Báo CCB Việt Nam số 864, ra ngày 25-6-2011, trong bài “Âm vang của một bài báo”, có nhắc đến ông N là du kích xã Mễ Sở, huyện Văn Giang bị thương ngày 20-11-1953 do đạn pháo địch từ xa bắn đến. Ông N đi viện điều trị lành vết thương trở về, không được xã đội chứng nhận là thương binh vì ông bị thương trong trường hợp không làm nhiệm vụ chiến đấu hoặc trực tiếp phục vụ chiến đấu. Nhưng sau hơn 50 năm, bỗng có quyết định từ Sở LĐTBXH được hưởng chế độ ưu đãi như thương binh kể từ ngày 1-10-2004. Quyết định trên khiến nhiều người thắc mắc, nhất là với những cán bộ, chiến sĩ du kích kháng chiến ở xã Mễ Sở những năm 1953-1954.

Ông N có tên là Trần Khắc Nhu, sinh năm 1923, nguyên là du kích thôn Phú Thị, dưới quyền chỉ huy của Ban chỉ huy (BCH) Xã đội xã Mễ Sở. Năm 1953, xã Mễ Sở vẫn nằm trong vùng địch tạm chiếm. Đồng chí Xã đội trưởng xã Mễ Sở nay đã 90 tuổi, nhưng vẫn khỏe mạnh và minh mẫn, cho biết: “Ngày ấy mọi hoạt động kháng chiến của ta đều phải tuyệt đối bí mật. Riêng ngày 20-11-1953, địch càn quét xã Mễ Sở, không có trận chiến đấu nào xảy ra giữa ta và địch. Trường hợp ông Nhu bị thương không phải đang làm nhiệm vụ chiến đấu hay trực tiếp phục vụ chiến đấu, mà do đạn pháo địch bắn vu vơ từ bên kia sông Hồng sang. Vì thế suốt hơn 50 năm qua, tôi và các đồng chí trong BCH Xã đội không ai với danh nghĩa nhân chứng, ký giấy chứng nhận ông Nhu được hưởng chính sách như thương binh…”.

Vậy mà ngày 1-7-2003 (sau gần 50 năm), Chủ tịch UBND huyện Văn Giang Nguyễn Tri Phương đã ký Giấy chứng nhận số 12/CN-UB, ghi rõ: “Căn cứ bản khai và xác nhận của nhân chứng… ông Trần Khắc Nhu bị thương ngày 20-11-1953… tại Văn phòng UBHC xã Mễ Sở ở thôn Đồng Quê… trong khi làm nhiệm vụ chống càn và moi hầm lấy tài liệu!(?)”…

“Bản khai” được Chủ tịch UBND huyện Văn Giang “căn cứ” để ký giấy chứng nhận, hẳn phải là của ông Trần Khắc Nhu? Bản khai ấy liệu có đúng sự thật khi BCH Xã đội và các chiến sĩ du kích năm xưa đều kết luận tình hình ngày 20-11-1953, không hề có trận “chống càn” nào ở xã Mễ Sở như “bản khai” của ông Nhu; không ai ký giấy xác nhận vào “bản khai” đó! Qua tìm hiểu, hóa ra “nhân chứng” ký xác nhận vào “bản khai” lại là ông Chủ tịch UBND xã Mễ Sở, mà khi ông Trần Khắc Nhu bị thương, ông Chủ tịch UBND xã mới có… hai tuổi (sinh tháng 12-1951). Các ông chủ tịch hôm nay không thể hình dung Ủy ban HCKC xã lúc đó không thể có trụ sở công khai ngay trước mắt quân thù, để có “Văn phòng UBHC xã”, nơi ông Trần Khắc Nhu bị thương!...

Trong văn bản “Kết luận thanh tra” số 11/KLTT-LĐTBXH ngày 12-3-2009 do ông Đoàn Văn Hòa, Giám đốc Sở LĐTBXH tỉnh Hưng Yên ký, cũng chỉ căn cứ “Giấy chứng nhận bị thương số 12/CN-UB ngày 1-7-2003” do ông Chủ tịch UBND huyện Văn Giang ký “Biên bản giám định thương tật” của Hội đồng giám định y khoa tỉnh Hưng Yên xác định ông Trần Khắc Nhu bị thương cũng chỉ “căn cứ” Giấy chứng nhận bị thương do ông Chủ tịch UBND huyện Văn Giang ký. Từ đó Hội đồng GĐYK tỉnh Hưng Yên có Văn bản số 203/GĐYK-TT, ngày 5-10-2004, kết luận ông Trần Khắc Nhu có tỷ lệ thương tật 31%, xếp hạng thương binh hạng 4/4 vĩnh viễn. Ngày 22-11-2004, ông Giám đốc Đoàn Văn Hòa ký Quyết định số 602/QĐ-LĐTBXH cho ông Trần Khắc Nhu được giải quyết chế độ thương tật vĩnh viễn từ ngày 1-10-2004.

Nhưng có một “căn cứ” rất cơ bản, cấp nào cũng có lại không được dùng làm “căn cứ”. Đó là Văn bản hướng dẫn số 584/CS của Tổng cục Chính trị nhằm thực hiện Thông tư liên tịch số 16/1998/TTLT giữa Bộ LĐTBXH, Bộ Quốc phòng, Bộ Công an giải quyết những tồn đọng về chính sách sau chiến tranh. Theo đó quy định những người bị thương trong chiến đấu, trực tiếp phục vụ chiến đấu từ ngày 31-12-1994 về trước, có vết thương thực thể, nay không lưu được hồ sơ gốc, cần phải có thủ tục, hồ sơ xác nhận gồm:

1- Bản khai cá nhân kèm theo bản sao lý lịch, có xác nhận của Ban CHQS huyện.

2- Giấy xác nhận viết bằng tay của hai người làm chứng cùng đơn vị cũ (từ cấp tiểu đoàn hoặc tương đương trở xuống) với người bị thương, biết rõ trường hợp bị thương của người bị thương. Giấy xác nhận này phải được chính quyền địa phương nơi người làm chứng đang cư trú xác nhận cả về nội dung khai và chữ ký của người làm chứng.

3- Biên bản đề nghị xác nhận thương binh của Hội đồng xác nhận xã nơi người bị thương cư trú, gồm: Đại diện UBND chủ trì; đại diện Đảng ủy, Mặt trận Tổ quốc, Ban TBXH, Hội CCB, công an, xã đội, Hội Người cao tuổi… Biên bản nhất thiết phải niêm yết công khai sau 15 ngày, nếu không có khiếu nại, tố cáo mới chuyển toàn bộ hồ sơ lên cơ quan cấp trên xem xét…

Văn bản hướng dẫn còn quy định không xem xét, giải quyết những trường hợp bị thương trong kháng chiến chống Pháp còn tồn đọng, mà người bị thương không tiếp tục đi làm nhiệm vụ ở các chiến trường B,C,K,.

Liên hệ với trường hợp ông Trần Khắc Nhu ở xã Mễ Sở, rõ ràng đã không đủ thủ tục hồ sơ xác nhận theo quy định. Văn bản hồ sơ từ xã gửi lên huyện, chỉ có “bản khai và xác nhận của nhân chứng” mà “nhân chứng” lại không phải là người cùng đơn vị chiến đấu với người bị thương? Trong khi đó các cán bộ, chiến sĩ du kích xã Mễ Sở năm 1953 còn khá đông, sống khỏe mạnh ngay trong xã, không phải tìm ở đâu xa, sao không có giấy xác nhận? Còn khá nhiều câu hỏi, còn nhiều điều khuất tất cần được trả lời rõ ràng. Trước hết phải do bản thân ông Trần Khắc Nhu có phải là người đã viết bản khai không đúng sự thật? Sau đó đến chính quyền xã Mễ Sở, huyện Văn Giang và cơ quan chức năng tỉnh Hưng Yên thời điểm năm 2003 trả lời!

N. Thị Phú