Bà Nghiêm có cha là ông Lê Văn Mô, tham gia cách mạng thời chống Pháp, chống Mỹ, hy sinh năm 1964, được Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hòa tặng thưởng Huân chương Chiến thắng hạng ba.

Gia đình bà Nghiêm có 22 nhân khẩu, sống trên diện tích đất 8.211m2, đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (QSDĐ) số 23/QSDĐ ngày 27-8-1992 do ông Lê Văn Bé (con trai ông Mô), chồng bà Nghiêm đứng tên sử dụng đất. Năm 1999, bà Nghiêm đăng ký nhà, đất 1.741m2, trong đó có 20 ngôi mộ của gia đình bà và UBND P.13 xác nhận không có ai tranh chấp. Năm 2007, Công ty cổ phần địa ốc Sài Gòn (CTCPĐOSG) san lấp khoảng 200m2 mặt bằng phần biền, rạch; gia đình bà không đồng ý và gửi đơn khiếu nại; CTCPĐOSG chấp nhận hỗ trợ 300.000 đ/m2, bà không đồng ý và yêu cầu hỗ trợ 500.000 đồng/m2.

Ngày 29-1-2010, UBND Q.BT ban hành Quyết định số 1.125/QĐ- UBND căn cứ theo Nghị định số 22/1998/NĐ-CP của Chính phủ về đền bù thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng để bồi thường. Theo chúng tôi là chưa phù hợp pháp luật. Vì tại thời điểm triển khai phương án bồi thường, Nghị định số 22 của Chính phủ đã hết hiệu lực. Tại khoản 4, điều 39 Nghị định số 69/2009/NĐ-CP ngày 13-8-2009 của Chính phủ quy định bổ sung về quy hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư quy định trường hợp thực hiện bồi thường chậm thì giá đất để thực hiện bồi thường, hỗ trợ thực hiện theo khoản 2 điều 9 Nghị định số 197/2004/NĐ-CP ngày 3-12-2004 của Chính phủ về bồi thường, hỗ trợ tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất. Cụ thể: “Trường hợp chậm thực hiện bồi thường do cơ quan, tổ chức có trách nhiệm bồi thường gây ra mà giá đất tại thời điểm bồi thường do UBND cấp tỉnh công bố cao hơn giá đất tại thời điểm có quyết định thu hồi thì bồi thường theo giá đất tại thời điểm trả tiền bồi thường”. Do vậy việc tính giá đất để bồi thường cho gia đình bà Nghiêm phải theo giá đất tại thời điểm bồi thường.

Ngày 24-4-2010, UBND Q.BT lại ban hành tiếp Quyết định số 3663/QĐ-UBND điều chỉnh bổ sung Quyết định số 1125. Cả hai quyết định này đều không có chữ ký của Chủ tịch và con dấu của UBND quận. Nội dung quyết định: Bồi thường hỗ trợ phần đất và nhà với diện tích 1.008m2 tại địa chỉ 446/72 Nơ Trang Long, P.13, Q.BT được nhận 5 nền nhà tái định cư có diện tích 327,5m2 và hơn 1,2 tỷ đồng. CTCPĐOSG gửi bảng chiết tính giải tỏa thêm 813m2 và bồi thường hơn 533 triệu đồng. Tổng số đất bị giải tỏa là 1.821m2 trong tổng số đất hiện trạng là 2.261,90m2 như vậy còn chênh lệch 440,9m2 chưa bồi thường thiệt hại. Tại điều 47 Nghị định số 84/2007 ngày 25-5-2007 của Chính phủ về quy định bổ sung cấp Giấy CNQSDĐ, thu hồi đất quy định: “Nếu diện tích đo đạc thực tế nhiều hơn diện tích ghi trên giấy tờ về QSDĐ đất do việc đo đạc trước đây thiếu chính xác hoặc do khi kê khai đăng ký trước đây người sử dụng đất không kê khai hết diện tích đất nhưng toàn bộ ranh giới thửa đất đã được xác định không có tranh chấp với những người sử dụng đất liền kề, không do lấn chiếm thì bồi thường theo diện tích đo đạc thực tế”. Do vậy, theo chúng tôi, gia đình bà Nghiêm có quyền yêu cầu chủ dự án phải đền bù theo diện tích đo đạc thực tế. Tuy nhiên, ngày 11-6-2010, UBND Q.BT ban hành Quyết định số 4068/QĐ-UBND cưỡng chế thi hành Quyết định số 1125 và gia đình bà Nghiêm đã bị cưỡng chế giải tỏa toàn bộ vào ngày 14-4-2011.

Tại khoản 2, điều 40 Luật Đất đai ngày 10-12-2003 của Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam quy định: “Đối với dự án sản xuất, kinh doanh phù hợp với quy hoạch sử dụng đất đã được xét duyệt thì nhà đầu tư được nhận chuyển nhượng thuê QSDĐ, nhận góp vốn bằng QSDĐ của các tổ chức kinh tế, hộ gia đình, cá nhân mà không phải thực hiện thủ tục thu hồi đất”.

Theo chúng tôi, hai quyết định số 1125 và 3663 không có chữ ký của Chủ tịch quận, không có con dấu của UBND quận là không có giá trị pháp lý; chưa ban hành quyết định giải quyết khiếu nại, chỉ có công văn trả lời đơn công dân nhưng đã ban hành quyết định cưỡng chế là không đúng quy định của pháp luật. Dư luận cho rằng, đây chỉ là dự án sản xuất kinh doanh của CTCPĐOSG và Công ty cổ phần xây dựng kinh doanh nhà Đại Phúc mà UBND Q.BT ban hành quyết định bồi thường hỗ trợ, quyết định cưỡng chế và đã tổ chức cưỡng chế là không phù hợp với khoản 2, điều 40 Luật Đất đai như đã nêu trên. Ngày 6-6-2011, UBND Q.BT ban hành Công văn số 953/UBND – BTGPMB báo cáo kết quả giải quyết đơn khiếu nại của bà Nghiêm thừa nhận (nguyên văn): “… Nội dung đề nghị nêu trên của bà Nghiêm chỉ phù hợp đối với ranh thu hồi đất của dự án khu nhà ở 4,02 ha do Công ty CPXDKDN Đại phúc chủ đầu tư… UBND Q.BT sẽ ban hành Quyết định thu hồi hủy bỏ đối với Quyết định 1126/QĐ-UBND ngày 29-1-2010 của UBND Q.BT về việc bồi thường, hỗ trợ và giải phóng mặt bằng đối với phần đất và nhà số 446/72 NTL, P.13, Q.BT của bà Trần Thị Nghiêm và các đồng thừa kế…”.

Bà Nghiêm bức xúc: “UBND Q.BT “sẽ” ban hành Quyết định thu hồi, hủy bỏ đối với Quyết định số 1126 là quyết định nào? Có phải Quyết định số 1125? Hay chỉ là sự chơi chữ nhằm tráo trở, lật lọng? Còn đúng là Quyết định số 1125 thì “sẽ” ban hành quyết định thu hồi, huỷ bỏ là thời điểm nào, phương án giải quyết cụ thể ra sao? Hay là đại gia đình của tôi cứ phải thấp thỏm nay ngóng, mai trông, không biết đến bao giờ mới ổn định được cuộc sống?

Gia đình bà Nghiêm là gia đình chính sách, đất của cha, ông để lại sử dụng ổn định, có mồ mả gia tộc, có nhiều hộ con cháu cùng cư ngụ, gia đình cũng có thiện chí trong quá trình thương lượng. Tuy nhiên, UBND Q.BT chưa giải quyết thỏa đáng đã tiến hành cưỡng chế, gây bức xúc kéo dài, ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền, lợi ích hợp pháp của người dân. Chúng tôi kiến nghị UBND Q.BT sớm xem xét giải quyết yêu cầu của gia đình bà Nghiêm theo đúng trình tự, thủ tục, quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo và theo quy định pháp luật về đất đai, nhằm giữ nghiêm kỷ cương phép nước, đem lại lòng tin của người dân vào sự lãnh đạo của Đảng và chính quyền địa phương.

THANH HOA