***Như số báo thứ năm, ra ngày 22-10-2009, chúng tôi đã đăng tải tóm lược đơn thư của bà Đào Thị Minh, công nhân đội 4 Nông trường Sông Đà, gọi tắt là NT) phản ánh về việc bà xin nghỉ chế độ nhưng NT chưa giải quyết vì cho rằng bà nợ sản phẩm từ những năm1989 - 1990 đến nay. ***

*** xml:namespace??***

**Cách hiểu trái ngược nhau **

Cùng một sự việc nhưng những người trong cuộc ở NT Sông Đà và bà Đào Thị Minh (ảnh) đã có hai cách hiểu, hai cách lý giải khác nhau. Nhưng theo tìm hiểu của PV Báo CCB Việt Nam, thì vụ việc này đã có nhiều cơ quan chức năng của Hà Tây (cũ) và NT giải quyết nhưng, bà Minh vẫn khiếu nại. Nội dung khiếu nại, bà Minh cho rằng, đáng lẽ số tiền công chăm sóc trồng dứa năm 1989 là 292.986 đồng và năm 1990 là 95.250 đồng NT phải trả cho bà; nhưng NT lại “biến tấu” thành khoản cho bà vay để đầu tư trồng dứa cộng với khoản tiền phạt do trồng dứa kém năng suất là 95.249 đồng thành khoản bà phải nợ. Bà Minh cho biết, vì năm 1989 có lúc bà giúp cho kế toán đội 4 làm sổ sách nên bà phát hiện ra khoản tiền “mập mờ” giữa cho vay và tiền công cũng như khoản tiền 300.000 đồng NT gọi là khoản tiền nộp BHXH, tiền chi phi quản lý. Và, chính vì những khoản tiền “mập mờ” này bà đã nhiều lần đòi quyền lợi NT và không kí vào bản thanh quyết toán cuối năm. Sự việc kéo dài, nhùng nhằng cho tới 10 năm sau NT mới đưa ra giải quyết.

Theo buổi làm việc với PV ngày 22-10-2009, lãnh đạo NT là ông Nguyễn Đình Quang và PGĐ Nguyễn Thị Thơm cho rằng, tại bảng quyết toán năm 1989 bà Minh không kí nhận nhưng kí nhận trong bảng lương của bà Vũ Thị Minh là kế toán đội 4 lúc đó. Bà Minh đã kí nhận số tiền 17.794 đồng. Ông Quang cho rằng, nghĩa là lúc đó bà Minh đã kí nhận số tiền được vay thể hiện trong bảng thanh quyết toán cuối năm. Và cả năm 1989 bà Minh được lĩnh về bấy nhiêu sau khi đã khấu trừ lùi các khoản được vay, được ứng vật tư. Số tiền vay là để trang trải cuộc sống?

Bà Đào Thị Minh cho rằng, khoản tiền NT nói là cho bà vay 292.986 đồng và 95.250 đồng là số tiền bà chưa bao giờ nhìn thấy, không được lĩnh thực tế. Còn khoản tiền phạt 95.249 đồng do diện tích được giao khoán 0,3 ha trồng dứa kém năng suất, bà không chấp nhận. Bà Minh bức xúc: Thực ra, sau 10 năm NT mới đưa ra giải quyết, đây chỉ là “bài” NT “khéo” vận dụng để quy chụp cho bà thành phải nợ, hòng “chặn họng” bà không phát tán thông tin ra ngoài. Tại sao nếu tôi nợ mà các năm sau NT vẫn cứ tiếp tục cho tôi vay các khoản vật tư và ứng lương đều đặn để sản xuất trên diện tích được giao?

**Chứng từ, văn bản “đá nhau” **

Theo các biên bản làm việc, từ năm 1994 lại đây, bà Minh không nợ NT nhưng những khoản cho vay, tạm ứng và được nhận hàng năm qua diễn giải rất “mập mờ”.Tại bản thanh quyết toán năm 1989 không một ai kí nhận, năm 1990 người thì kí, người thì không?

Khoản phần giao nộp sản phẩm năm 1989 thể hiện ở 3 mục: tiền dứa nộp, sắn nộp và tiền “trồng dứa mới”(0,3 ha = 292.86 đồng)... Cộng các khoản này, năm 1989 bà Minh có 921.214 đồng. Tại phần diễn giải ứng vật tư, tạm ứng lương, trả tiền thuế đất, nộp tiền BHXH, bà Minh phải chịu 903.420 đồng. Vì thế, theo lý giải của NT, năm 1989 bà Minh nhận còn lĩnh về 17.974 đồng. Nhưng cũng với cách tính này thì năm 1990 số nợ của bà Minh còn cao nữa vì năm này sản phẩm giao nộp không có, chỉ có mỗi khoản tiền “chăm sóc dứa” 95.250 đồng. Trong khi đó, các khoản ứng vật tư, tiền phải nộp khác lên tới 307.430 đồng. Sau khi cân đối số nợ năm 1990, bà Minh còn nợ 212.180 đồng. Nếu NT cho rằng bà Minh nợ cả khoản cho vay đầu tư như NT nói là 292.986 đồng + 95250 đồng và khoản tiền phạt 95.249 đồng, thì số tiền nợ rất lớn, không phải là 483.484 đồng như ông Quang nói với PV.

Điều đáng nói, tại các văn bản giải quyết công nợ với bà Đào Thị Minh, những con số cũng không thống nhất. Bà Vũ Thị Minh, nguyên kế toán đội 4 cho rằng, làm sổ sách kế toán dù lệch một đồng cũng là không đúng. Tuy nhiên, các biên bản làm việc với bà Đào Thị Minh lúc thì NT nói khoản nợ là năm 1990-1991, khi thì nói khoản nợ là năm 1989-1990? Số tiền nói là nợ cũng “lung tung”: Tại biên bản ngày 9-4-2002, nói khoản nợ vay đầu tư năm 1990 – 1991 là 484.454 đồng quy ra dứa quả (173 đồng/kg), phải trả là 2.795,5kg dứa. Nhưng tại thông báo kết quả thẩm tra xác minh của thanh tra Sở NN-PTNT, Hà Tây(cũ) đưa ra con số sau khi cân đối thu chi năm 1989 – 1990, bà Minh còn nợ NT là 2.091,3kg dứa?

Tại phần diễn giải công nợ lập ngày 5-12-2006, tổng vay 2 năm 1989 – 1990 đầu tư trồng dứa lại lên con số 483.545 đồng?

Có điều bất bình thường nữa, theo như NT diễn giải khoản tiền 483.484 đồng NT gọi là khoản cho vay đầu tư trồng dứa 2 năm, bà Minh không được vay vật tư quá số tiền trên. Nhưng trong bảng diễn giải thanh quyết toán cuối năm vẫn kê những khoản tiền vật tư vay, tiền lương tạm ứng và cả số tiền gọi là cho vay đầu tư trên. Bà Minh cho rằng đáng lẽ số tiền 292.986 đồng và 95.250 đồng của năm 1989 và 1990 là tiền công bà trồng và chăm sóc dứa được hưởng; nhưng lại bị NT quy thành khoản cho vay đầu tư thì tôi thành ngưòi bị “nợ trên nợ” triền miên. Và 2 năm đó thành đi làm không công mà vẫn bị nợ!

Theo điều tra của PV, những năm 1989, 1990 số người nợ NT chiếm đại đa số theo như “cách làm” của NT. Vì thế, tại bảng phát lương quyết toán năm 1989 của đội 4, chỉ có 2.364 người được lĩnh tiền về và những năm sau danh sách số người nợ càng dài hơn. Vậy, cách mà NT áp dụng thực hiện từ sản xuất tập trung sang “giao khoán quản – lời ăn lỗ chịu” thực hiện từ năm 1989 có phải là cách “rút tiền” người lao động, mà bà Minh đã phát hiện ra, trong khi NT thuộc diện nông trường quốc doanh?

*LTS: Chúng tôi sẽ tiếp tục thông tin thêm về vụ việc trên các số báo tới. *

DOANH CHÍNH