗ trợ phải theo thời giá năm 2011 và Nghị định 69, Quyết định 449 và điều 56 của Luật Đất đai để gia đình tôi có điều kiện ổn định cuộc sống.

Xin trân trọng cảm ơn!

Kính đơn

TRẦN VĂN SANG